TỔNG HỘI XÂY DỰNG VIỆT NAM
VIỆN NGHIÊN CỨU ĐÔ THỊ VÀ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG
Tham vấn PPP:
- KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
- THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
Hà Nội, Tháng 5/2011
Mục lục
TT Tên bài Trang
1 Mô hình PPP là giải pháp tối ưu cho đô thị Việt Nam 3
2 TP. HCM: Hợp tác công - tư trong quản lý chất thải 4
3 Giải mã PPP 12
4 ADB chưa thể tiếp cận dự án PPP tại Việt Nam 15
5 Mô hình PPP: Kinh nghiệm quốc tế 17
6 Hiện thực hoá các cơ hội PPP tại Việt Nam 20
7 Đầu tư theo hình thức PPP: Phát huy tính ưu việt để phát triển hạ
tầng
23
8 Hợp tác Nhà nước – Tư nhân: Hướng đi mới cần khung pháp lý
mở rộng
25
9 Chờ danh mục dự án theo hình thức PPP 27
10 RCR muốn đầu tư xanh bằng PPP 29
11 Khu vực kinh tế tư nhân – Nguồn huyết mạch chưa khai thông 31
12 Để Nhà nước không “ngại” tư nhân 44
13 Hợp tác Nhà nước – Tư nhân: Hướng đi mới cần khung pháp lý
đủ rộng
47
14 Đấu thầu – Trông chờ vào PPP – khó hài hoà lợi ích các bên 49
15 TP. HCM cần 15 tỷ USD cho các dự án hạ tầng 51
16 Hoạt động PPP tại Việt Nam: Chờ hành lang pháp lý 53
17 Thu hút vốn đầu tư PPP: Cần cách làm mới 57
nhà nước sau khi xây dựng xong, nhưng công ty thực hiện dự án vẫn giữ quyền
khai thác công trình.
• Thứ năm, là phương thức xây dựng - sở hữu - vận hành BOO (Build - Own -
Operate). Ở mô hình này, công ty thực hiện dự án sẽ đứng ra xây dựng công trình,
sở hữu và vận hành nó. Mô hình BOO rất phổ biến đối với các nhà máy điện cả ở
Việt Nam và trên thế giới.
Mô hình PPP trên thế giới :
Các nước phát triển:
3
Không một chính phủ nào có thể kham nổi toàn bộ việc đầu tư cho hệ thống
cơ sở hạ tầng, nhưng cũng không nhà đầu tư tư nhân nào có thể làm được việc này
vì đây là lĩnh vực có hiệu quả kinh tế thấp và nhiều rủi ro. Theo Giáo sư Fukunari
Kimura của trường Đại học Tổng hợp Keio (Nhật Bản) nói đấy là lý do khiến cho
mô hình PPP ra đời, trong bối cảnh châu Á phát triển nhanh và nhu cầu về dịch vụ
công cộng cũng như cơ sở hạ tầng rất lớn. Nhật Bản là một trong những quốc gia
đã phát triển mạnh nhất mô hình này ở châu Á. Theo kinh nghiệm của nước này,
có ít nhất hai lĩnh vực mà mô hình PPP có thể phát huy hiệu quả, đó là các dự án
không thể hoặc khó áp dụng phương pháp cổ phần hóa và các dự án mà nhà nước
không thể tham gia trực tiếp. Cụ thể như các dự án về sản xuất và phân phối điện,
đường cao tốc, giao thông đô thị, dịch vụ cảng, cấp nước và các dịch vụ công cộng.
Hiệu quả mà mô hình này đem lại là giảm chi phí, giảm rủi ro và tạo ra được một
môi trường cạnh tranh cao. Mô hình PPP đã được áp dụng trong việc xây dựng các
kênh đào ở Pháp vào thế kỷ 18, các cây cầu ở London vào thế kỷ 19 hay cây cầu
Brooklyn nổi tiếng ở New York cũng vào thế kỷ 19. Tuy nhiên, mô hình này chỉ
thực sự bắt đầu phổ biến trên thế giới từ đầu thập niên 1980 và nó đã đóng một vai
trò nhất định trong việc phát triển cơ sở hạ tầng ở các nước phát triển.
