Dịch vụ ngân hàng hiện đại tại Việt Nam
TCKT cập nhật: 01/06/2006
1. Những yếu tố tác động
° Mức độ phát triển kinh tế xã hội (thu nhập bình quân đầu người, dân số
…)
° Cơ sở pháp lý (các luật, văn bản dưới luật) về thương mại điện tử còn
thiếu, một số luật hiện hành có những qui định chưa phù hợp với điều
kiện ứng dụng công nghệ mới theo phương thức tự động hoá đang là
những khó khăn bức xúc đói với hoạt động ngân hàng hiện nay.
° Cơ sở hạ tầng công nghệ (hạ tầng công nghệ quóc gia, trong các ngân hàng, các doanh nghiệp và
tổ chức kinh tế). Những năm gần đây mạng truyền thông quốc gia được đầu tư trang bị, nâng cấp lên
rất nhiều. Tuy nhiên, hệ thống kênh truyền số liệu chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, chưa thành
hệ thống mạng quốc gia mà đang trong tình trạng ai cần thì đầu tư, gây không ít khó khăn cho phát
triển nhanh ứng dụng công nghệ thông tin. Sự phát triển công nghệ thông tin không đồng đều giữa
các cơ quan, các tổ chức kinh tế xã hội, giữa các vùng kinh tế cũng là những khó khăn cho mở rộng
các dịch vụ ngân hàng nói riêng và hiện đại hoá ngân hàng nói riêng.
° Tổ chức mạng lưới dịch vụ của các ngân hàng. Do qui mô và tính chất hoạt động của mỗi ngân
hàng rất khác nhau, nên mỗi ngân hàng tổ chức mạng lưới riêng của mình. Có ngân hàng chỉ tổ chức
với 4-5 chi nhánh ở vùng kinh tế phát triển, ngược lại có ngân hàng tổ chức mạng lưới chi nhánh
khắp cả nước với hàng ngàn chi nhánh lớn nhỏ. Do vậy, mức độ sử dụng vốn đầu tư và mức độ
trang bị kỹ thuật cũng rất khác nhau. Có ngân hàng đã tập trung hoá tài khoản toàn hệ thống, giao
dịch theo phương thức online nhưng có ngân hàng vẫn thực hiện theo giải pháp phân tán. Công nghệ
được áp dụng cũng rất khác nhau nhiều ngân hàng đã áp dụng công nghệ hiện đại như hệ điều hành
UNIX, cơ sở dữ liệu thế hệ 4, nhưng nhiều ngân hàng đang phải dùng các sản phẩm phần mềm viết
bằng Foxpro…
° Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng và quyết định cho mọi thành công. Trong hệ thống ngân hàng
Việt nam nguồn nhân lực cho công nghệ thông tin của các ngân hàng cũng rất khác nhau kể cả về số
lượng và chất lượng cán bộ, kỹ sư. việc tuyển dụngvà đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ sư tin học chuyên
nghiệp cho ngân hàng là một vấn đề khó khăn, tuyển vào đã khó, dữ được người làm việc càng khó
hơn. Mặt khác đối với cán bộ nghiệp vụ ngân hàng cũng cần thương xuyên được nâng cao trình độ
về mọi mặt mới theo kịp được trình độ phát triển của công nghệ. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng mà
- Tài khoản cá nhân đã mở tại các ngân hàng là 6.201 nghìn tài khoản. trong đó:
+ ngân hàng thương mại quốc doanh có: 5.399 nghìn tài khoản
+ ngân hàng thương mại cổ phần có: 742 nghìn tài khoản
+ các ngân hàng còn lại: 59 nghìn tài khoản. Đi đôi với việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng khách
hàng tư nhân của các ngân hàng thương mại cũng đã quan tâm tới việc mở và sử dụng tài khoản tư
nhân, trước hết là cho dịch vụ ATM.
- Số lượng thẻ thanh toán: Thẻ phát hành nội địa tính đến 30.5.2005 có 1.103 nghìn chiếc; dự kiến
đến tháng 12.2005 phát hành thêm 1.576 nghìn chiếc; ước tính từ 2006 đến 2010 sẽ phát hành thêm
12.117 chiếc. Thẻ quốc tế đã phát hành 122 nghìn thẻ; dự tính đến tháng 12.2005 phát hành thêm 62
nghìn thẻ; ước tính từ 2006 đến 2010 phát hành thêm 2.197 thẻ. Qua số liệu thống kê cho thấy mức
độ tăng trưởng thẻ trong nước nhanh hơn thẻ quốc tế. Từ cuối năm 2004 đến đầu năm 2005 số lượng
phát hành thẻ trong nước tăng đột biến. Đối tượng dùng thẻ chủ yếu là sinh viên và công nhân làm
việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất.
- Tương ứng với việc phát hành và sử dụng thẻ thanh toán trong ngân hàng giá trị giao dịch bằng thẻ
cũng tăng lên đáng kể. Theo số liệu thống kê số tiền giao dịch bằng thẻ đang tăng lên. Cụ thể, thẻ
nội địa: Tổng số thanh toán tính đến 30.4.2005 đạt 11.480 tỷ đồng. Trong đó thanh toán bằng tiền
mặt chủ yếu rút từ máy ATM là 10.459 tỷ đồng; chuyển khoản 972 tỷ đồng; các dịch vụ khác 49 tỷ
đồng. Tổng doanh số thanh toán quốc tế đạt 1.597 tỷ đồng; trong đó tiền mặt là 1.527 tỷ đồng,
chuyển khoản 72 tỷ đồng, không có các dịch vụ khác. Qua số liệu thống kê cho thấy doanh số thanh
toán bằng thẻ tương đối lớn. Tuy nhiên chủ yếu thanh toán trong nước và bằng tiền mặt. Thanh toán
nước ngoài và chuyển khoản còn rất hạn chế. - Thanh toán điện tử liên ngân hàng tăng trưởng rất
nhanh, nếu năm 2002 khi hệ thống mới đưa vào hoạt động, mỗi ngày hệ thống chỉ giao dịch khoảng
từ 2.000 đến 4.000 món. Nhưng đến nay đã tăng lên gấp bội, bình quân 10.000-18.000 giao dịch
/ngày. Đặc biệt so với thiết kế hệ thống đã chịu tải tăng gấp 7 lần. Thiết kế ban đầu dự kiến chỉ có 7
ngân hàng thương mại tham gia, nay đã lên tới 54 ngân hàng; dự kiến 100 -150 chi nhánh được kết
nối nay đã có tới 215 chi nhánh đã kết nối. Một số Thành phố hệ thống đã quá tải như TP.HCM và
Hà Nội.
