TIỂU LUẬN: VẤN ĐỀ ĐỘC QUYỀN TRONG KINH DOANH XĂNG DẦU TẠI VIỆT NAM pot - Pdf 21

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ
Đề tài:
VẤN ĐỀ ĐỘC QUYỀN
TRONG KINH DOANH XĂNG DẦU TẠI VIỆT
NAM
Giảng viên Học viên thực hiện
TS. Lê Khương Ninh Nguyễn Ngọc Hiền
MSHV: 130908
Lớp Cao học KTNN.K16
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
Tháng 10 năm 2009
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 2
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU……………………………………… 1
1.1. Đặt vấn đề:…………………………………………………… 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu…………………………………………………….1
1.2.1. Mục tiêu chung……………………………………………………… 1
1.2.2. Mục tiêu cụ thể ……………………………………………………….1
1.3. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………… 1
1.4. Phạm vi nghiên cứu………………………………………… …………2
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN…………………………………………….3
2.1. Mô hình độc quyền…………………………………………………… 3
2.2. Xu hướng dẫn đến độc quyền………………………………………… 3
2.2.1. Chi phí sản xuất……………………………………………………….3
2.2.2. Độc quyền từ nguyên nhân pháp lý………………………………… 4
2.2.3. Độc quyền từ xu hướng sáp nhập của các công ty lớn……………… 4
2.3. Yếu tố xác định loại hàng hóa………………………………………… 4
2.4. Nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận của nhà độc

1.2.2. Mục tiêu cụ thể
(1). Phân tích thực trạng tình hình kinh doanh xăng dầu sau khi áp dụng cơ
chế điều chỉnh giá do doanh nghiệp quyết định có sự quản lý của nhà nước.
(2). Tác động của việc tăng và giảm giá xăng dầu ảnh hưởng đến nhà sản
xuất và người tiêu dùng.
(3). Đề xuất giải pháp trong việc điều chỉnh giá xăng dầu.
1.3. Phương pháp nghiên cứu
Mục tiêu (1) sử dụng hệ số co giãn để xác định thị trường cạnh tranh độc
quyền.
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 4
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
Mục tiêu (2) sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp nói lên sự độc quyền
của ngành kinh doanh xăng dầu.
Mục tiêu (3) sử dụng phương pháp phân tích để tổng kết và đề xuất giải
pháp.
1.4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu vấn đề độc quyền của lĩnh vực kinh doanh xăng dầu trong
nước và sự tác động này đến nhà sản xuất và người tiêu dùng qua việc tăng giá của
doanh nghiệp.
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 5
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Mô hình độc quyền
Đối lập với thị trường canh tranh hoàn hảo là thị trường độc quyền. Thị
trường độc quyền đối với một loại hàng hóa nào đó là thị trường mà trong đó chỉ có
một nhà cung ứng hàng hóa đó. Nhà cung ứng duy nhất này được gọi là nhà độc
quyền. Do là người duy nhất cung ứng hàng hóa ra thị trường nên đường cung của
nhà độc quyền chính là đường cung của ngành và đường cầu của thị trường chính
là đường cầu đối với sản phẩm của nhà độc quyền.
Một ngành được xem là độc quyền hoàn toàn khi hội đủ hai điều kiện sau:

thế này diễn ra do những nguyên nhân sau:
- Áp lực của việc tìm kiếm khách hàng. Việc sáp nhập của các công ty sẽ mở
rộng được thị trường cho từng công ty thành viên, giúp cho các công ty gia tăng thị
phần và đi đến chiếm lĩnh thị trường, nhằm tận dụng lợi thế kinh tế theo quy mô.
Do đó, việc sáp nhập có thể tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thâu tóm
thị trường và hình thành vị thế độc quyền.
- Giảm chi phí sản xuất – kinh doanh.
2.3. Yếu tố xác định loại hàng hóa
Hệ số co giãn: Lượng hóa sự thay đổi của số cung và số cầu theo sự thay đổi
của giá hàng hóa.
- Công thức:
e
QD,P
= [ΔQ
D
/Q
D
(%)]/[ΔP/P(%)] = (ΔQ
D
/ΔP)x(P/Q
D
) = (dQ
D
/dP)x(P/Q)
= f’(P)x(P/Q
D
) = f’(P)x(P/f(P)’) với Q
D
= f(P)
- Ý nghĩa: Số phần trăm thay đổi của cầu do 1% thay đổi của giá.

HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 8
P
-a/b
Vùng co giản

P
A
A: Điểm co giản đơn vị
Vùng không co giản
0 Q
Q
A
a
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
tại mức sản lượng Q
0
. Giá do công ty tính là P
0
(giá mà công ty có thể tính tại mỗi
mức sản lượng với đường cầu cho trước). Do giá P
0
vượt quá tổng chi phí trung
bình (AC
0
) tại mức sản lượng này, công ty sẽ thu được lợi nhuận. Mặc dù vậy, lợi
nhuận độc quyền này khác với lợi nhuận mà các công ty cạnh tranh hoàn hảo nhận
được do những lợi nhuận độc quyền này sẽ được duy trì về dài hạn (do các rào cản
với việc gia nhập là đặc trưng của một thị trường độc quyền)
Hình 2: Nguyên tắc đối đa hóa lợi nhuận của nhà độc quyền
Tất nhiên, một công ty độc quyền cũng có thể chịu lỗ. Biểu đồ dưới đây

0
B
AC
0
A

D
MR
q
0

Q
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
Hình 3: Biểu hiện sự thiệt hại của nhà độc quyền
Những ai không nghiên cứu kinh tế thường tin một nhà độc quyền có khả
năng chọn bất kỳ mức giá nào mà họ muốn và có thể luôn nhận được lợi nhuận cao
hơn bằng việc tăng giá. Dù vậy, như trong tất cả các cơ cấu thị trường khác, nhà
độc quyền bị kiềm chế bởi mức cầu sản phẩm của họ. Nếu một công ty độc quyền
muốn tối đa hóa lợi nhuận, công ty phải lựa chọn mức sản lượng mà tại đó
MR=MC. Điều này quyết định mức giá duy nhất được tính trong ngành kinh
doanh. Một sự tăng giá lớn hơn mức giá này sẽ làm giảm lợi nhuận của công ty.
2.5. Chính sách phân biệt giá
Chính sách phân biệt giá hoàn toàn: là chính sách mà nhà độc quyền ấn
định cho mỗi (nhóm) khách hàng một mức giá tối đa mà người đó có thể trả.
Chính sách phân biệt giá đối với hai thị trường: Các công ty hoạt động
trong các thị trường không phải thị trường cạnh tranh hoàn hảo có thể tăng mức lợi
nhuận bằng việc phân biệt giá cả dựa vào hệ số co giản của cầu, một thực tế trong
đó mức giá cao hơn được tính với những khách hàng có cầu không co giãn nhất với
sản phẩm. Điều kiện cần thiết cho việc phân biệt giá cả gồm:
Công ty không thể là người làm giá, Q
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
Hình 4: Chính sách phân biệt giá đối với hai thị trường
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 11
P Cầu ít co giản
p
0

