VẬN HÀNH MÁY PHÁT ĐIỆN THỦY LỰC - Pdf 21



Tác giả: Trịnh Quang Khải
1
VẬN HÀNH MÁY PHÁT ĐIỆN THỦY LỰC

NỘI DUNG

I. PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA MÁY PHÁT ĐIỆN
THỦY LỰC 3
I.1 Phân loại: 3
I.1.1 Phân loại theo phương pháp kích từ: 4
I.1.2 Phân loại theo hướng trục của máy phát: 4
I.1.3 Phân loại theo cách bố trí ổ trục: 5
I.1.4 Phân loại theo phương pháp làm mát: 7
I.2 Đặc điểm cấu tạo: 11
I.2.1 Stato: 11
I.2.2 Rô to: 12
II. CÁC CHẾ ĐỘ VẬN HÀNH MÁY PHÁT ĐIỆN THỦY LỰC 24
II.1 Điều kiện để khởi động máy phát: 24
II.2 Phương pháp hoà máy phát vào lưới: 24
II.3 Chế độ hoạt động cho phép khi có sai lệch hệ số công suất so với định
mức 25
II.4 Trị số giới hạn nhiệt độ cho phép ở các bộ phận tác dụng của máy phát27
II.5 Quá tải ngắn hạn cho phép theo dòng cuộn dây Stator 28
II.6 Quá tải ngắn hạn cho phép theo dòng kích thích 28
II.7 Thời gian cho phép hoạt động ngắn hạn trong các chế độ không đối
xứng: 29
II.8 Phụ tải không đối xứng kéo dài cho phép: 29
II.9 Các quy định phải ngừng máy phát: 29
II.10 Độ rung cho phép: 30

I. PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA MÁY PHÁT ĐIỆN
THỦY LỰC
Máy phát điện thủy lực còn được gọi là máy phát điện tua bin nước. Trong hệ
thống điện công suất phát của các máy phát điện thủy lực thường là S > 3MW,
máy phát điện thủy lực có công suất lớn thường xử dụng loại máy phát điện
đồng bộ.
Nguyên lý làm việc chung của máy phát điện đồng bộ dựa trên sự chuyển động
tương đối của phần cảm (còn gọi là phần kích từ) và phần ứng (phát ra điện xoay
chiều). Khi rôto chuyển động quay đều với vận tốc , dòng điện một chiều chạy
trong cuộn dây kích từ của rôto sẽ sinh ra từ trường quay có từ thông  khép
mạch qua cuộn dây của phần ứng stato và sinh ra sức điện động cảm ứng Eo
biến đổi theo chu kỳ hình sin có tần số f = 50Hz hoặc f = 60Hz. Chuyển động
tương đối của phần cảm và phần ứng cho phép phần cảm quay phần ứng đứng
yên hoặc phần ứng quay phần cảm đứng yên. Mạch kích từ và cuộn dây kích từ
dùng điện áp một chiều thấp, có cấu tạo cực từ đơn giản hơn cực từ của phần
ứng.Các cuộn dây phần ứng thường có nhiều vòng chịu điện áp cao, có cấu tạo
mạch từ và cách đấu nối dây dẫn phức tạp. Do những đặc điểm trên nên máy
phát điện đồng bộ thường chế tạo với phần cảm quay gọi là rôto, phần ứng đứng
yên gọi là stato.
Máy phát điện đồng bộ hoạt động được là nhờ có hệ thống tuabin, tua bin của
máy phát có vai trò truyền lực và truyền mô men quay M1 vào làm quay trục
máy phát, năng lượng được dùng để quay cánh tua bin là sức nước, khí ga, hơi
nước, tùy theo việc xử dụng nguồn năng lượng nào mà có tua bin có tên gọi khác
nhau:
 Tua bin dùng năng lượng nước được gọi là tua bin nước. Với các nhà máy
thủy điện công suất lớn có tốc độ quay của tua bin thấp khoảng 100 ÷ 150 vòng/
phút, các máy phát điện tua bin nước có tốc độ thấp thường dùng kiểu cực lồi.
Với các nhà máy thủy điện được thiết kế có mức chênh áp nước lớn thường có
tốc độ quay tua bin cao khoảng 1000 ÷ 1500 vòng/ phút.
 Các máy phát điện tua bin khí và tua bin hơi dùng các nguồn năng lượng