3. Dự báo tốc độ tăng trưởng
- Số món giao dịch tăng: 31% năm
- Doanh số thanh toán (tiền) tăng: 24% năm
(3). Đảm bảo, nhanh chóng, an toàn, chính xác trong các giao dịch. Thực hiện giao dịch online nên
xử lý số liệu đảm bảo tuyệt đối an toàn chính xác.
(4). Cập nhật thông tin quản lý điều hành và hoạt động kinh doanh. Hệ thống thông tin đầy đủ, chính
xác và cập nhật vào bất cứ thời điểm nào là một thế mạnh mà trước đây không có được. Chính có
thông tin nhạy bén chính xác mà công tác quản lý ngân hàng tốt hơn, kinh doanh hiệu quả cao hơn
rất nhiều so với trước đây.
(5). Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ ngân hàng. Ứng dụng công nghệ mới bắt buộc phải từng
bước nâng cao trình độ cán bộ ngân hàng. Đây là yếu tố then chốt, quyết định thành bại của mỗi
ngân hàng, nếu không được quan tâm đúng mức sẽ rât khó khăn trong hoạt động và trụ vững trong
cạnh tranh.
(6). Góp phần đổi mới kinh tế đất nước. Nhờ hiện đại hoá ngân hàng, đặc biệt là hiện đại hoá hệ
thống thanh toán mà giải quyết một cách căn bản tình trạng ứ đọng vốn, không còn tình trạng vốn
trôi nổi trên đường đi do thanh toán ách tắc trước đây. Chấm dứt tình trạng khan hiếm tiền mặt giả
tạo thời kỳ những năm 80 đầu những năm 90 do ách tắc trong thanh toán. Vòng quay vốn trong toàn
xã hội tăng lên, góp phần cho việc sử dụng vốn có hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp và các tổ chức, cá nhân kinh doanh khác.
(Trích Báo cáo Chặng đường đổi mới –Hiện đại hoá ngân hàng VN , TS. Tạ Quang Tiến, Cục
trưởng Cục công nghệ tin học ngân hàng – Ngân hàng Nhà nước VN).
Bao thanh toán: Dịch vụ tiện ích ngân hàng cung cấp cho doanh nghiệp bán
hàng
TCKT cập nhật: 01/06/2006
“Bao thanh toán” (factoring), một khái niệm còn lạ lẫm với nhiều doanh
nghiệp (DN) VN, nhưng lại là dịch vụ không thể thiếu với DN nước ngoài khi
bán hàng. Đây cũng là một dịch vụ mà các NH, các tổ chức tài chính (TCTC)
của VN cần mở rộng trong qúa trình hội nhập với nền tài chính quốc tế.
1. Khái niệm bao thanh toán
Nói một cách nôm na, bao thanh toán là việc NH , TCTC tạm ứng trước một
khoản tiền và thu nợ hộ người bán, thông qua hợp đồng BTT với một khoản phí. Các DN khi bán
hàng trả chậm cho khách hàng (đặc biệt là bán hàng cho nước ngoài), nếu sợ rủi ro trong việc thu
tiền trả chậm (trường hợp người mua không thanh toán cho người bán) thì sẽ yêu cầu ngân hàng
dài thời gian thanh toán nếu thanh toán theo phương thức trả sau. Vì thế, dịch vụ BTT xuất khẩu ra
đời sẽ giúp DN giải quyết được những khó khăn này.
- Đa phần các DN vừa và nhỏ rất thích dịch vụ BTT, bởi thông thường những DN này có tổng tài
sản không lớn nên rất khó để NH xem xét các hạn mức tín dụng. Với BTT họ dễ dàng được cấp hạn
mức tín dụng hơn.
- Các DN khi đã biết về dịch vụ bao thanh toán thường rất thích sử dụng vì BTT có nhiều hình thức
khác nhau, rất đa dạng để phục vụ cho các DN. Các DN có thể sử dụng các hình thức như : BTT
chiết khấu hóa đơn, BTT trung gian, BTT đến hạn, BTT thu hộ, BTT truy đòi, BTT miễn truy đòi.
- Phạm vị hoạt động BTT cũng rất đa dạng : Về địa lý thì có BTT trong nước và BTT quốc tế; Trong
hoạt động xuất nhập khẩu thì có BTT xuất khẩu và BTT nhập khẩu; Có BTT số lượng hóa đơn của
người bán hoặc BTT toàn bộ hay BTT một phần; Có BTT kín và BTT công khai Khách hàng có
thể sử dụng BTT trực tiếp và BTT hệ hai đại lý, hay khách hàng cũng có thể sử dụng liên kết của
các hợp đồng BTT với BTT giáp lưng. Phương thức BTT từng lần hoặc BTT theo hạn mức.
° Về phía NH
- Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ phục vụ khách hàng
- So với việc cấp hạn mức tín dụng,NH thích làm dịch vụ BTT hơn. Vì nếu cấp vốn lưu động cho
DN, NH phải giám sát rất vất vả, trong khi với BTT các khoản phải thu rất rõ, việc sử dụng cũng đã
rõ, các DN đã chứng minh với NH về uy tín trên thị trường khi đã bán được hàng.