MC
MR D
Q
P Cầu co giản nhiều

p
0

MC

Tại điều 11 Luật cạnh tranh hiện hành đã định nghĩa rõ: “doanh nghiệp được
coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường
liên quan…”; tại Điều 9 cũng quy định “Cấm các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, và 5 Điều 8 của Luật này khi các bên tham gia
thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên.”
Với tỷ lệ thị phần lên tới 60% của Petrolimex hiện nay, rõ ràng là một con số
đảm bảo an toàn cho vị thế của Petrolimex trên thị trường xăng dầu trong nước.
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 12
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
Hơn nữa nếu đơn vị chiếm 60% thị phần cung cấp nguồn nhiên liệu này đã
kiềm giá thì cũng chẳng có đơn vị nào tăng giá. Bởi lẽ, nếu giá thế giới mà tăng
cao, doanh nghiệp khác bán bằng giá của Petrolimex cũng đã là khó khăn.
Có thể nói, xăng dầu là mặt hàng chiến lược, khá nhạy cảm và chủ trương
tăng quyền tự chủ cho doanh nghiệp để thị trường xăng dầu vận hành theo cơ chế
thị trường, đảm bảo quyền lợi của các bên ngay lập tức nhận được sự đồng tình,
ủng hộ của nhiều người. Tuy nhiên, một số ý kiến khác vẫn băn khoăn về việc liệu
quyền lợi của người tiêu dùng có được đảm bảo khi doanh nghiệp được tự quyết
định giá theo ý mình, cũng như cần làm gì để tránh tình trạng chuyển từ độc quyền
Nhà nước sang độc quyền doanh nghiệp.
Nguyên nhân chính của những tranh cãi trên là do Petrolimex đang chiếm
với khoảng 60% thị phần chi phối thị trường. Vì các sản phẩm xăng dầu gần như
đồng nhất và dịch vụ tương đối đơn giản nên các nhà phân phối xăng dầu khác đều
chạy theo giá bán của Petrolimex, vì nếu họ bán với giá cao hơn sẽ mất khách, còn
bán thấp hơn thì bị giảm lợi nhuận. Đối với Petrolimex, một khi có khả năng chi
phối thị trường thì công ty này có thể “nâng giá nhanh, hạ giá chậm” và đương
nhiên là các đơn vị khác sẽ được “ăn theo”. Kết quả là sức mạnh độc quyền (hay
tựa-độc-quyền) của Petrolimex đã triệt tiêu cơ chế thị trường cạnh tranh và làm
giảm phúc lợi của người tiêu dùng.
Khi kỷ luật của cạnh tranh không phát huy tác dụng thì Nhà nước có cơ sở để
can thiệp thông qua các biện pháp điều tiết nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế và bảo

trên với doanh nghiệp này.
Khó khăn thứ hai của việc điều tiết giá là làm thế nào để xác định mức lợi
nhuận hợp lý vì các doanh nghiệp xăng dầu có thể lập luận rằng ngành kinh doanh
này tiềm ẩn nhiều rủi ro nên phải được bù đắp bằng một mức lợi nhuận trên trung
bình. Một lần nữa, việc xác định mức lợi nhuận trung bình của ngành kinh doanh,
đồng thời so sánh với các công ty cạnh tranh trong và ngoài nước có thể giúp cơ
quan điều tiết khắc phục phần nào khó khăn này.
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 14
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
Bên cạnh hai khó khăn trên, cơ quan điều tiết cũng phải quan tâm đến một số
vấn đề kỹ thuật quan trọng như xác định giá cơ sở và khi nào thay đổi giá cơ sở.
Như đã thảo luận ở trên, trong cơ cấu chi phí của các doanh nghiệp xăng dầu có
một số khoản mục có tính chủ quan, không quan sát được, vì vậy không nên đưa
các khoản mục chi phí này vào trong giá cơ sở. Tốt nhất là dùng ngay giá xăng dầu
thế giới - là mức giá hoàn toàn khách quan và minh bạch làm giá cơ sở. Về tần suất
thay đổi giá cơ sở, nếu Nhà nước muốn bình ổn giá thì chỉ nên điều chỉnh giá hay
thuế suất khi giá cơ sở biến động đủ lớn (trên 5% chẳng hạn).
Ngoài giá bán còn có hai công cụ điều tiết khác, đó là điều tiết chất lượng
dịch vụ và quy định việc gia nhập - rút lui khỏi ngành kinh doanh. Về chất lượng
dịch vụ, quan trọng nhất là các tiêu chuẩn bảo đảm an toàn và bán đúng bán đủ cho
khách hàng. Về quy định gia nhập - rút lui khỏi ngành kinh doanh, Nhà nước cần
tăng cường tính cạnh tranh cho thị trường bằng cách cho phép sự tham gia của
nhiều đầu mối nhập khẩu, đồng thời cần giảm bớt tính độc quyền trong hoạt động
phân phối xăng dầu.
Không nên hi vọng rằng cơ chế thị trường trong điều kiện tồn tại độc quyền
sẽ nâng cao phúc lợi cho người tiêu dùng và cải thiện hiệu quả cho nền kinh tế. Nói
cách khác, một khi còn độc quyền và thiếu cạnh tranh thì cơ chế thị trường sẽ
không thể vận hành hiệu quả. Khi ấy, cần đến hoạt động điều tiết một cách công
bình và có hiệu lực của Nhà nước, mà điều này lại phụ thuộc khả năng tách bạch
mục tiêu kinh doanh ra khỏi các mục tiêu chính trị - xã hội và khả năng minh bạch