 Máy phát điện được đặt cao hơn tua bin nên rất thuận lợi trong việc giải
quyết độ cao của gian đặt máy ở trên mức nước lũ.
 Hiệu suất khai thác cột nước rất hiệu quả.
 Khung của stato được chế tạo thành nhiều phần nên rất thuận lợi cho
việc thi công lắp đặt phù hợp với loại máy phát điện có công suất lớn,
tốc độ thấp.
 Trục máy không có độ võng.
 Chiều dài của trục không hạn chế.
Nhược điểm:
 Giá thành xây lắp, chế tạo cao.
 Do không đặt được bánh đà nên bánh đà của máy phát phải dùng nhờ
rôto.
 Trang bị hệ thống bôi trơn khá phức tạp.
 Không thuận lợi trong việc sửa chữa bảo và dưỡng định kỳ, trên gian
máy phải được trang bị cẩu chuyên dụng loại lớn.


`

I.1.3 Phân loại theo cách bố trí ổ trục:
Trục máy phát được đỡ bằng ổ trục.
 Đối với loại máy phát kiểu trục ngang thì ổ trục được bố trí cả về hai phía
của rô to, hệ thống bôi trơn được bố trí ngay trên ổ trục.
 Đối với loại máy phát kiểu trục đứng thì dùng ổ đỡ kiểu treo và ổ đỡ kiểu ô.
 Ổ đỡ kiểu treo được ứng dụng rộng rãi cho các máy phát có công suất
lớn tốc độ thấp. Ổ đỡ tải trọng của phần quay được lắp đặt trên rô to, ổ hướng
trên được lắp cùng phía với ổ đỡ, ổ hướng dưới được lắp đặt phía dưới rô to
(Hình 3).
Hình 2
Mô tả máy phát điện trục ngang
eBook for YouTác giả: Trịnh Quang Khải

Hình 3 Ổ đỡ kiểu treo

Hình 4 Ổ đỡ kiểu ô Hình 6 Ổ đỡ kiểu bán ô

Hình 5 Ổ đỡ kiểu ô cải tiến
eBook for YouTác giả: Trịnh Quang Khải

pháp này là cuộn dây của máy phát ít bị bẩn, hiệu suất cao, ít chịu tác động của
nhiệt độ môi trường bên ngoài.
Hệ thống làm mát bằng không khí thổi tuần hoàn cưỡng bức được mô tả trên
Hình 9
Hình 9
Hệ thống làm mát bằng không khí thổi tuần hoàn cưỡng bức Hình 26 Máy phát trục đứng
Hình III.27 Máy phát trục ngang
Hình 7
Hình ảnh bên ngoài máy phát trục đứng
Hình 8
Hình ảnh bên ngoài máy phát trục ngang
eBook for YouTác giả: Trịnh Quang Khải