Anh là nước đi tiên phong trong mô hình này với các chương trình tư nhân
hóa nổi tiếng của bà Thủ tướng Margaret Thatcher. Tuy nhiên, theo thống kê của
Yescombe, trong gần 20 năm (1987-2005), chỉ có 725 dự án đầu tư mới với mức
đầu tư trên 100 triệu bảng được thực hiện theo mô hình PPP. Tổng giá trị của các
Mô hình PPP tại Việt Nam :
Ở Việt Nam, theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, trong giai đoạn 1994-
2009 đã có 32 dự án được thực hiện theo mô hình PPP với tổng mức vốn cam kết
khoảng 6,7 tỉ đô la. Cũng giống như các nước khác, mô hình BOT và BOO chiếm
tỷ phần chủ yếu. Hai lĩnh vực chiếm tỷ phần lớn nhất là điện và viễn thông. Ngoài
ra, có thể kể đến nhiều dự án hợp tác công - tư khác đã và đang được triển khai từ
thập niên 1990 đến nay như: BOT cầu Cỏ May, BOT cầu Phú Mỹ, điện Phú Mỹ,
và rất nhiều nhà máy điện nhỏ và vừa khác đang được thực hiện theo phương thức
BOO.Về mô hình BOT, tổng cộng có 26 dự án với tổng mức đầu tư là 128 ngàn tỷ
đồng.
Riêng năm 2010, theo thống kê của cục đầu tư nước ngoài, tổng số dự án cấp
mới được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là 969 dự án, trong đó theo mô hình đầu tư
BOT, BT, BTO có 6 dự án chiếm 1% trên tổng số dự án cấp mới. Nhưng số lượng
dự án cấp mới chiếm 55% so với số dự án đầu tư theo hình thức BOT,BTO,BT là
11 dự án, chiếm % cao nhất trong số tất cả các hình thức đầu tư, so với năm 2009
không có dự án mới nào đầu tư theo hình thức BOT,BT,BTO đó là một sự khởi sắc
tốt.
Về hình thức 100% vốn nước ngoài chỉ chiếm 8% trên tổng số dự án, số dự án
cấp mới chỉ có 799 dự án trong khi tổng số dự án đăng ký là 9.599 ( tính hết ngày
21/12/2010), còn về hình thức liên doanh chỉ chiếm 7% trên tổng số dự án cấp mới
đăng ký, hình thức cổ phần và hợp đồng hợp tác vốn đầu tư chiếm lần lượt là 4%
và 1% trên tổng số dự án cấp mới. Ta thấy rằng hình thức đầu tư theo hợp đồng
BOT, BT, BTO đang phát triển theo chiều hướng tích cực. Vậy dưới sự giám sát
và hỗ trợ của nhà nước, hình thức đầu tư theo mô hình PPP đã bắt đầu có sự tiến
triển so với các hình thức đầu tư khác.
Đặc biệt là sau khi Quyết định 71/2010/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế
Thí điểm đầu tư theo hình thức PPP được ban hành và chính thức có hiệu lực từ
ngày15/1/2011. Điều này đã thu hút sự chú ý của giới đầu tư trong và ngoài nước
đang dồn vào mô hình hợp tác nhà nước và tư nhân (PPP).
Thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài năm 2010 theo hình thức
Tóm lại, theo thống kê cho thấy mô hình PPP tuy đã phổ biến ở Việt Nam
theo hình thức chủ yếu là BOO và BOT nhưng còn quá khiêm tốn và khi triển khai
cũng cần những điều kiện nhất định khác. Đặc biệt là vấn đề pháp lý của nhà nước
ta có thu hút hấp dẫn được các nhà đầu tư trong và ngoài nước không? Vì thế
chúng ta cần đưa ra biện pháp cải thiện để có thể tận dụng tốt nguồn vốn từ các nhà
đầu tư nước ngoài cũng như trong nước một cách hiệu quả và có lợi cho hai bên
tham gia nhất.
Sau đây là một số thuận lợi và thách thức khi áp dụng mô hình PPP tại Việt
Nam theo kinh nghiệm của nhà đầu tư nước ngoài HIFU đã đầu tư tại TP Hồ Chí
Minh qua nhiều năm trên các lĩnh vực như dự án cơ sở hạ tầng giao thông, dự án
khu công nghiệp Tân Phú Trung, dự án xây dựng nhà máy nước Thủ Đức, cụm
công nghiệp ô tô Hòa Phú, cầu Phú Mỹ, xư lý kênh Đông.
