TạpchíKhoahọcĐHQGHN,KhoahọcTựnhiênvàCôngnghệ26,Số3S(2010)370‐383
370
_______
Mức độ và xu thế biến đổi của nắng nóng ở Việt Nam
giai đoạn 1961-2007
Chu Thị Thu Hường
1,
*, Phạm Thị Lê Hằng
2
, Vũ Thanh Hằng
3
, Phan Văn Tân
3
1
Trường Đại học Tài Nguyên và Môi trường Hà Nội, 41A Đường Phú Diễn, Cầu Diễn, Hà Nội, Việt Nam
2
Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương, 4 Đặng Thái Thân, Hà Nội, Việt Nam
3
Khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN,
334 Nguyễn Trãi, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 11 tháng 8 năm 2010
Tóm tắt. Số liệu nhiệt độ cực đại ngày (Tx) tại 57 trạm quan trắc trên 7 vùng khí hậu Việt Nam
được sử dụng để xác định mức độ và xu thế biến đổi của nắng nóng (NN). Kết quả chỉ ra rằng, NN
thường xuất hiện từ tháng 3 đến tháng 9 (ở các vùng từ B1 đến N1) và từ tháng 2 đến tháng 6 (ở
vùng N2 và N3). Trong khi đó, nắng nóng gay gắt (NNGG) thường bắt đầu sau và kết thúc trước
NN khoảng 1 tháng
ở hầu hết các vùng khí hậu. Trên lãnh thổ Việt Nam, NN xảy ra nhiều nhất ở
vùng B4 và có xu hướng giảm dần về phía bắc và phía nam của lãnh thổ. NN (NNGG) thường có
biến động mạnh hơn ở những trạm và trong những tháng có số ngày NN (NNGG) lớn. NN có xu
thế tăng ở hầu hết các trạm trong thời kỳ 1961-2007 và tăng nhanh hơn trong thời kỳ 1991-2007 ở
các trạm thuộc vùng B2, B3 và B4 nhưng lại giảm xuống ở một số trạm thuộc vùng B1, N2 và N3.
(ACTBD) trong mùa hè nên NN xảy ra rộng
khắp trên toàn lãnh thổ. Có thể nhận thấy, ngay
trong những tháng đầ
u và giữa mùa hè năm nay
(2010), NNGG đã liên tiếp xảy ra trong một
thời gian dài. Điển hình, một đợt NNGG đã xảy
ra từ 2/7 đến 12/7/2010 trên khu vực Bắc Bộ và
Trung Bộ với nhiệt độ lớn nhất trong ngày có
thể đạt tới 40
0
C-41
0
C.
C.T.T.Hườngvànnk./TạpchíKhoahọcĐHQGHN,KhoahọcTựnhiênvàCôngnghệ26,Số3S(2010)370‐383
371
Như chúng ta đã biết, biến đổi khí hậu đã và
đang diễn ra với biểu hiện rõ nét là nhiệt độ
trung bình toàn cầu tăng lên dẫn đến sự biến đổi
của các hiện tượng cực đoan. Theo báo cáo lần
thứ 4 của Ban liên Chính phủ về Biến đổi khí
hậu (IPCC), nhiệt độ bề mặt trái đất trong thời
gian từ 1906-2005 đã tăng lên khoảng 0,74 ±
0,18
0
C. Xu thế tăng nhiệt độ trong 50 năm gần
đây là 0,13
0
C/thập kỷ, gấp gần hai lần xu thế
tăng nhiệt độ của 100 năm qua. Đặc biệt, ở Bắc
cực nhiệt độ đã tăng gần gấp hai lần tỷ lệ tăng
đã nhận thấy, số ngày nóng và đêm ấm thì tăng
lên trong khi số ngày mát và đêm lạnh trong
năm lại giảm đi [6]. Một kết luận tương tự đã
được
Vincent L. A và ccs (2005) đưa ra khi
p
hân tích biến đổi của nhiệt độ cực trị ngày trên
8 quốc gia vùng Nam Mỹ trong thời kỳ 1961-
2000. Các tác giả cho rằng, số đêm ấm thì tăng