Có thể nói , bao thanh toán là loại dịch vụ cả hai bên cùng có lợi. Nhưng DN có lợi hơn NH. Khi
cung cấp dịch vụ này NH phải gánh chịu về mình những rủi ro khi người mua mất khả năng thanh
toán. Do vậy, NH phục vụ người bán, nhà xuất khẩu, nếu không chắc chắn về khả năng tài chính của
người mua thường hay tư vấn cho khách hàng của mình tới NH phục vụ người mua, nhà nhập khẩu
yêu cầu dịch vụ bao thanh toán. Những NH thực hiện dịch vụ BTT cần tính toán kỹ lưỡng đối với
những mặt hàng nhiều rủi ro như nông sản, thực phẩm…
4. Thực trạng dịch vụ BTT ở nước ta
Dịch vụ BTT đã được sử dụng từ lâu tại nhiều nước phát triển trên thế giới. Hiện nay thế giới có một
hiệp hội Bao thanh toán quốc tế (FCI ) có 204 thành viên ở các nước trên thế giới (chiếm hơn 50%
doanh thu BTT quốc tế trên thế giới), trong đó VN có 4 NH đã gia nhập FCI là NH Ngoại thương
VN (VCB), NH TMCP Á Châu (ACB), NH TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) và NH
TMCP kỹ thương (Techcombank). BTT là phương thức thanh toán thuận lợi hơn so với phương
- NHNN nghiên cứu quy chế thành lập các công ty BBT độc lập.
(Theo TCKTPT)
Phát triển hoạt động dịch vụ ngân hàng trên địa bàn
TP.HCM
TCKT cập nhật: 01/06/2006
(Bài viết có 2 trang. Bạn đang xem trang 1)Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện đang là xu hướng phát
triển tất yếu của thời đại và là yêu cầu khách quan đối với quá trình
phát triển kinh tế xã hội của một nước. Toàn cầu hóa và hội nhập kinh
tế quốc tế diễn ra trên nhiều lĩnh vực như : trao đổi hàng hóa, dịch vụ,
chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia và khu vực, lưu chuyển vốn
quốc tế,… tạo điều kiện cho các quốc gia có thể hợp tác, trao đổi kinh
nghiệm, kỹ thuật công nghệ,… trong hoạt động kinh doanh.
Bên cạnh đó, nó cũng làm cho quá trình cạnh tranh ngày càng gay gắt và
sâu sắt hơn, tạo điều kiện cho hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM)
được mạnh hơn, hoạt động kinh doanh có hiệu quả và lành mạnh hơn, tạo thuận lợi cho phát triển và
tăng trưởng nền kinh tế. Trong lĩnh vực ngân hàng, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo ra động lực thúc
đẩy công cuộc đổi mới của hệ thống ngân hàng VN, tạo điều kiện trao đổi kinh nghiệm về vốn, kinh
nghiệm quản lý, công nghệ, hoạch định chính sách tiền tệ,… Từ đó có giải pháp phòng ngừa hoặc
giảm thiểu rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao uy tín kinh doanh trên thị trường tài chính
quốc tế .
Trong xu thế đó, VN đã có những chủ động và đang từng bước tham gia vào quá trình hội nhập quốc
tế. Sau gần 20 năm thực hiện mở cửa tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế đã
đạt một số thành tựu đáng khích lệ, tốc độ phát triển kinh tế khá cao và ổn định, kiểm soát được lạm
phát, đời sống vật chất của người dân khá ổn định. Trong lĩnh vực ngân hàng, với chức năng và vai trò
là kênh huy động và cung ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế, các NHTM đã không ngừng mở rộng quy
mô hoạt động và đối tượng khách hàng thông qua các quan hệ tín dụng tiền tệ và phát triển các hoạt
động dịch vụ ngân hàng khác .
vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, cho vay trả góp,… Chúng ta có thể thấy mức tăng trưởng tín dụng
qua bảng số liệu sau:
Bảng 2 : Mức tăng trưởng tín dụng của hệ thống NHTM trên địa bàN TP.HCM
Đơn vị tính: tỷ đồng
2000 2001 2002 2003 2004
Dư nợ
cho
vay
52,194 56,189 74,244 101,006 136,621
% so
với
năm
trước
20.14% 7.65% 32.13% 36.05% 35.26%
Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước TP.HCM 2000-2004
Qua bảng 2 cho thấy tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống NHTM trên địa bàn TP.HCM nhìn
chung tăng đều qua các năm. Tính đến 31.12.2004 tổng dư nợ cho vay toàn hệ thống NHTM trên địa
bàn là 136.621 tỷ VNĐ, tăng 35,26% so với năm 2003, đã cung ứng một lượng vốn khá lớn cho nền
kinh tế nói chung và góp phần vào việc phát triển kinh tế xã hội của TP.HCM nói riêng:
- Tổng sản phẩm nội địa (GDP) tăng 11,6% so với năm 2003, là mức tăng cao nhất từ năm 1998 .
- Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 15,1% so với năm 2003.
- Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản đạt mức tăng xấp xỉ năm 2003.
- Giá trị các ngành dịch vụ tăng 11,1% so với năm 2003.
- Tổng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn tăng 33,6%.
- Tổng vốn đầu tư phát triển đạt 42.996 tỷ, tăng 2,4% so với kế hoạch và tăng 15,6% so với năm
2003.