Những thuận lợi và hạn chế khi thực hiện dự án PPP .
Thuận lợi:
Sử dụng được những kỹ năng, công nghệ hiện đại và tính hiệu quả của khu
vực tư nhân. Buộc khu vực công cộng ngay từ đầu phải chú trọng đầu ra và lợi ích
( thay vì các yếu tố đầu vào). Đưa vốn tư nhân vào và giúp giảm nhẹ gánh nặng về
tài chính cho dự án. Rủi ro được chia sẻ giữa những đối tác khác nhau. Chắc chắn
về ngân sách. Những nhà cung cấp tư nhân có trách nhiệm hơn trong việc cung cấp
dịch vụ trong môi trường khuyến khích thích hợp. Trong mô hình sáng kiến tài
chính tư nhân ( PFI), khu vực công cộng chỉ thanh toán khi dịch vụ đã được cung
cấp.
7
Hạn chế:
PPP ngụ ý việc khu vực công cộng mất quyền kiểm soát quản lý và vì vậy
khó có thể chấp nhận trên góc độ chính trị. Liệu khu vực công có đủ năng lực và
kỹ năng để áp dụng phương pháp PPP và thiết lập môi trường pháp lý để khuyến
khích thích đáng không? Liệu khu vực tư nhân có đủ năng lực chuyên môn để đảm
bảo thực hiện PPP không? Không thể chuyển giao rủi ro tuyệt đối. Việc mua sắm
có thể tốn nhiều thời gian và chi phí. Các cấu trúc dài hạn tương đối không linh
hoàn cảnh xã hội nên các điều khoản trong hợp đồng cần linh hoạt, có biên độ điều
chỉnh để tránh thiệt hại cho nhà đầu tư cũng như chính quyền.
Thứ năm : Có sự hỗ trợ chính trị từ tầm cao và quản trị tốt, đảm bảo rằng
chính phủ sẽ thực hiện các cam kết của mình dưới hình thức PPP. Hợp đồng ký kết
giữa chính quyền và nhà đầu tư cần rõ ràng, minh bạch là điều kiện tiên quyết để
8
chính quyền đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư và là cơ sở cho chính quyền tận
dụng hiệu quả nhất tính năng động và cạnh tranh của khu vực tư nhân, góp phần
tiết kiệm các chi phí về cơ sở hạ tầng của toàn xã hội.
(Nguồn: DiaOcVietOnline.vn 06/3/2011)
9
TP. HCM: HỢP TÁC CÔNG – TƯ TRONG QUẢN LÝ CHẤT THẢI
Như Thuỷ
Hợp tác công-tư (PPP) trong các hoạt động cung cấp dịch vụ đô thị là một
lĩnh vực mới và là một trong các giải pháp thích hợp nhằm giải quyết các khó khăn
trong quản lý đô thị.
Một số dịch vụ đô thị hiện có
Hệ thống cấp thoát nước: Quản lý các nguồn nước, bao gồm giám sát chất
lượng các nguồn nước và quy hoạch sử dụng nước. Xây dựng và vận hành nhà
máy xử lý nước cấp cho sinh hoạt và công nghiệp. Xây dựng và vận hành mạng
lưới cấp nước, bao gồm cả công tác làm giảm thất thoát nước và thu phí nước cấp.
Hệ thống thoát nước: Xây dựng và vận hành mạng lưới thoát nước, bao gồm
cả công tác thu phí nước thải. Xây dựng và (hoặc) vận hành các nhà máy xử lý
nước thải sinh hoạt, các khu công nghiệp tập trung. Xây dựng và vận hành các liên
hợp xử lý bùn.
Hệ thống quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại: mạng lưới thu gom và
vận chuyển chất thải rắn đô thị cho các vùng của thành phố; vận hành các khu liên
hợp tái chế và xử lý chất thải đô thị, công nghiệp và nguy hại…
Bên cạnh các dịch vụ nói trên còn có các lĩnh vực khác như giao thông công
cộng, chiếu sáng…
11
GIẢI MÃ PPP
Mạnh Dương
Tìm vốn đầu tư hạ tầng ngoài ngân sách đã khó, tìm mô hình đầu tư cho
hạ tầng lại càng khó hơn. BOT (xây dựng, khai thác và chuyển giao), BT (xây
dựng và chuyển giao) vốn được ưa chuộng, nay đang bị coi là mô hình cũ mà
những nhà quản lý Việt Nam thấy cần phải thay thế.