lên, còn số đêm lạnh lại giảm đi ở rất nhiều
trạm, đặc biệt với những trạm nằm ở bờ biển
phía tây và đông của Nam Mỹ [7]. Phân tích số
liệu nhiệt độ trung bình và cực trị trung bình
trong ngày, Toreti A và F. Desiato (2008) đã sử
dụng số liệu từ 49 trạm quan trắc ở Italia trong
giai đoạn 1961-2004. Kết quả cho thấy, xu thế
âm xảy ra trong thời kỳ từ 1961-1981; ngược
lại, xu thế dương xảy ra rõ rệt trong thời kỳ
1981-2004, còn biên độ nhiệt độ trung bình
ngày thì tăng lên trong toàn bộ thời kỳ [8]. Để
phân tích những biến đổi theo không gian và
thời gian của nhiệt độ trung bình và cực trị
ngày, Bulygina O. N và ccs (2007) đã sử dụng
s
ố liệu nhiệt độ ngày từ trên 530 trạm ở Nga
trong thời gian từ năm 1951-2005. Nghiên cứu
cho thấy, tổng số ngày trong từng mùa có nhiệt
độ cực đại cao hơn phân vị thứ 95 đã tăng lên,
còn số ngày có nhiệt độ cực tiểu nhỏ hơn phân
C.T.T.Hườngvànnk./TạpchíKhoahọcĐHQGHN,KhoahọcTựnhiênvàCôngnghệ26,Số3S(2010)370‐383
372
ra, phân tích sự biến đổi nhiệt độ cực trị ở Việt
Nam trong giai đoạn 1961-2007, Hồ Thị Minh
Hà và Phan Văn Tân (2009) cho rằng, nhiệt độ
cực đại có xu hướng giảm hoặc tăng chậm ở
những khu vực có nhiệt độ cực đại cao và tăng ở
những khu vực có nhiệt độ cực đại thấp hơn
[12]. Như vậy, những nghiên cứu về nắ
ng nóng
trên lãnh thổ Việt Nam tuy không ít, song mức
độ và xu thế biến đổi của NN lại chưa được
nghiên cứu một cách hệ thống. Trong khi đó, sự
biến đổi của nhiệt độ trung bình toàn cầu cũng
như nhiệt độ cực trị có thể sẽ làm biến đổi các
hiện tượng thời tiết và khí hậu cực đoan trong đó
có NN và NNGG. Bởi vậy, Đặc điểm phân bố
theo không gian và thời gian cũng như mức độ
và xu thế biến đổi của NN và NNGG sẽ được
chúng tôi đưa ra trong bài viết này.
2. Số liệu và phương pháp
2.1. Số liệu
Để nghiên cứu sự biến động theo không
gian, thời gian cũng như mức độ và xu thế biến
đổi của NN, chúng tôi sử dụng số liệu ngày của
yếu tố nhiệt độ cực đại (Tx) từ 57 trạm khí
tượng đặ
c trưng cho 7 vùng khí hậu trên lãnh
thổ Việt Nam trong giai đoạn từ 1961-2007. Cụ
thể:
tháng và năm của các trạm, giá trị trung bình
nhiều năm.
- Độ lệch chuẩn của số ngày NN và NNGG
theo tháng và năm tại các trạm.
- Các phương trình biểu diễn xu thế biến đổi
tuyến tính theo thời gian của số ngày xuất hiện
NN (NNGG) cho từng trạm, Y= A
0
+ A
1
.t,
trong đó Y là số ngày xuất hiện NN, A
0
và A
1
là
các hệ số hồi quy, t là thời gian (năm). Các
phương trình này được xây dựng dựa trên chuỗi
số liệu quan trắc 47 năm, từ năm 1961 đến
2007. Hệ số A
1
dương hay âm phản ánh xu thế
tăng hay giảm theo thời gian của số ngày NN.
Trị số tuyệt đối của A
1
biểu thị mức độ tăng
(giảm); trị số này càng lớn mức độ tăng (giảm)
càng lớn.