Có thể nói thời gian qua hệ thống ngân hàng VN đã có những cải thiện đáng kể về năng lực thể chế,
tài chính, công nghệ, quản trị điều hành, cơ cấu tổ chức và mạng lưới kênh phân phối góp phần vào sự
cung ứng vốn cho nền kinh tế phát triển. Trong đó, hệ thống dịch vụ ngân hàng là một trong những
hoạt động dịch vụ quan trọng có thể cung ứng lượng vốn lớn cho nền kinh tế cũng như nhiều tiện ích
+ Chi 3.672 2.937 3.780 5.340
- Kiều hối 829 1.057 1.690 1.891
- Thu đổi ngoại tệ 906 1.283 1.324 1.537
Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước TP.Hồ Chí Minh 2001-2004
1.1. Dịch vụ huy động vốn: Các NHTM đã có nhiều hình thức huy động vốn đa dạng và phong phú,
với nhiều tiện ích như: Gửi 1 nơi rút nhiều nơi, lãi suất linh hoạt và hấp dẫn, chuyển khoản dễ dàng,
thủ tục nhanh gọn, thuận tiện,… thu hút ngày càng khách hàng và người dân đến gửi tiền. Năm 2004
huy động vốn của các NHTM trên địa bàn đạt 150.337 tỷ đồng, tăng 31,2% so với năm 2003 và tăng
129% so với năm 2001 .
1.2. Dịch vụ tín dụng: Các NHTM, tổ chức tín dụng (TCTD) ngày càng phát triển với nhiều hình thức
tín dụng như: tín dụng kích cầu, tín dụng tiêu dùng, tín dụng phục vụ phát triển nông thôn; đa dạng
hóa lĩnh vực đầu tư với nhiều hình thức đầu tư như: cho vay trực tiếp, tài trợ dự án, góp vốn, đầu tư
các loại giấy tờ có giá,… Kết quả năm 2004 hoạt động tín dụng đạt 136.624 tỷ đồng, tăng 35,3% so
với năm 2003 và tăng 143% so với năm 2001 .
1.3. Dịch vụ thanh toán: Việc ứng dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động thanh toán đã tạo ra khả
năng thanh toán nhanh, chính xác, an toàn và bảo mật và thu hút nhiều tổ chức kinh tế, khách hàng
quan hệ giao dịch và thanh toán với ngân hàng. Tổng số lượng tài khoản cá nhân năm 2004 đạt
447.845 tài khoản, tăng gần 4 lần so với năm 2001, tốc độ mở rộng và phát triển tài khoản cá nhân
trên địa bàn ngày càng tăng, góp phần thúc đẩy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân
hàng phát triển.
1.4. Dịch vụ ngoại hối: Năm 2004, kết quả hoạt động ngoại hối như sau :
- Tổng doanh số mua ngoại tệ đạt 13.924 triệu USD, tăng 47,7% so với năm 2003 và tăng 2 lần so với
năm 2001.
- Tổng doanh số bán ngoại tệ đạt 13.048 triệu USD, tăng 47% so với năm 2003 và tăng 97% so với
năm 2001.
- Thanh toán mậu dịch: Thanh toán hàng nhập đạt 9.016 triệu USD, tăng 32,4% so với năm 2003;
thanh toán hàng xuất đạt 6.199 triệu USD, tăng 27,4% so với năm 2003. Bội chi thanh toán mậu dịch
là : 2.817 triệu USD.
- Thanh toán phi mậu dịch: Tổng thu đạt 6.708 triệu USD, tăng 19,1% so với năm 2003; tổng chi đạt
5.340 triệu USD, đạt 42,2% so với năm 2003. Bội thu thanh toán phi mậu dịch là 1.368 triệu USD.
triển dịch vụ ngân hàng một cách có hệ thống.
° Hệ thống các văn bản pháp lý liên quan đến việc cung cấp, sử dụng các dịch vụ ứng
dụng Internet như: e-banking, home banking,… còn thiếu, chậm đổi mới và hoàn thiện so
với yêu cầu phát triển kỹ thuật công nghệ hiện đại và triển khai rộng rãi các dịch vụ ngân
hàng hiện đại, chưa tạo cơ sở cho việc xử lý các tranh chấp, tạo ra tâm lý ngần ngại khi
sử dụng và cung cấp các dịch vụ này. Chính sách quản lý ngoại hối và điều hành tỷ giá
còn bất cập, chưa khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch trên thị
trường ngoại hối .
° Trình độ phát triển nền kinh tế nước ta còn thấp và môi trường kinh tế vĩ mô còn nhiều
khó khăn, yếu kém làm hạn chế khả năng cung ứng và nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân
hàng. Mặt khác, chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại lớn đòi hỏi các
TCTD phải có vốn lớn, nhưng trên thực tế vốn ở các ngân hàng vẫn còn thấp, rất khó đầu
tư phát triển công nghệ hiện đại .
° Thị trường thẻ VN hiện đang có tiềm năng rất lớn, thu hút được sự quan tâm của nhiều
TCTD cũng như của khách hàng, nhưng do sự đầu tư không đồng bộ nên hệ thống máy
ATM của nhiều ngân hàng còn ít và chưa kết nối được với nhau dẫn đến lãng phí trong
đầu tư, chưa thật tiện dụng cho khách hàng .
° Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước chủ trì tạo được
điều kiện rất thuận lợi trong hoạt động thanh toán và có các ưu điểm là nhanh chóng và
chính xác. Tuy nhiên, hệ thống này hiện chưa kết nối trên toàn quốc đã tạo ra những hạn
chế nhất định trong hoạt động thanh toán của các ngân hàng. Bên cạnh đó, việc tập trung
một số lượng lớn chứng từ vào giờ cao điểm vẫn còn tồn tại làm tăng thêm áp lực cho hệ
thống thanh toán điện tử liên ngân hàng .
° Mạng lưới kênh phân phối của các TCTD chưa được phát triển hợp lý. Phát triển mạng
lưới chi nhánh được xem như công cụ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường và thị phần chủ
yếu của các TCTD hiện nay – Điều này có thể làm làm tăng thêm chi phí, hạn chế hiệu
quả kinh tế và không phù hợp với quy hoạch phát triển mạng lưới ngân hàng theo yêu cầu
phát triển kinh tế xã hội .