2
thuộc vào dạng khí trơ có khả năng cách điện cao không tác
dụng trực tiếp với khí ô xy O
2
.
Ở áp suất 0,5at thì:
 Mật độ của hỗn hợp khí H
2
thấp hơn khoảng 8 lần so với không khí.
 Hệ số truyền nhiệt từ bề mặt làm mát tới H
2
lớn hơn 1,35 lần so với
không khí.
 Độ dẫn nhiệt lớn hơn khoảng 5 lần so với không khí.
 Hệ số dẫn nhiệt của cách điện tăng lên được 1,3 lần.
Phương pháp làm mát bằng khí H
2
có nhiều ưu điểm vượt trội so với phương
pháp làm mát bằng không khí:
 Tổn hao ma sát và tổn hao thông gió của rôto tới khí làm mát giảm đi
khoảng 8 lần, hiệu suất làm mát tăng lên rất nhiều.
Thí dụ: Ở các máy phát điện có công suất từ 25 ÷ 100MW khi làm mát bằng
không khí, các tổn hao này cộng lại khoảng 25 ÷ 50% của các tổn hao. Khi làm
mát bằng khí H
2
thì mức tổn hao này chỉ còn 3 ÷ 6% của các tổn hao.
 Độ dẫn nhiệt của khí H
2
lớn hơn độ dẫn nhiệt của không khí rất nhiều tạo
ra khả năng tản nhiệt nhanh của các phần tử truyền nhiệt trong máy phát. Nếu
Tác giả: Trịnh Quang Khải
9
 Khi có kích nổ bằng ngọn lửa H
2
sẽ gây nổ tạo ra áp lực lớn. Áp lực tác
dụng khi xảy ra nổ không quá 3,5at do đó đường dẫn khí và vỏ máy phát cần có
độ bền cao chịu được áp lực tính toán đến 6at.
 Phải trang bị hệ thống sản xuất và bình khí nén để dự trữ H
2
.
Tuy nhiên việc làm mát bề mặt bằng khí H
2
chưa đủ để giảm sự chênh lệch
nhiệt độ từ cuộn dây tới khí làm mát. Sự tăng áp lực khí H
2
chủ yếu để giảm
nhiệt độ từ bề mặt rãnh nhưng lại không gây được ảnh hưởng đến sự chênh lệch
nhiệt độ còn lại. Bằng cách tăng áp lực khí trên đường ống sẽ giảm được nhiệt
độ trên cuộn dây và nâng cao được công suất cho máy phát trong khi kích thước
của máy phát vẫn giữ nguyên. Nếu áp lực khí H
2
trong hệ thống đường ống làm
mát đến 2at thì công suất giới hạn có thể đạt được đến 200MW.
I.1.4.2 Làm mát trực tiếp:
Làm mát trực tiếp là phương pháp cho khí H
2
,


R

 4. Với những máy phát điện có công suất nhỏ thì dây dẫn stato thường có
tiết diện nhỏ do đó không ứng dụng phương pháp làm mát bằng nước trực tiếp
qua dây dẫn.

eBook for YouTác giả: Trịnh Quang Khải
10


bằng gió tự nhiên
Kiểu thông gió
bằng ống ở lối ra
Kiểu thông gió bằng
ống ở lối ra và lối vào
Kiểu trao đổi nhiệt
làm mát bằng nước
Hình 11 Làm mát cho máy phát điện trục ngang
Hình 10
Sơ đồ hệ thống làm mát trực tiếp cho máy phát điện bằng nước eBook for YouTác giả: Trịnh Quang Khải
11
 Kiểu thông gió bằng ống ở lối ra và lối vào: cả đầu hút và đầu thải đặt ở bên
ngoài nhiệt độ phần bên trong không tăng tiếng ồn nhỏ cuộn dây và ống dẫn dễ
bị nhiễm bẩn phần bên ngoài lớn nên được bao bọc bằng vỏ chiếm diện tích mặt
bằng lớn thường áp dụng cho các máy nhỏ hơn 20MVA giá thành sản xuất cao
cần trang bị chống rung
 Kiểu trao đổi nhiệt làm mát bằng nước: không khí được sử dụng lại trong quá
trình làm mát việc làm mát không bị ảnh hưởng ngay cả khi phần bên trong có
nhiệt độ cao và không khí độ ẩm cao, tiếng ồn nhỏ, cuộn dây và ống dẫn không
bị nhiễm bẩn, phần bên ngoài lớn và phức tạp, chiếm diện tích mặt bằng lớn
thường áp dụng cho các máy công suất lớn giá thành sản xuất cao.