có thể lý giải sau:
Do thị trường xăng dầu Việt Nam không có cạnh tranh. Tuy có hơn 11 doanh
nghiệp nhưng đều thống nhất chung một giá bán. Thị trường do Tổng Công ty
Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) áp đảo. Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn cạnh
tranh về giá đều không có khả năng thắng.
Cơ chế điều hành giá xăng dầu hiện nay căn cứ vào lỗ, lãi từng lít của Doanh
nghiệp là chưa phù hợp. Thứ nhất, doanh nghiệp có quá trình nhập khẩu, dự trữ dài,
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 16
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
hạch toán sau một thời gian. Thứ hai, doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng
khác nhau; lỗ, lãi của các mặt hàng bù chéo cho nhau. Do đó, mức lỗ, lãi của mỗi
doanh nghiệp phải tính trên tổng thể, không phải căn cứ lỗ, lãi từng lít để cho tăng
hoặc giảm giá bán. Mức lỗ, lãi được tính từ giá bán đến chi phí đầu vào. Gần đây,
sự thiếu ổn định về thuế nhập khẩu, trả nợ ngân sách làm vênh giữa chi phí đầu
vào của doanh nghiệp trong những thời điểm khác nhau. Nếu lách được lỗ hổng
này, doanh nghiệp có thể thu lợi nhuận lớn.
Liên quan đến chi phí của doanh nghiệp như định mức hao hụt, chi phí đại
lý , lâu nay chúng ta không rà soát chặt chẽ, kể cả khi có kết quả kiểm toán để làm
rõ lỗ, lãi là do giá bán lẻ chậm điều chỉnh hay chi phí bất cập. Trong đó có cả chi
phí lương, vốn, rủi ro tỉ giá hối đoái và các chi phí sản xuất khác. Tóm lại, hệ thống
xuất nhập khẩu xăng dầu chưa được hạch toán và đối xử giống một doanh nghiệp
đang kinh doanh trên thị trường với một mặt hàng chiến lược đặc biệt. Thay vào
đó, doanh nghiệp xăng dầu gần như là một bộ phận nối dài của cơ quan quản lý
Nhà nước.
Tuy nhiên, việc doanh nghiệp khi muốn tăng giá phải đăng ký trước 3 tháng:
tại sao chúng ta vẫn lúng túng trong điều hành giá xăng dầu? Nguyên nhân sâu xa
vì trong cơ cấu giá xăng dầu, khoảng 50% là thu về ngân sách Nhà nước (thuế xuất
nhập khẩu và các khoản thu khác). Tỉ lệ thu về ngân sách khá lớn nên việc lấy giá
xăng trong nước so sánh với giá của nước khác không hẳn đã hợp lý do mức thu về
ngân sách của mỗi nước khác nhau nên tác động trực tiếp đến giá bán lẻ khác nhau.