° Trình độ cán bộ quản lý và kinh doanh của các TCTD còn hạn chế, chưa đủ khả năng
tiếp cận và làm chủ được công nghệ mới, quản trị kinh doanh và quản trị rủi ro so với yêu
phải xây dựng đề án tăng cường năng lực tài chính và xem đây là giải pháp giúp cho các
NHTM và TCTD nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, tạo điều kiện cho việc phát
triển các loại hình dịch vụ ngân hàng hiện đại.Tăng cường năng lực hoạt động tài chính
có thể thực hiện theo hướng:
- Tăng vốn tự có bằng các hình thức huy động từ thị trường qua phát hành cổ phiếu, trái
phiếu, Nhà nước bổ sung vốn, lợi nhuận để lại, nâng cao chất lượng tài sản có,… Việc
tăng vốn tự có sẽ tạo điều kiện cho các NHTM mở rộng hoạt động kinh doanh, mở rộng
thị phần, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển sản phẩm, dịch vụ mới .
- Đẩy mạnh cổ phần hóa các NHTM nhằm giúp cho các ngân hàng sử dụng có hiệu quả
hơn nguồn vốn và làm tăng thêm tiềm lực tài chính cho ngân hàng trong hoạt động kinh
doanh.
- Xử lý nợ xấu theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế, giảm nợ xấu phải gắn liền với việc
xây dựng cơ chế kiểm soát, giám sát hữu hiệu chất lượng tín dụng của các NHTM .
4.4. Thực hiện tốt việc phối hợp, liên kết giữa các NHTM và TCTD với nhau trong quá
trình phát triển các loại sản phẩm dịch vụ ngân hàng, giúp cho các NHTM và TCTD sử
dụng có hiệu quả vốn đầu tư hạ tầng kỹ thuật, hạn chế được sự lãng phí và kém hiệu quả
trong quá trình ứng dụng phát triển công nghệ hiện đại .
4.5. Chủ động xây dựng và triển khai chiến lược kinh doanh theo hướng phát triển
thương hiệu và xây dựng văn hóa kinh doanh ngân hàng văn minh – hiện đại, bằng cách
đẩy mạnh các hoạt động marketing, tuyên truyền, quảng cáo dịch vụ ngân hàng trên thị
trường đến khách hàng .
Tuy nhiên, để chiến lược phát triển kinh doanh dịch vụ ngân hàng thực hiện có hiệu quả
góp phần vào sự phát triển nền kinh tế xã hội, cần thiết có sự hỗ trợ của Ngân hàng Nhà
nước VN trên một số nội dung :
- Bổ sung, sửa đổi Luật NHNN và Luật các TCTD, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn
nhằm thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và ứng dụng các thông lệ, chuẩn mực quốc tế trong
lĩnh vực tiền tệ ngân hàng; quy định rõ phạm vi hoạt động cũng như loại hình dịch vụ
ngân hàng mà các TCTD được phép thực hiện và cung ứng cho nền kinh tế .
- Hoàn thiện cơ chế quản lý ngoại hối theo hướng tự do hóa các giao dịch vãng lai và
kiểm soát có chọn lọc các giao dịch về vốn. Từng bước loại bỏ những bất hợp lý về mua,
chính có quyền tự do xác định các lãi suất tiền gửi, cho vay và tự do sử dụng công cụ lãi
suất, mở rộng cạnh tranh trong các hoạt động trung gian tài chính, chấm dứt những phân
biệt đối xử về pháp lý giữa các lọai hình sở hữu và hoạt động khác nhau và tự do hóa các
luồng vốn quốc tế. Khi tự do hóa tài chính các dòng vốn được tự do lưu chuyển từ nơi có
hiệu suất sinh lợi thấp sang nơi có hiệu suất sinh lợi cao mà không bị ngăn cản bởi các qui
định phi kinh tế.
Trong môi trường quốc tế hóa một cách mạnh mẽ về mọi mặt như hiện nay, VN cũng
không thể đứng ngoài tiến trình toàn cầu hóa, để hội nhập vào xu hướng chung này VN
cần từng bước thực hiện tự do hóa trên nhiều phương diện trong đó tự do hóa tài chính có
ảnh hưởng rất quan trọng đến sự phát triển của kinh tế đất nước.
1. Hệ thống ngân hàng VN trong tiến trình thực hiện chính sách tự do hóa tài chính
Hệ thống ngân hàng VN là trung tâm tài chính cốt lõi của nền kinh tế quốc gia, nó là trọng
tâm của việc thực thi các chính sách tài chính tiền tệ của nhà nước, nhìn vào thực trạng
hoạt động của hệ thống ngân hàng, ta có thể đánh giá được hiệu quả của hệ thống tài
chính và sự phát triển của nền kinh tế đất nước.
2. Những tồn tại trong tiến trình thực hiện tự do hóa tài chính
2.1 Vấn đề lãi suất
Việc áp dụng cơ chế tự do hóa lãi suất đã tạo điều kiện tốt cho sự phát triển của hệ thống
ngân hàng và là bước tiến quan trọng của quá trình tự do hóa tài chính ở VN. Tuy nhiên,
bên cạnh những thuận lợi tích cực thì việc thực hiện tự do hóa lãi suất trong thời gian qua
cũng nảy sinh một số vấn đề bất cập trong quản lý lãi suất và khó khăn cho hệ thống ngân
hàng VN như việc NHNN công bố lãi suất cơ bản nhằm định hướng lãi suất thị trường
trong thời gian qua đã bộc lộ những hạn chế, các NHTM cổ phần tiềm lực về tài chính còn
hạn chế phải đối mặt khi tiến hành tự do hóa lãi suất.