I.2 Đặc điểm cấu tạo:
Máy phát điện thủy lực có nhiều đặc điểm riêng và cấu tạo khác các máy phát

chặn hiệu ứng lân cận corona xảy ra giữa dây dẫn và lõi thép của stato người ta
eBook for YouTác giả: Trịnh Quang Khải
12
tráng phủ bên ngoài dây dẫn một lớp sơn bán dẫn có tác dụng cân bằng điện thế
giữa cuộn dây với lõi thép.
Cuộn dây stato được thiết kế có hình lục giác, thường được chế tạo theo
phương pháp quấn đồng tâm, quấn lớp kép, quấn bước ngắn…Hiện nay với các
máy phát điện công suất trung bình và lớn thường dùng áp dụng công nghệ mới
chế tạo kiểu cuộn dây một vòng, kiểu này không đòi hỏi cách điện giữa các vòng
dây, với công nghệ này giảm thiểu sự cố khi có ngắn mạch từ bên ngoài, nâng
cao được độ tin cậy của cách điện dây dẫn. Các máy phát có công suất lớn, dây
dẫn stato thường dùng dây rỗng bên trong dẫn nước hoặc khí làm mát, hiệu suất
làm mát tăng lên rất nhiều khi ứng dụng công nghệ này.
I.2.1.3 Khung stato:
Khung stato dùng để cố định lõi thép stato, chịu được toàn bộ tải trọng động
của stato. Tùy theo thường loại máy phát mà khung có cấu tạo riêng. Hầu hết
khung stato được làm bằng thép đúc được chế tạo liền với staoto có kết cấu gọn,
có độ bền cơ cao, có độ ổn định động cao. Loại khung hàn cũng được dùng
nhiều trong các nhà máy phát điện, loại này thuận tiện cho lắp ráp vận chuyển.
Khung có cấu tạo theo kiểu hàn liên kết các cột trụ thép đúc với nhau bằng các
đĩa thép đúc đặt phía trên cùng và dưới cùng. Vì các máy phát có công suất lớn
thường có kích thước lớn nên phải chế tạo kiểu khung tách rời từng nhóm để dễ
vận chuyển, khi đến nhà máy mới lắp ráp tổ hợp lại.
I.2.1.4 Bệ đỡ:
Bệ đỡ là phần tử quan trọng được thiết kế và tính toán có độ bền, kích thước,
độ rộng phù hợp với kích thước và tải trọng của từng máy phát bao gồm bản
thân stato và tất cả phần tải quay do nước từ tua bin tác động lên máy phát ở

máy phát kiểu treo xuyên qua rotor do vị trí của ổ đỡ, trong khi đó trục của máy
phát kiểu ô hoặc bán ô được chia thành phần trên và phần dưới được gắn cố định
với rô to bằng các bu lông. Trục phía trên của máy phát kiểu ô hoặc bán ô không
chịu tải lớn trừ vành trượt và ổ trục phía trên. Đối với hai loại này, ổ trục đỡ toàn
bộ tải trọng của phần quay và tải do nước tác động trục phía dưới, vành đỡ
thường được chế tạo là một bộ phận của trục chính.