Hợp tác công - tư (PPP) đang được xem như giải pháp hữu hiệu thay thế
cho các mô hình cũ. Đây là hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà nước có
thẩm quyền với nhà đầu tư tư nhân nhằm xây dựng công trình, cung cấp dịch
vụ với một số tiêu chí riêng. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ lập danh
mục dự án ưu tiên đầu tư PPP hằng năm và tiến hành đấu thầu cạnh tranh để
lựa chọn nhà đầu tư trong nước, nước ngoài đủ năng lực, kinh nghiệm nhất.
Đến thời công - tư
Dự thảo quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công - tư vừa được Bộ
Kế hoạch Đầu tư trình lên Thủ tướng Chính phủ. Theo bà Vũ Quỳnh Lê, Giám đốc
Trung tâm Hỗ trợ đấu thầu (Bộ Kế hoạch Đầu tư), Việt Nam lâu nay đã quen với
các mô hình như BOT, BT, BTO
Tính đến nay, đã có khoảng 90 dự án được thực hiện theo các hình thức này
với tổng vốn đầu tư khoảng 7,1 tỷ USD, trong đó các dự án về giao thông chiếm
70%. Nhưng bà Lê khẳng định, thời điểm này Việt Nam cần đầu tư theo mô hình
PPP hơn, vì theo tính toán, nếu Việt Nam cần tới 160 tỷ USD đầu tư trong 10 năm
tới, thì nguồn vốn từ ngân sách chỉ tự đáp ứng được khoảng 5%. Trong khi đó, PPP
giúp tăng hiệu quả thu hút vốn đầu tư hơn rất nhiều.
Bà Lê cho biết thêm, vừa qua, qua các kênh xúc tiến đầu tư, được biết có
nhiều nhà tài trợ nước ngoài rất quan tâm đến mô hình này tại Việt Nam, ngay cả
các trung tâm tài chính quốc tế cũng thích PPP. Nhưng muốn hợp tác theo PPP,
cần phải biết yêu cầu cơ bản của một dự án hợp tác.
Theo đó, cơ cấu chuẩn cho một dự án PPP là: vốn nhà nước chiếm 30%, tư
nhân chịu 70% còn lại, trong đó 21% thuộc vốn chủ sở hữu đầu tư, 49% còn lại do
thoái vốn. Vì vậy, VinaCapital tính toán không vào ngay từ đầu, mà vào giai đoạn
giữa hoặc cuối của dự án.
Ở vào một trường hợp khác, ông Đặng Quang Mỹ, Giám đốc Ban Quản lý Dự
án Đầu tư và Xây dựng công trình thuộc Sở Y tế TP.HCM, cho rằng, dự thảo PPP
của Bộ Kế hoạch Đầu tư chỉ tập trung vào hạ tầng giao thông, trong khi ở TP.HCM
hiện nay nhiều nhà đầu tư có đất muốn hợp tác xây dựng bệnh viện.
Nhưng nếu chỉ xây không thì sau đó công trình chỉ là cái “nhà bệnh viện”,
trong khi nhà đầu tư cần đội ngũ bác sĩ. Vì vậy, nhà đầu tư muốn hợp tác với Sở Y
tế về nguồn lực này, nhưng trong quy chế ngành hiện không cho bác sĩ đi làm tư.
Như vậy, cứ cho là hợp tác PPP về y tế được tiến hành, thì Nhà nước tính thế nào
về chất xám của các bác sĩ trong mối hợp tác này?
Liên quan đến trường hợp PPP trong y tế, ông Đặng Huy Đông khẳng định,
PPP rất phù hợp với y tế và giáo dục, thậm chí ở Mỹ, người ta còn PPP cả nhà tù
nữa, cho phép tư nhân xây nhà tù theo chuẩn mực. Hằng tháng, Chính phủ sẽ trả
tiền giam giữ tù nhân cho nhà đầu tư đó.
Hạ tầng khát vốn
Việt Nam khát vốn đầu tư hạ tầng một, thì thành phố lớn như TP.HCM,
Hà Nội thiếu vốn mười. Lý do là ngân sách thành phố được phép giữ lại để tái
đầu tư quá thấp.