2.2 Hệ thống pháp lý và kế toán - kiểm toán
- Hệ thống pháp lý: Tuy đã có những sửa đổi nhất định để hoàn thiện hành lang pháp lý,
nhưng thực tế vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, hiệu quả kinh doanh của toàn hệ
thống còn thấp, sức cạnh tranh còn khoảng cách xa so với các nước trong khu vực và trên
thế giới
- Kế toán - kiểm toán: Chúng ta đã có Luật kế toán và Luật kiểm toán nhưng hoạt động kế
3. Giải pháp cho vấn đề tự do hóa tài chính và cơ cấu lại hệ thống ngân hàng ở VN
3.1 Sử dụng công cụ lãi suất trong quản lý vĩ mô
3.1.1 Công cụ điều tiết lãi suất
Lãi suất là một trong những công cụ được các chính phủ sử dụng trong quản lý vĩ mô nền
kinh tế nhất là trong cơ chế thị trường, nó kích thích tập trung nguồn lực tài chính và phân
bổ nguồn lực đó một cách có hiệu quả, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, ổn định mục tiêu
của chính sách tiền tệ quốc gia.
3.1.2 Sử dụng hiệu quả công cụ lãi suất
Trên sơ sở kinh nghiệm thực tế của một số nước trên thế giới về việc sử dụng công cụ lãi
suất trong điều hành chính sách tài chính, tiền tệ thì việc lựa chọn lãi suất nào là cơ bản,
có tính chất tác động đến lãi suất thị trường phụ thuộc vào điều kiện phát triển của thị
trường tài chính tiền tệ của quốc gia. Hiện tại, việc sử dụng các loại lãi suất trên thị trường
liên ngân hàng của NHNN VN mang tính chất hình thức do độ nhạy cảm của các lãi suất
này đối với thị trường thấp; vấn đề được đặt ra là làm thế nào để lựa chọn lãi suất chủ đạo
với điều kiện lãi suất này phản ánh đúng quan hệ cung cầu vốn trên thị trường, đồng thời
có tác dụng điều chỉnh lãi suất thị trường theo mục tiêu của chính sách tiền tệ.
a. Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng
Mặc dù thị trường liên ngân hàng đã được thiết lập và hoạt động được một thời gian,
nhưng đối với các NHTM thì thị trường liên ngân hàng chưa phải là nơi có thể sẵn sàng
cung cấp nguồn vốn thiếu hụt, các nghiệp vụ được thực hiện trên thị trường này còn ít nên
chưa hình thành được lãi suất IBOR. Đối với một thị trường liên ngân hàng phát triển, các
NHTM phải tính toán kỹ lượng vốn thừa hay thiếu trong ngắn hạn để có thể xác định mức
vay hoặc cho vay của mình trên thị trường liên ngân hàng một cách chính xác, và khi giao
dịch trên thị trường này, bắt buộc phải theo thực hiện lãi suất mình đã công bố. Vì vậy,
muốn hình thành lãi suất IBOR và nó có tác dụng trong việc điều tiết lãi suất thị trường
theo đúng mục tiêu thì việc thúc đẩy hoạt động của thị trường này của NHNN là vấn đề
quan trọng.
b. Lãi suất trên thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở được nhiều nước trên thế giới sử dụng rất hiệu quả trong việc
điều tiết thị trường tiền tệ cũng như định hướng lãi suất trên thị trường do lãi suất trên thị
linh hoạt tỷ giá VND tương ứng với một rổ tiền tệ là các ngoại tệ mạnh có tham gia
thương mại với VN, có như vậy, đồng tiền VN mới được xác định đúng giá trị và giảm
thiểu tâm lý sùng bái USD, dẫn đến tình trạng đôla hóa nền kinh tế của đại bộ phận dân cư
hiện nay.
3.2.2 Nới lỏng biên độ tỷ giá và tiến tới lọai bỏ các công cụ kiểm soát tỷ giá mang tính
hành chính
Năm 2005, NHNN vẫn qui định biên độ tỷ giá đối với các TCTD kinh doanh ngoại tệ theo
hướng nới lỏng biên độ hơn, hướng đi này giống như một bước thực tập cho các NHTM
làm quen dần với việc kinh doanh tiền tệ theo cơ chế cạnh tranh bình đẳng và sử dụng các
công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá, giảm thiểu tình trạng bị sốc do các biến động. Sau đó,
Nhà nước sẽ tiến hành loại bỏ qui định mang tính hành chính áp đặt và đẩy mạnh việc sử
dụng các công cụ quản lý gián tiếp trong điều hành tỷ giá hối đoái, các TCTD được tự do
quyết định giá mua bán ngoại tệ trên cơ sở qui luật cung - cầu trên thị trường ngoại hối,
các bước tiến hành như trên sẽ giúp cho các NHTM phát huy tính tự chủ và khả năng hội
nhập thị trường tài chính quốc tế theo đúng tiến trình.
3.2.3 Sử dụng công cụ gián tiếp để điều chỉnh tỷ giá trên thị trường
Muốn cho công cụ điều chỉnh gián tiếp của NHNN thông qua nghiệp vụ trên TTNTLNH
có tác dụng, điều kiện cần là TTNTLNH phải thực sự tạo niềm tin cho các NHTM bằng
cách biến đây thành chỗ dựa của họ và nhu cầu được tham gia giao dịch ngọai tệ trên thị
trường trở nên không thể thiếu. Hệ thống thanh tóan liên ngân hàng cần được đầu tư đúng
mức để đạt được hiệu quả nhất, tiết kiệm thời gian cũng như nhân lực, đồng thời giúp cho
cả NHNN và các NHTM có thể cập nhật những thông tin thị trường và ra quyết định
nhanh nhất trong giao dịch trên thị trường này. Có như vậy, các nghiệp vụ ngoại hối mới
có thể được thực hiện và phát triển trên thị trường, tránh sự đơn điệu về nghiệp vụ ngọai
hối hiện nay của TTNTLNH và công cụ điều chỉnh của Nhà nước thông qua thị trường
này mới có tác dụng.