14 I.2.2.2 Tay nối chữ thập:
Trục chính và vành rotor của máy phát được nối với nhau bằng tay nối chữ
thập. Các tay nối được làm bằng sắt đúc hoặc thép đúc bởi sức bền tốt của
chúng, nhưng gần đây thường sử dụng loại thép hàn. Đối với các máy cỡ nhỏ và
trung bình, vành và tay nối hình chữ thập được chế tạo thành một bộ phận (Hình
15).
I.2.2.3 Khung rôto:
Vành rôto dùng để giữ các cực từ, phải dẫn từ tốt. Vành phải chịu được lực
quay lớn ngay cả trong trường hợp trầm trọng nhất. Vành là một trong những
phần quan trọng trong thiết kế mặt cơ khí và cấu tạo của máy phát. Thường sử
dụng hai loại vành: loại đĩa hợp nhất làm bằng thép rèn và loại xéc măng hình
tròn hoặc hình quạt. Rãnh hình đuôi én hoặc hình đầu búa được tạo ra trên vành
để lắp các cực từ (Hình 16).
Rãnh hình đầu búa
Hình 16 Kiểu rãnh ghép cực từ rô to vào vành
eBook for YouTác giả: Trịnh Quang Khải
15
I.2.2.4 Các cực từ:
Cực từ nằm hầu hết ở phía ngoài của rotor. Vì vậy chúng phải chịu lực ly tâm
lớn. Chúng được chú ý trong thiết kế, chế tạo và bao bọc. Hai phương pháp gắn
cực từ vào vành thường được sử dụng là loại mộng đuôi én và loại bu lông. Chốt
bằng thép được sử dụng để xiết chặt cực từ. Để hạn chế tổn thất do dòng rò trên
các cực từ, chúng được cấu tạo bởi các lá thép với đặc tính từ hoá tốt. Dây dẫn
bằng đồng thường được sử dụng làm cuộn dây rotor. Mica thường được sử dụng
làm cách điện. Do tác động của lực li tâm, vòng đệm cách điện được chèn vào
giữa cuộn dây rotor và lõi từ, giấy gốm hoặc thừng xi măng được sử dụng để
chịu áp lực tránh tính trạng biến dạng có thể xảy ra.
Do điện áp của cực từ không quá cao: 220V, 440V nên sức bền cơ khí và khả
năng cách điện không cần phải đáp ứng cùng một lúc (hình 4-16; hình 4-17).
4
Hình 17 Cuộn chống rung lắp trên rô to
1. Mảnh cực từ
2. Cuộn chống rung
3. Vòng đai
4. Cuộn dây kích thích
eBook for YouTác giả: Trịnh Quang Khải
16
I.2.2.6 Ổ trục
Ổ trục thường được sử dụng để đỡ trọng lượng của phần quay của tổ máy phát
và tua bin nước và đỡ tải của nước, ngăn chặn độ lệch trục và rung của trục
chính. Chúng thường được phân loại thành ổ đỡ và ổ hướng.
 Ổ đỡ:
Ổ đỡ của máy trục đứng phải đỡ hầu hết tải trọng của các phần quay là tua bin
nước và máy phát và các lực hướng theo phương thẳng đứng do nước tác động
vào bánh xe công tác trong tua bin. Tải trọng này khá lớn có thể vượt quá 1 tấn
trong các máy phát công suất lớn.
 Ổ hướng:
Các ổ hướng cũng có bề mặt làm bằng kim loại Babit. Ổ hướng được trang bị
hộp đựng dầu (có hộp chắn dầu ngắn không cho dầu chảy xuống trên trục và các
bình chứa dầu rò để thu lại dầu bị nhỏ giọt xuống). Đối với loại treo, ổ hướng
phía trên thường được đặt trong cùng hộp dầu với ổ đỡ. Đối với loại dạng ô và
bán ô, ổ hướng phía dưới được đặt trong cùng một hộp dầu với ổ đỡ.
Lực đỡ của ổ hướng không lớn như ổ đỡ và dao động trong khi điều chỉnh ban
đầu của tổ máy. Các thành phần của lực này bao gồm lực điện từ không cân
bằng giữa rotor và stator do các khe hở khí không đều và lực quay của trục
chính. Ổ trục loại xéc măng dễ điều chỉnh và thường được sử dụng gần đây thay