Ông Đặng Huy Đông, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư, cho biết, từ nay
đến năm 2020, Việt Nam nếu muốn phát triển ở tốc độ 7 - 8% thì phải đầu tư
mạnh vào hạ tầng, trong đó tập trung vào giao thông, điện năng, nước, môi
trường Nhưng để đầu tư đồng bộ, theo tính toán, cần tới 150 tỷ USD. Nếu chỉ
13
trông cậy vào nguồn vốn truyền thống như: vốn ngân sách, phát hành trái
phiếu, vay ODA thì chỉ đáp ứng được khoảng 40 - 50%. Như vậy, nguồn vốn
khổng lồ này sẽ phải trông cậy vào vốn đầu tư tư nhân, ước khoảng 70 - 80 tỷ
USD.
Trong khi đó, một thành phố dẫn đầu cả nước về mức đóng góp ngân sách
như TP.HCM cũng chẳng dư giả gì về vốn đầu tư. Ông Nguyễn Thành Tài, Phó
Ông cũng khuyến cáo không nên nhìn nhận hình thức PPP với mục đích
chính là huy động tiền từ khu vực tư nhân. Điều quan trọng hơn là sáng kiến
chuyên môn và công nghệ.
Về dự án đường dây truyền tải điện trị giá 300 triệu USD, ông Konishi cho
biết, EVN đã phân ra hơn 100 lô thầu để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, do cách phân chia không hiệu quả, ADB bị thiệt hại khoảng 17% tổng
chi phí.
Thắt chặt tín dụng là cần thiết
Ông Konishi nhận xét, mặc dù lãi suất cao do thắt chắt chính sách tiền tệ thực
sự gây khó khăn cho doanh nghiệp, nhưng là cần thiết. Nếu không kiểm soát tín
dụng, nền kinh tế sẽ gặp rắc rối thì doanh nghiệp vẫn là đối tượng chịu thiệt thòi.
Chính phủ có thể đưa ra những biện pháp hỗ trợ những không nên nới lỏng
chính sách.
Nghị quyết 11 ban hành mang lại niềm tin cho những nhà tài trợ, đầu tư nước
ngoài. Song nếu chính sách đưa ra không thực hiện tốt thì không có ý nghĩa.
Sau thảm họa động đất, sóng thần, GDP Nhật Bản dự kiến giảm 1-2% trong
năm nay. Nguồn vốn tài chính sẽ được ưu tiên cho tái thiết đất nước hơn đầu tư ra
nước ngoài song Chính phủ Nhật Bản sẽ đảm bảo cam kết.
Tuy nhiên, việc giải ngân vốn FDI, ODA kém hiệu quả cho thấy khả năng hấp
thụ vốn thấp của Việt Nam. Kể cả không có những cam kết trong năm tiếp theo thì
Việt Nam vẫn không bị ảnh hưởng.
15
Lao động giá rẻ không kéo dài và Việt Nam sẽ phải tìm cách nâng cao năng
suất lao động cũng như cải thiện cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực.
Ông Konishi nhận xét: "Nếu không tăng hiệu quả chính sách thì Việt Nam sẽ
không bao giờ trở thành một quốc gia cạnh tranh."
"Việt Nam hưởng lợi từ quan hệ thương mại với Trung Quốc"
Ông Konishi đánh giá, Việt Nam đang trong tiến trình phát triển kinh tế nên
nhập siêu không phải là vấn đề đáng lo ngại.
Nếu năm 2009, luồng vốn FDI chủ yếu hướng vào bất động sản thì năm ngoái
sử dụng trong nhiều dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và cung cấp dịch vụ công cộng.
Tuy nhiên, không ở nước nào mô hình này có vai trò nổi bật so với các hình thức
xây dựng cơ sở hạ tầng khác. Trong giai đoạn ba năm từ 2003-2005, tổng giá trị
các dự án đầu tư theo phương thức PPP của các nước G7 chưa đến 100 tỉ đô la.
Các nước đang phát triển
Ở các nước đang phát triển, mô hình PPP bắt đầu phổ biến từ đầu thập niên
1990, nhất là ở khu vực Mỹ Latinh. Theo số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới,
trong 20 năm (1990-2009), đã có 4.569 dự án được thực hiện theo phương thức
PPP ở các nước đang phát triển với tổng vốn cam kết đầu tư 1.515 tỉ đô la Mỹ. Con
số này bao gồm cả việc tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước.