3.3 Cơ cấu lại hệ thống ngân hàng
3.3.1 Đối với ngân hàng Nhà nước
- Cấu trúc lại tổ chức của NHNN từ Trung ương xuống chi nhánh theo hướng tinh gọn,
hiện đại, tránh sự can thiệp của chính quyền các cấp.
quan chức năng, tuy nhiên, để hệ thống ngân hàng có thể giữ được sự phát triển ổn định,
đủ sức cạnh tranh trong môi trường mở cửa, ngăn ngừa sự phát sinh nợ xấu thì bản thân
hệ thống ngân hàng cần có những nỗ lực hơn, nhất là các NHTMQD - những ngân hàng
vốn chiếm ưu thế về thị phần và lượng vốn trong hệ thống ngân hàng VN.
Để thu hút nguồn vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài, Nhà nước có thể cho phép các nhà
đầu tư nước ngoài mua cổ phần của NHTMQD với lượng cổ phần tối đa không được vượt
quá một tỷ lệ qui định, nhằm tránh tình trạng bị thâu tóm bởi các tập đoàn tư bản nước
ngòai do chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc điều hành cũng như tổ chức hoạt
động của một NHTM hiện đại. Bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngòai, phát triển về
vốn hoạt động ngân hàng, chúng ta có thể thuê các tổ chức tài chính quốc tế thực hiện việc
cấu trúc lại hoạt động NHTM theo tiêu chuẩn của NHTM quốc tế hiện đại. Có như vậy,
NHTM của VN mới trở thành một NHTM hiện đại đích thực, có khả năng cạnh tranh và
vươn ra thị trường quốc tế.
Xu hướng tất yếu khách quan ngày nay là hòa nhập kinh tế toàn cầu, gắn liền với quá
trình tự do hóa thương mại và dòng vốn lưu chuyển không biên giới. Nếu tách biệt ra khỏi
quá trình này, một quốc gia không thể đạt được sự phát triển cao và bền vững. Đối với
VN, đổi mới trong chính sách tài chính là một bộ phận cấu thành của tiến trình hòa nhập
kinh tế thế giới nên thành công của việc thực hiện chính sách tài chính sẽ góp phần không
nhỏ vào thành công của công cuộc đổi mới nền kinh tế - xã hội có như vậy, VN mới có
thể thực hiện thành công tự do hóa tài chính - một bước tiến quan trọng, một xu thế tất
yếu của quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay.
(Theo TCKTPT)
Hiện đại hoá ngân hàng: Thách thức lớn nhất là niềm tin
TCKT cập nhật: 11/06/2006
(Bài viết có 2 trang. Bạn đang xem trang 1)
Quá trình hiện đại hoá ngân hàng, mới nghe qua, cứ tưởng
đâu như là những vấn đề thuộc về công nghệ. Nhưng thực tế,
chúng vẫn không tách rời khỏi các quá trình thuộc về chính sách do con người đặt ra.
Hiện đại hoá ngân hàng, mặc dù đã tạo được những thành tựu đáng kể, nhưng muốn
thành công hơn nữa, quá trình này phải song hành với các đạo luật về minh bạch hoá,
các ngân hàng đều có những ứng dụng công nghệ thông tin trong hầu hết các hoạt động
kinh doanh, nhưng các nghiệp vụ mang tính chất nền tảng, có thứ bậc ưu tiên cao nhất vẫn
chưa được chú ý đến một cách đúng mức như hệ thống xử lý trực tuyến, hệ thống thông
tin khách hàng tập trung, hệ thống kế toán chuẩn v.v. Nói cách khác chúng ta vẫn còn
thiếu một dạng ngân hàng cốt lõi (Core banking), là những nghiệp vụ ngân hàng cơ bản
chi phối toàn bộ các hoạt động nghiệp vụ kinh doanh, và là nền tảng làm cơ sở để phát
triển các nghiệp vụ và các dịch vụ ngân hàng hiện đại khác.
Hậu quả của việc chậm trễ trong quá trình hiện đại hoá ngân hàng
-Việc chậm trễ trong quá trình hiện đại hoá công nghệ ngân hàng đã dẫn đến những hậu
quả như các ngân hàng đã không thể nào ứng dụng và phát triển nhanh các sản phẩm dịch
vụ, quanh quẩn chỉ có các sản phẩm tiền gởi, tiền vay.
-Chi phí quản lý tăng nhanh, và điều này đã làm ảnh hưởng rất lớn đến sức cạnh tranh của
hệ thống ngân hàng trong quá trình hội nhập.
-Sự quá tải trong giao dịch tại các ngân hàng làm cho thời gian chờ đợi của khách hàng
tăng lên.
-Việc phân bổ nghiệp vụ chồng chéo không khoa học làm cho việc quản lý, thiết kế đưa ra
các sản phẩm dịch vụ gặp rất nhiều khó khăn.
-Ngoài ra do hệ thống ngân hàng VN hoạt động vẫn còn phân tán, cho nên thông tin về
khách hàng rất là phân tán và không có đầy đủ thông tin về khách hàng. Điều này dẫn đến
việc huy động và sử dụng vốn của các ngân hàng không hiệu quả.
-Các kênh dịch vụ còn hạn chế do gửi rút nhiều nơi do đó rất khó mở rộng các loại thẻ
thanh toán, không thể quản lý tốt các loại rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Hậu quả cuối cùng là việc tổng hợp thông tin chậm, rất vất vả và thiếu chính xác. Điều
này tất nhiên ảnh hưởng đến các chiến lược kinh doanh của ngân hàng.
Hiện đại hoá ngân hàng là gì?
Trong thời gian gần đây, thuật ngữ hiện đại hoá ngân hàng bắt đầu xuất hiện với ý nghĩa
là tìm cách “thiết lập một hệ thống tập trung hoá và tự động hoá trong các giao dịch với
mục đích lấy khách hàng là trung tâm”. Mặc dù hiện nay người viết vẫn chưa tìm thấy
được một tài liệu nào định nghĩa chính thức thế nào là hiện đại hoá công nghệ ngân hàng,
nhưng cách hiểu như thế có lẽ vẫn không thoát khỏi bản chất của những gì mà người dân
Đông Á, Ngân hàng kỹ thương, Sacombank.