17
và tiếp xúc với bánh đỡ. Bề mặt trượt của má đỡ được bao phủ bằng kim loại
mềm như Babbitt hoặc bạch kim. Sensor đo nhiệt độ được chỉ đặt dưới bề mặt
trượt của một hay hai má đỡ của một tổ máy.
Ổ đỡ loại lò xo có nhiều lò xo cứng được trang bị trên bệ ổ đỡ để đỡ phần má
đỡ có bề mặt bằng kim loại Babit (Hình 18). Má đỡ có thể điều chỉnh góc của nó
so với bánh đỡ trong giới hạn cho phép của các lò xo. Khi bánh đỡ quay, má đỡ
hơi nghiêng đi một chút tạo ra lớp đệm dầu bôi trơn giữa bánh đỡ và má đỡ.
Ổ trục Kingsbury là loại ngõng trục (Hình 18), đối với loại này, má đỡ được
đặt trong ngõng trục.
Ổ đỡ có dầu bôi trơn thường được làm mắt bằng ống nước làm mát trong hộp
dầu của ổ trục. Loại bôi trơn tuần hoàn dầu đôi khi được ứng dụng cho các tổ
máy có công suất lớn hoặc hệ thống làm mát hỗn hợp là một trong hai phương
pháp được sử dụng.


eBook for YouTác giả: Trịnh Quang Khải
18
I.2.2.7 Phanh:
Khi động năng tích luỹ trong phần quay của tua bin nước và máy phát thì
không dễ dứng chúng trong một khoảng thời gian ngắn ngay sau khi ngừng cung
cấp nước vào tua bin mà không có biện pháp cơ khí nào tiêu thụ năng lượng này.
Tua bin nước và máy phát có tiêu hao về cơ khí tiêu thụ động năng này, ví dụ
tiêu hao ma sát của ổ đỡ, ổ hướng và vành góp điện, tổn thất khe hở trong khi
khởi động v.v… Tuy nhiên, các tiêu hao của ổ đỡ và các loại ổ khác thường rất
nhỏ. Hơn nữa, khi tổ máy quay ở tốc độ thấp trong quá trình dừng máy trong
một khoảng thời gian dài, dầu bôi trơn giữa bánh đỡ và má đỡ giảm và trở nên
không ổn định, đặc biệt là đối với các tổ máy trục đứng. Nó có thể gây ra quá
nhiệt hoặc đốt cháy ổ trục. Vì vậy vận hành ở tốc độ thấp bị cấm trong một
khoảng thời gian cho trước, phanh trong của các tổ máy thuỷ điện được trang bị
với mục đích này. Phanh thường được sử dụng để tiêu thụ động năng chạy theo
đà của phần quay nghĩa là phanh không được làm việc khi có nước chảy vào tua
bin. Phanh thường làm việc khi tốc độ nhỏ hơn 30% tốc độ quay định mức theo
điều khiển tuần tự tự động.
Phanh gồm có loại: điện và loại cơ khí.
Phanh cơ khí được tác động bằng khí nén hoặc thuỷ lực. Đối với các tổ máy
trục đứng, vành phanh được đặt dưới rotor. Má phanh và kích được đặt phía trên
của giá phía dưới (đối với tổ máy trục ngang, bánh đà thường được sử dụng thay
cho vành phanh). Một số vật liệu dạng thớ được sử dụng làm bề mặt trượt của
má phanh cơ khí. Hình 19 minh hoạ ví dụ về phanh. Nếu phanh được sử dụng
trong khi máy đang chạy ở tốc độ cao, nhiệt độ của bề mặt má phanh tăng lên
quá mức do ma sát, nó có thể gây nứt vành phanh hoặc làm lỏng vành. Phanh có
khí thường được thiết kế để giữ rotor để kiểm tra và sửa chữa ổ đỡ. I.2.2.8 Thiết bị ngăn dòng dọc trục:
Trong một số trường hợp điện áp xuất hiện giữa hai đầu của trục, và dòng điện
khép mạch chạy từ đầu này đến đầu kia của trục chính qua ổ trục. Dòng điện này
được gọi là dòng điện dọc trục và dòng điện này thường phá huỷ lớp dầu bôi
trơn giữa bánh ổ trục và má ổ trục. Do dòng điện này, bề mặt của ổ trục và bề
mặt của trục biến mầu và trong một số trường hợp tia lửa có thể xuất hiện dạng
vệt đen. Khi dòng điện dọc trục lớn quá lớp dầu bôi trơn bị phá huỷ và và ổ trục
sẽ bị phá huỷ bởi quá nhiệt. Dòng điện dọc trục thông thường là dạng xếp chồng
dòng xoay chiều và một chiều. Trong một vài trường hợp, dòng điện và điện áp
có thể lên đến 5000A và 50V. Dòng điện dọc trục thường xảy ra bởi sự phân bố
từ trở của lõi thép theo chu vi không đều, từ trường xoay chiều cắt trục chính và
sinh ra điện áp xoay chiều giữa hai đầu của trục. Sự phân bố không đồng đều từ
trở thường xuất hiện khi lõi thép stator được lắp ráp từ nhiều phần hình quạt
hoặc khi stator được chia thành nhiều phần. Không thể loại bỏ hoàn toàn tất cả
nguyên nhân có thể gây ra dòng điện trên trục. Biện pháp chung nhất để ngăn
chặn dòng điện này là sử dụng vật liệu cách điện trong mạch dòng điện dọc trục.
vật liệu cách điện thường được sử dụng chèn vào giữa giá đỡ và bệ ổ trục ở các
máy điện trục ngang.
Đối với máy điện trục đứng, các điện thường được chèn vào phía dưới của má
đỡ, giữa bánh đỡ và vành đỡ, và giữa giá đỡ và khung stator. Trong một số
trường hợp, cách điện được chèn vào giữa phần trên và phần dưới của ổ hướng
và bệ đỡ ổ hướng. Ngoài ra, còn phải bọc cách điện cho các ống nước làm mát
và ống dầu vì chúng có thể tạo ra dòng điện dọc trục do khép kín mạch vòng
Khi không sử dụng
Khi sử dụng
Lò xo