Tổng mức đầu tư nêu trên chỉ tương đương với 1% GDP của các nước đang
phát triển trong hai thập kỷ qua. Với mức đầu tư cho CSHT vào khoảng 5-6%
GDP thì đầu tư theo phương thức PPP chỉ chiếm khoảng 20%. Đây là một con số
khá khiêm tốn.
Về xu hướng đầu tư, trong 20 năm qua có hai làn sóng chính (hình 1). Làn sóng
thứ nhất xảy ra vào giữa thập niên 1990 mà đỉnh điểm là năm 1997 với số vốn cam
kết lên đến 109 tỉ đô la. Đây là giai đoạn mà tiến trình tư nhân hoá xảy ra mạnh mẽ
ở các nước Mỹ Latinh. Tuy nhiên, kỳ vọng về vai trò của khu vực tư nhân trong
17
việc giải quyết vấn đề CSHT và cung cấp các dịch vụ công giảm xuống nhanh
chóng do những khó khăn trục trặc đã xảy ra.
Theo phân tích của GS. Gomez-Ibanez, một trong những học giả hàng đầu về
CSHT, tiến trình tư nhân hoá việc cung cấp cơ sở hạ tầng đã đi quá xa. Thực ra,
kết quả của việc khuyến khích khu vực tư nhân tham gia vào việc cung cấp các
dịch vụ công hay cơ sở hạ tầng đã không như mong đợi. Sau thời gian triển khai
rầm rộ các dự án vào giữa thập niên 1990, vào đầu những năm 2000, khiếm khuyết
đã bộc lộ. Nguồn thu không đủ bù đắp cho các khoản chi phí và suất sinh lợi theo
yêu cầu. Kết quả là chất lượng dịch vụ thậm chí còn thấp hơn trước khi nó được
chuyển giao cho khu vực tư nhân và trong nhiều trường hợp nhà nước phải quốc
hữu hoá và tự cung cấp các dịch vụ hay cơ sở hạ tầng công.
thế giới. Do vậy, việc triển khai mô hình này ở Việt Nam là cần thiết, nhưng không
nên quá kỳ vọng vào nó. Nhất là khi mô hình BOT và BOO đã khá quen thuộc ở
Việt Nam và triển khai chúng cũng cần có những điều kiện nhất định.
(Nguồn: tintuc.xalo.vn/ 21/4/2011)
19
HIỆN THỰC HOÁ CÁC CƠ HỘI PPP TẠI VIỆT NAM
Thu Trang
NDĐT-Trong chuyến thăm dài ngày tới Việt Nam từ 19 đến 24-3, Thị
trưởng Khu tài chính London, ông Alderman Michael Bear đã đồng chủ trì
với Thứ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam Đặng Huy Đông trong buổi toạ
đàm với chủ đề “Hiện thực hoá các cơ hội PPP tại Việt Nam” tại Hà Nội vào
ngày 20-3.
Buổi toạ đàm có sự tham gia của nhiều doanh nghiệp Việt Nam cũng như
Anh quốc chung quanh vấn đề còn khá mới mẻ ở Việt Nam là làm thế nào để thực
hiện hiệu quả cơ chế đối tác công-tư (PPP) trong xây dựng cơ sở hạ tầng tại Việt
Nam. Tại đây, phía Anh đã chia sẻ kinh nghiệm hơn 50 năm qua với đại diện các
cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp Việt Nam.
Kinh nghiệm từ nước Anh
Thị trưởng Khu tài chính London Alderman Michael Bear cho biết, nước ông
đã thực hiện cơ chế PPP hơn 50 năm qua trong vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng từ
cầu đường, đặc biệt là xây đường cao tốc, đến trường học, bệnh viện.
Chính phủ Anh đã thành công trong việc huy động vốn đóng góp từ khu vực
tư nhân trong các công trình công cộng với số vốn chiếm ¼ chi phí xây dựng cơ sở
hạ tầng. Trong vài năm gần đây, nước Anh đã ký 950 dự án dịch vụ công cộng với
số vốn tư nhân là 100 tỷ USD.