Có thể khái quát quát những nội dung của quá trình hiện đại hoá ngân hàng như là một
quá trình thiết lập hàng loạt các modul quản lý, tạm thời chia thành 12 modul sau đây:
1. Hệ thống quản lý hồ sơ khách hàng.
2. Hệ thống xử lý nghiệp vụ tiền gởi.
3. Hệ thống xử lý nghiệp vụ tín dụng và tài trợ.
4. Hệ thống xử lý nghiệp thanh tóan quốc tế.
5. Hệ thống xử lý nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ.
6. Hệ thống xử lý nghiệp vụ chuyển tiền trong nước.
7. Hệ thống xử lý nghiệp vụ hối đoái.
8. Hệ thống quản lý tài sản cố định.
9. Hệ thống sổ cái.
10. Hệ thống thông tin quản lý.
11. Hệ thống xử lý giao diện với hệ thống khác.
12. Hệ thống quản lý các dịch vụ chung.
Điểm chung nhất các hệ thống này là được xử lý hoàn toàn tự động, dựa trên nền tảng
thông tin tập trung thống nhất, nhưng có phân chia trách nhiệm rõ ràng và thiết lập được
hệ thống xử lý dữ liệu online trên toàn hệ thống, giúp giao dịch viên ở bất kỳ nơi nào cũng
có thể truy suất dữ liệu từ hệ thống dữ liệu của trung tâm.
Tập trung hoá và hiện đại hoá ngân hàng theo hệ thống CRM
Như chúng tôi đã phân tích, thực chất của hiện đại hoá ngân hàng chính là việc thiết lập
một hệ thống giao dịch tập trung và hiện đại hoá theo hướng lấy khách hàng là trung tâm.
Các bạn cũng có thể thấy rõ nhận định này thông qua 12 modul, trong đó các bạn chú ý
đến modul đầu tiên: Hệ thống quản lý hồ sơ khách hàng. Vậy hệ thống này là gì? Đây
chính là modul quản trị quan hệ khách hàng-CRM (Customer Relationship Management).
CRM là lĩnh vực hoạt động nghiên cứu nhu cầu và hành vi của khách hàng để xây dựng
quan hệ chặt chẽ giữa khách hàng với ngân hàng. Xác lập tốt mối quan hệ này được xem
là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của hiện đại hoá ngân hàng. CRM có rất
nhiều thành phần công nghệ, nhưng chúng cũng không phải hoàn toàn là một vấn đề của
công nghệ. Chính xác hơn, phải xem CRM là một quy trình liên kết tất cả thông tin về
đánh giá của bộ phận tín dụng, tài sản thế chấp của một doanh nghiệp được đánh giá là
10 tỷ VND, trong khi đáng lý nó chỉ đáng giá là 5 tỷ VND. Thông tin sai lệch này có thể
tự động chuyển tới các bộ phận khác như bộ phận tiền gởi, bộ phận tiền vay, bộ phận
thanh toán quốc tế, và các bộ phận đầu tư tài chính khác. Sau đó thông tin này lại chuyển
đến các bộ phận quản lý cấp cao khác như ban giám đốc, HĐQT. Các bạn hãy hình dung
thử xem, hàng loạt các quyết định sai lầm có thể sẽ được đưa ra ở từng bộ phận và từng
cấp quản lý. Cũng theo ông Samilk Roy, trên thế giới có đến 70% các dự án CRM không
thành công, thậm chí trong đó còn có một số các định chế hàng đầu thế giới cũng đã thực
hiện không thành công các dự án CRM. Nói một cách đơn giản và chính xác nhất về hệ
thống này trong quá trình hiện đại hoá ngân hàng là: tìm mọi cách giữ lấy khách hàng là
trung tâm, và muốn như thế CRM không chỉ đơn thuần chỉ là một nhà kho chứa đầy các
thông tin về khách hàng, mà chúng còn là dữ liệu được thống nhất từ tất cả các nguồn, đó
phải là những dữ liệu đơn nhất (phải được định nghĩa rõ ràng, không thể hiểu sai) và đặc
biệt là phải “sạch”.
Con đường vẫn còn đang ở phía trước
Theo đánh giá của các chuyên gia, các dự án hiện đại hoá ngân hàng mặc dù đã mang lại
những thành quả đáng kể, nhưng vẫn còn tồn tại một số điểm cần phải lưu ý như:
- Các ngân hàng không lượng định được qui mô của ngân hàng dẫn đến quá tải các giao
dịch như các giao dịch thanh tóan liên ngân hàng, giao dịch chuyển tiền của Ngân hàng
Nhà nước và Eximbank.
- Kỳ vọng quá lớn vào dự án hiện đại hóa ngân hàng trong khi kinh phí quá ít, lại ôm
đồm nhiều việc, làm cho chất lượng dịch vụ ngân hàng không được đáp ứng theo như
mong đợi.
- Giai đoạn đầu tự thực hiện có sự tư vấn, giai đoạn sau tự thực hiện nhưng do thiếu kinh
nghiệm dẫn đến thường không thành công khi triển khai tại các chi nhánh còn lại.
- Hầu hết các nghiệp vụ đều được xử lý tự động và nối kết với nhau trong toàn hệ thống
dựa trên nguyên tắc là phải định nghĩa được hết tất cả các vấn đề liên quan đến nghiệp vụ
trước khi xây dựng hệ thống. Tuy nhiên, việc định nghĩa các nghiệp vụ này không hề đơn
giản do trình độ quản lý của các chuyên gia ngân hàng vẫn còn nhiều hạn chế. Nhưng
hạn chế đáng kể nhất có lẽ thuộc về những thay đổi bất hợp lý trong các mô hình, chính