16. Vành phanh
14. Bể dầu
15.Vành rotor
12. Dây dẫn từ
13. Giá đỡ bể dầu chữ thập
19.Giá đỡ ổ trục trên
20. Đầu dò nhiệt độ kk
22. Hộp chắn dầu trên
24. Bể dầu phía trên
25. Đĩa bệ ổ đỡ
28.Bánh đỡ
29.Vành đỡ
30. Ống dầu trên
31.Vòng hãm
23. Ổ hướng trên
38. Bộ làm mát bằng dầu phía dưới
37. Ống dầu dưới
36. Bể dầu dưới
34. Ổ hướng dưới
35.Hộp chắn dầu dưới
32.Bộ làm mát dầu
33. Giá đỡ ổ trục phía dưới
39. Đĩa vỏ phía dưới
40. Đầu dò nhiệt độ kk
41. Phanh
42. Nắp và vỏ
44.Nắp móng stator
45. Nêm
46.Măngsông
47.Bulông néo


8. Đĩa cuối cực từ rotor
pole end plate
9.Cuộn dây rotor
10.Vành cách điện trên
11.Vành cách điện dưới
3.Chốt kẹp
14.Bể dầu
15.Vành rotor
12.Dây dẫn từ
13.Vòng chống rung
26. Đĩa bệ ổ đỡ
27. Đĩa đỡ lò xo ổ đỡ
28 Hộp lò xo ổ đỡ
29.Má đỡ
30.Bánh đỡ
31.Hộp chắn dầu
32.Bể dầu dưới
33.Baffek
34.Hộp bệ đỡ ổ hướng dưới
35.Giá đỡ ổ hướng dưới
36. Ổ hướng dưới
37.Vít điều chỉnh ổ hướng dưới
38.Hộp chắn dầu dưới
39.Bộ làm mát dầu
40. Đĩa nắp phía dưới
41.Phanh
42.Máy đo khí dưới
43.Vỏ và nắp
44.Bộ làm mát khí
45.Nắp móng stator