thêm bình quân khoảng 30 - 40.000 đồng so với trước; hơn nữa, mặt hàng xăng dầu
tương đối không co giãn so với giá - nghĩa là giá tăng nhưng người sử dụng phương
tiện vận tải cơ giới vẫn phải sử dụng do không có nhiên liệu khác thay thế, do vậy
khi giá xăng dầu tăng thì người tiêu dùng có ít thu nhập hơn dùng để chi tiêu cho
các hàng hóa khác).
Thứ hai, sự gia tăng này tác động đến nền kinh tế theo các cách thức mà rất
khó để các nhà hoạch định chính sách có thể quản lý được: một mặt, sự gia tăng giá
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 18
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
xăng dầu tạo áp lực gây ra lạm phát thông qua hiện tượng giá cánh kéo. Do xăng
dầu là yếu tố đầu vào của hầu như tất cả các ngành kinh tế khác, nên giá đầu vào
tăng, trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi, sẽ kéo theo giá đầu ra sản
phẩm tăng lên dẫn đến chỉ số giá cả nói chung gia tăng, ảnh hưởng đến sức mua
của xã hội và gây ra áp lực lạm phát. Chi phí sản xuất tăng sẽ tác động đến năng
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam.
Ngoài ra, còn không ít những chiêu thức mà đại lý sử dụng móc túi người
tiêu dùng trong lĩnh vực xăng dầu như; gian lận trong đo lường và kinh doanh sản
phẩm xăng dầu. Đây là thực trạng mà nhiều năm qua người tiêu dùng Việt Nam đã
phải gánh chịu. Năm 2008, giá xăng trong nước gặp nhiều biến động do tình hình
thế giới càng khiến nhiều gian thương gia tăng hành vi “ móc túi ” khách hàng bằng
nhiều thủ đoạn tinh vi hơn.
Theo một số thống kê chưa chính thức, những kiểu đong thiếu xăng, gắn chíp
điện tử, pha xăng dỏm… đã khiến người tiêu dùng thiệt hại với giá trị ước tính lên
đến vài trăm tỷ đồng. Cũng trong năm nay, các cơ quan thông tấn báo chí đã đồng
loạt lên tiếng phê phán các hành vi gian lận trong đo lường xăng dầu, đồng thời Hội
Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam kiến nghị truy tìm và xử lý hình sự đối với
những tổ chức, cá nhân buôn bán, cung cấp những thiết bị, phụ kiện tiếp tay cho
việc thực hiện gian lận thương mại.
Chương 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
4.1. Kết luận:

thất đối với nền kinh tế.
HVTH: Nguyễn Ngọc Hiền Trang 20
Tiểu luận môn học Kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
- Nhà nước cần xác định rõ và bóc tách giữa 2 nhiệm vụ về bản chất khác
hẳn nhau là: Kinh doanh xăng dầu như mục đích tự thân của các doanh nghiệp kinh
doanh xăng dầu, với việc dự trữ xăng dầu bảo đảm an ninh năng lượng như một
mục tiêu chính trị quốc gia.
- Nhà nước cần xác định được giá sàn và giá trần trên cơ sở phân nhóm đúng
vai trò của từng nhân tố cấu thành giá bán lẻ xăng dầu.
- Nhà nước cần cho phép tự động điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu theo xu
hướng và cạnh tranh thị trường, đồng thời tăng cường các chế tài của Nhà nước và
giám sát xã hội.
- Thúc đẩy quá trình tự do hoá kinh doanh xăng dầu, tạo cạnh tranh lành
mạnh đầy đủ trên thị trường bán buôn và bán lẻ xăng dầu Việt Nam. Khi đó, Nhà
nước vẫn thu được thuế, các doanh nghiệp có thêm động lực và cơ hội đầu tư phát
triển, còn người tiêu dùng thì được lợi cả về chất lượng dịch vụ và giá cả do các
“nhà xăng’ cung cấp.
- Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng tiến hành kiểm toán toàn diện và
khách quan các chi phí kinh doanh hiện hành và chuẩn mực của các hoạt động kinh
doanh xăng dầu, lập và công khai hoá cơ sở dữ liệu có liên quan (giá mua, chi phí
vận tải, duy trì hệ thống dự trữ và phân phối xăng, lợi nhuận định mức và các nghĩa
vụ tài chính của kinh doanh xăng dầu…), để các cơ quan chức năng và giới tiêu
dùng có cơ sở khoa học minh bạch cho việc tính và kiểm tra “giá chuẩn” trên thị
trường kinh doanh xăng dầu trong nước.
- Các cơ quan chức năng nên thường xuyên thanh tra, kiểm tra việc chấp
hành chính sách pháp luật trong hoạt động sản xuất kinh doanh xăng dầu đối với
các doanh nghiệp nhằm đảm bảo sự công bằng cho doanh nghiệp và người tiêu
dùng.
- Pháp quy hoá các quy định và yêu cầu quản lý nhà nước có liên quan đến
chất lượng, định giá và quản lý giá xăng dầu, bảo đảm cạnh tranh tự do và minh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status