Trên thế giới, Anh là nước đầu tiên thực hiện cơ chế PPP này với tư duy
những gì mà tư nhân không làm được hoặc không thể tham gia thì nhà nước mới
làm, mới quản lý như chức năng quản lý hành chính là chức năng không thể sẻ
chia cho tư nhân. Do đó, nhà nước Anh khuyến khích tư nhân tham gia đầu tư vào
hầu hết các lĩnh vực và khoán gọn cho họ đầu tư toàn bộ sơ sở vật chất, sau đó nhà
nhưng hai năm qua vẫn chưa có dự án theo PPP cụ thể nào được triển khai. Do đó,
ông hy vọng với sự giúp đỡ của các nhà tài trợ, đặc biệt các nước có nhiều kinh
nghiệm như Anh thông qua tổ công tác liên ngành, cuối tháng 4 hoặc đầu tháng 5
tới sẽ có ít nhất một hoặc hai dự án PPP được đấu thầu triển khai.
Về cách thức lựa chọn nhà thầu, ông Đông khẳng định Việt Nam nhận thức rõ
ràng rằng tính minh bạch trong đấu thầu theo chuẩn quốc tế là điều vô cùng quan
trọng của PPP, phải đảm bảo được điều này mới khiến các nhà thầu đăng ký hồ sơ
đấu thầu và việc này “sẽ được thực hiện thông qua một quy trình minh bạch, công
bằng theo những thông lệ và tiêu chuẩn quốc tế”.
Chung quanh thắc mắc cần lựa chọn dự án trong lĩnh vực nào để đảm bảo
thực hiện thí điểm thành công PPP tại Việt Nam, cả ông Đông và ông Michael
Bear đều cho rằng, không quan trọng dự án đó thuộc ngành nào, lĩnh vực nào mà
cốt lõi nhất là tính khả thi về mặt tài chính của dự án được lựa chọn.
Những dự án cơ sở hạ tầng đều là những dự án lâu năm, tốn tiền của nên cần
thiết phải tính toán tính khả thi về mặt tài chính của dự án theo cơ chế PPP nhằm
Ngày 9- 11-2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký “Quy chế thí điểm đầu
tư theo hình thức đối tác công-tư” ban hành kèm theo Quyết định 71/QĐ-TTg có
hiệu lực từ ngày 15-01-2011. Theo đó, quy chế đặc biệt này quy định điều kiện, thủ
tục và nguyên tắc áp dụng thí điểm đối với một số dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ
tầng, cung cấp dịch vụ công theo hình thức PPP; Đối tượng áp dụng của quy chế
này gồm: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Nhà đầu tư, tổ chức, cá nhân có liên
quan đối với việc quản lý, thực hiện dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch
vụ công…
21
thu hút vốn đầu tư của tư nhân. Thêm vào đó, một dự án PPP cần phải có đủ tính
phỏng đoán, minh bạch và rõ ràng trong lộ trình thực hiện.
Buổi toạ đàm cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lựa chọn dự án PPP
thí điểm tại Việt Nam còn là cách hiệu quả để nâng cao nguồn nhân lực thực hiện
PPP, thay vì cử cán bộ đi học bốn, năm năm ở các trường về thực hiện PPP thì
trong quá trình thực hiện các dự án thí điểm họ đã được cọ xát kinh nghiệm thực
22
ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC PPP:
PHÁT HUY TÍNH ƯU VIỆT ĐỂ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG
Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công – tư (Tiếng Anh viết
tắt là PPP) bắt đầu có hiệu lực. Đây sẽ là “cú huých” hết sức quan trọng đối với
sự nghiệp phát triển cơ sở hạ tầng ở nước ta.
Quy chế PPP ban hành theo Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ngày 9-11-2010
của Thủ tướng Chính phủ, quy định điều kiện, thủ tục và nguyên tắc áp dụng thí
điểm đối với một số dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công
theo hình thức PPP.
Hình thức đầu tư công – tư (PPP) tuy mới mẻ đối với Việt Nam nhưng đã
được nhiều nước trên thế giới áp dụng từ hơn 50 năm nay. Kinh nghiệm thế giới
cho thấy, nhờ áp dụng hình thức PPP mà nhiều vấn đề bức xúc của nhiều đô thị lớn
đã được giải quyết như tình trạng ùn tắc giao thông, cung cấp nước, tạo việc làm
cho người lao động
Mô hình hay hình thức PPP kết hợp được nhiệm vụ của dịch vụ công với hiệu
quả của một hay nhiều doanh nghiệp tư nhân cho phép các chính quyền địa
phương nhanh chóng đạt được những tiêu chuẩn quốc tế tốt nhất trong các dịch vụ
công, tạo thuận lợi cho chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại.