53.Giá đỡ ổ hướng trên
54. Ổ hướng trên
55.Hộp chắn dầu trên
56.Hộp chắn dầu trên
57. Ống dầu trên
58. Vòng kẹp
59.Măngsông ổ hướng
60.Vành góp
61.Thanh truyền kẹp chổi than
62.Khung stator máy kích thích
63.Cực từ máy kích thích
64. Cuộn kích từ của máy kích thích
65. Lỗ trên rotor máy kích thích
66. Cuộn dây rotor máy kích thích
67. Hộp chắn dầu máy kích thích
68. Bộ đảo mạch máy kích thích
69.Khung stator máy kích thích phụ
70.Cực từ máy kích thích phụ
71.Cuộn dây máy kích thích phụ
72.Lỗ trên rotor máy kích thích phụ
73.Cuộn dây rotor máy kích thích phụ
74.Bộ đảo mạch máy kích thích phụ
75.P.M.G. (máy phát điều chỉnh)



eBook for YouTác giả: Trịnh Quang Khải
23

4. Máy đo dầu
5. Vòng dầu
6. Thiết bị phun dầu
7. Đĩa vỏ
8. Hộp chắn dầu
9. Yoke
10. Bulông bắt yoke
11. Đĩa cuối cực từ
3. Khối kim loại
12. Cuộn kích thích
13. Chống rung
14. Cực từ
15. Lõi thép Stator
17. Đĩa cuối
18. Bulông siết lõi thép
19. Cuộn dây stator
20. Vỏ cuối
21. Vỏ cuối
22. Phần kẹp chổi than
23. Vành góp
24. Vít trên lắp ổ trục
16. Khung stator
25. Ống dẫn dầu áp lực
26. Ống cung cấp dầu áp lực
27. Ống thoát dầu
28. Giá bệ stator
30. Bulông bắt móng
31. Dây dẫn
32. Bình khí
33. Bộ làm mát khí

3. Các chế độ hoạt động cho phép khi điện áp và tần số dòng điện sai lệch so
với trị số định mức:
a. Máy phát giữ nguyên công suất định mức cùng với hệ số công suất định
mức khi có sai lệch cùng một lúc điện áp đầu ra  5% và tần số  2,5% so với trị
số định mức. (Lúc này, khi làm việc với sự tăng cao điện áp và giảm thấp tần số
tổng các giá trị sai lệch tuyệt đối của điện áp và tần số không được quá 6%
b. Máy phát được phép làm việc kéo dài ở trị số sai lệch giới hạn của điện
áp so với định mức không quá  10%. Khi có sai lệch điện áp từ  5% đến 
10%, phụ tải cho phép của máy phát phải giảm xuống, (tham khảo bảng 4-1).
Bảng 1
Phụ tải cho phép khi thay đổi điện áp
Máy phát thuỷ lực của NMTĐ Trị An (Kiểu CB3-1230/140-56 TB4; 117,6/100
MVA/MW, 13,8 KV)
Điện áp so với định
mức, %
110
108
107
105
100
95
92
90
Dòng Stato so với định
mức, %
60
70
75
95
100

90
Dòng Stato so với định
mức, %
81
87
96
95
100
105
105
105
Công suất biểu kiến so với
định mức, %
90
94
89
100
100
100
96
94
II.3 Chế độ hoạt động cho phép khi có sai lệch hệ số công suất so với định
mức
1. Máy phát điện được phép hoạt động kéo dài trong chế độ bù đồng bộ quá
kích thích ở điện áp định mức và ở chế độ bù đồng bộ thiếu kích thích ở điện áp
định mức với công suất được quy định cho từng loại máy.
2. Khi máy phát hoạt động ở các chế độ qúa kích thích và thiếu kích thích
với các hệ số công suất khác nhau, phụ tải cho phép được xác lập theo biểu đồ
phụ tải ở hình 4-18.
3. Điều chỉnh phụ tải khi máy phát hoạt động ở các chế độ ghi trên hình 4-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status