- Đường và phương trình biểu diễn xu thế
biến đổi của NN/NNGG theo thời gian cũng
vùng B4 (ngoại trừ hai trạm gần biển là Nha
Trang và Phan Thiết). Ở các vùng khí h
ậu còn
lại, số ngày NN và NNGG ít hơn rất nhiều (trừ
trạm Yên Châu (B1) và trạm Ayunpa (N2)), đặc
biệt, trên vùng khí hậu Nam Bộ, số ngày NN
dao động trong khoảng 10 ngày, còn NNGG thì
chỉ xảy ra xấp xỉ 1 ngày.
Số ngày nắng nóng trung bình năm
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
LAICHAU
DI ENB I EN
YENC HAU
HAGI ANG
LANGSON
TUYENQUANG
YEN B AI
THAI NGUYE N
LANG
HOABI NH
20
25
30
35
LAICHAU
DIENBI EN
YENC HAU
HAGI ANG
LANGSON
TUYENQUANG
YENB AI
THAI NG UYEN
LANG
HOAB I N H
PHULIEN
NAMDI NH
THANHHOA
VI N H
TUONGDUONG
HATI N H
DONGHOI
DONGHA
HUE
NAMDONG
DANANG
QUANGNGAI
QUYNHON
NHATRANG
PHANTHIET
KONTUM
độ
ng của gió phơn khô nóng, nên số ngày NN
và NNGG trên các trạm vùng Tây Bắc có sự
khác biệt rõ rệt. Như ở trạm Lai Châu và trạm
Yên Châu có số ngày NN và NNGG lớn hơn rất
nhiều so với các trạm trong vùng.
Số ngày nắng nóng trung bình tháng vùng Tây Bắc
0
2
4
6
8
10
12
II III IV V VI VII VIII IX X
Tháng
Số ngày nắng nóng
LAICHAU
DIENBIEN
YENCHAU
Số ngày nắng nóng gay gắt trung bình tháng vùng Tây Bắc
0
1
2
3
4
II III IV V VI VII VIII IX
Tháng
Số ngày NNGG
Số ngày NNGG
HAGIANG
LANGSON
TUYENQUANG
YENBAI
THAINGUYEN
Số ngày nắng nóng trung bình tháng vùng Đồng bằng Bắc Bộ
0
2
4
6
8
10
12
III IV V VI VII VIII IX
Tháng
Số ngày nắng nóng
LANG
HOABINH
PHULIEN
NAMDINH
Số ngày nắng nóng gay gắt trung bình tháng vùng Đồng bằng Bắc Bộ
0
0.5
1
1.5
2
2.5
3
III IV V VI VII VIII
5
6
7
8
II III IV V VI VII VIII IX X
Tháng
Số ngày NNGG
THANHHOA
VI NH
TUONGDUONG
HATINH
DONGHOI
HUE
NAMDONG
Hình 2. Số ngày NN và NNGG trung bình tháng tại một số trạm điển hình trên các vùng phía bắc.
C.T.T.Hườngvànnk./TạpchíKhoahọcĐHQGHN,KhoahọcTựnhiênvàCôngnghệ26,Số3S(2010)370‐383
375
Như đã nói ở trên, số ngày NN/NNGG có
xu thế tăng dần từ bắc vào nam và đạt cực đại ở
vùng Bắc Trung Bộ, với số ngày NN trung bình
trong tháng 6 ở trạm Nam Đông lên tới 20,4
ngày. Ở các trạm khác trong vùng cũng có số
ngày NN lên tới trên 10 ngày trong tháng 6 và
tháng 7. Tuy nhiên, số ngày NNGG lại xảy ra
nhiều hơn trong tháng 5 ở trạm Tương Dương
(7,4 ngày) và tháng 4 ở trạm Nam Đông (6,1
ngày).
Đối với vùng khí hậu N2 và N3, NN thường
xuất hiện từ
Số ngày nắng nóng gay gắt trung bình tháng vùng Nam Trung Bộ
0
0.5
1
1.5
2
2.5
3
3.5
4
III IV V VI VII VIII IX
Tháng
Số ngày NNGG
.