Dự án cấp nước sạch ở TP. Thượng Hải (Trung Quốc) là một hình mẫu mà
Việt Nam có thể tham khảo. Năm 2002 chính quyền Thượng Hải đã ký kết với Tập
đoàn VE của Pháp hợp đồng quản lý dịch vụ cấp nước sạch trong thời hạn 50 năm.
Từ đó hình thành một doanh nghiệp liên doanh Pháp – Trung Quốc với tỷ lệ vốn
góp 50/50. Theo đó, VE cung cấp toàn bộ dịch vụ sản xuất, phân phối nước sạch,
quản lý và chăm sóc khách hàng, thiết kế và đầu tư
Cũng theo hình thức PPP, Thủ đô Seoul (Hàn Quốc) đã xây dựng tuyến xe
điện ngầm số 9. Hiện nay, mỗi ngày phục vụ 256.000 lượt khách, dự báo đến năm
2013 sẽ thu hút 760.000 lượt khách/ngày. Gần 1.000 người Hàn Quốc đã được đào
tạo để vận hành, khai thác và làm dịch vụ chăm sóc khách hàng.
Nước Anh đã áp dụng hình thức PPP trên 50 năm nay và thu được thành công
các trung tâm chế biến lớn ”.
Tuy nhiên, áp dụng cơ chế PPP trong thời gian tới không thể tránh khỏi nhiều
khó khăn, vướng mắc; điều này cũng giống như việc khi gia nhập WTO, nước ta
phải sửa, bổ sung luật pháp cho phù hợp với hệ thống quốc tế.
Chấp nhận mô hình đầu tư công – tư (PPP) là một bước quan trọng trong quản
lý kinh tế.
(Nguồn: vcci.com.vn 04-01-2011)
24
HỢP TÁC NHÀ NƯỚC - TƯ NHÂN:
HƯỚNG ĐI MỚI CẦN KHUNG PHÁP LÝ MỞ RỘNG
KTĐT - Ngày 3/3, UBND TP Hà Nội, Công ty Gide Loyrette Nouel Việt
Nam và Tập đoàn Veolia Environment (Pháp) đã tổ chức Hội thảo về “Hợp tác
Nhà nước- tư nhân (PPP) trong các dự án phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ
công”. Mô hình hợp tác công tư (PPP) trong việc nâng cao chất lượng cơ sở hạ
tầng được coi là hướng đi đúng đắn của VN trong giai đoạn này. Tuy nhiên, để mô
hình này có thể thực sự hoàn thiện và đem lại lợi ích như mong muốn rất cần có
một chính sách, một khung pháp lý đủ rộng. PPP- Mới nhưng không lạ.
PPP là hình thức đầu tư mới đang được nghiên cứu ở VN, có khả năng to lớn
để thu hút thêm nguồn vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng của VN. Theo bà Vũ
Quỳnh Lê, Giám đốc Trung tâm hỗ trợ đấu thầu, Bộ Kế hoạch và đầu tư: Hiện nay
nhu cầu cho đầu tư cơ sở hạ tầng của Việt Nam khoảng 16 tỷ USD/năm trong khi
khả năng đááp ứng của Nhà nước chỉ khoảng 7-8 tỷ USD.Từ nay đến năm 2020,
vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng ước tính chiếm khoảng từ 10% đến 11%
GDP. Trong điều kiện tài chính hiện tại thì khả năng cân đối ngân sách nhà nước
dành cho đầu tư phát triển cũng có những hạn chế nhất định.
Cụ thể, tổng chi ngân sách cho đầu tư phát triển chung trong giai đoạn 2001
2010 khoảng 60 tỷ USD, chiếm khoảng 8,4% so với GDP; trong đó chi cho đầu tư
phát triển cơ sở hạ tầng như: giao thông thuỷ lợi, nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ
sản khoảng 50%. Điều này cho thấy khả năng nguồn vốn của Chính phủ khó có thể
đáp ứng hết được nhu cầu cho đầu tư cơ sở hạ tầng.