DANANG
QUANGNGAI
QUYNHON
NHATRANG
PHANTHIET
Số ngày nắng nóng trung bình tháng vùng Tây Nguyên
0
4
8
12
16
20
I II III IV V VI VII VIII IX
Tháng
Số ngày nắng nóng
KONTUM
CANTHO
CAMAU
Số ngày nắng nóng gay gắt trung bình tháng vùng Nam Bộ
0
0.1
0.2
0.3
0.4
0.5
IV V VI VII
Tháng
Số ngày NNGG
VUNGTAU
CANTHO
CAMAU
Hình 3. Số ngày NN và NNGG trung bình tháng tại một số trạm điển hình trên các vùng phía nam.
C.T.T.Hườngvànnk./TạpchíKhoahọcĐHQGHN,KhoahọcTựnhiênvàCôngnghệ26,Số3S(2010)370‐383
376
3.2. Sự biến động của hiện tượng NN và NNGG
Để xem xét mức độ biến động của số ngày
NN và NNGG trên các vùng khí hậu Việt Nam,
đại lượng độ lệch chuẩn trung bình trong năm
hình 4 được sử dụng để phân tích. Qua đó, nhận
thấy rằng, tương tự như phân bố theo không
gian của NN, mức độ dao động của số ngày NN
cũng như NNGG xảy ra mạnh nhất ở khu vực
Bắ
c và Nam Trung Bộ và giảm dần về phía bắc
và nam của lãnh thổ.
20
LAICHAU
DIENBIEN
YENCHAU
HAGIANG
LANGSON
TUYENQUANG
YENBAI
THAIN GU YE N
LANG
HOABINH
PHULIEN
NAMDINH
THANHHOA
VINH
TUO NG DUONG
HATINH
DONGHOI
DONGHA
HUE
NAMDONG
DANANG
QUANGNGAI
QUYNHON
NHATRANG
PHANTHIET
KONTUM
AYUNPA
BUONMATHUOT
VUNGTAU
HUE
NAMDONG
DANANG
QUANGNGAI
QUYNHON
NHATRANG
PHANTHIET
KONTUM
AYUNPA
BUONMATHUOT
VUNGTAU
CANTHO
CAMAU
Trạm
Độ lệch chuẩn (ngày)
Hình 4. Độ lệch chuẩn của số ngày NN và NNGG
trung bình năm trên các trạm.
Bảng 1. Độ lệch chuẩn của số ngày NN trung bình tháng trên một số trạm tiêu biểu
Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Tháng 7 Tháng 8
Trạm
NN NNGG NN NNGG NN NNGG NN NNGG NN NNGG NN NNGG
Lai Châu 3.2 1.3 4.9 3.2 5.3 3.2 3.1 0.8 2.6 0.9 3.3 0.8
Yên Châu 3.3 1.6 4.3 2.9 5 3.6 4.5 1.5 3.8 1.4 2.4 0.3
Hà Giang 0.3 1 0.3 2.5 0.6 2.4 0.2 2.4 0.4 3.3 0.5
Tuyên Quang 0.3 0.9 0.2 2.8 1.3 4.7 1.9 3.9 1.1 3.8 0.4
Thái Nguyên 0.2 0.4 0.1 2.4 0.8 3.8 1.2 3.2 0.8 3.1 0.5
Láng 0.3 0.1 0.7 0.3 2.7 1.3 5 2 3.9 1.6 2.9 0.7
Hoà Bình 0.9 0.5 1.9 1 3.8 2.3 4.8 3.1 4.4 2.3 3.8 1
Phủ Liễn 0.1 0 0.3 0.1 1.5 0.2 2.5 0.5 1.9 0.6 1.1 0.2
toán của một số trạm đại diện cho các vùng khí
hậu trên lãnh thổ Việt Nam, như các trạm Lai
Châu (B1), Thái Nguyên (B2), Láng (B3), Huế
(B4), Quy Nhơn (N1), Buôn Ma Thuột (N2) và
trạm Cà Mau (N3).
Từ hình 5 nhận thấy, NN và NNGG trung
bình năm qua các thập kỷ ở các trạm đặc trưng
có xu hướng tăng dần theo thời gian. Xu thế
tăng số ngày NN (NNGG) trong 2 thời kỳ cuối,
đặc biệt trong thời kỳ 2001-2007 xảy ra rõ rệt
nhất ở các trạm Láng, Huế và Quy Nhơn. Xu
thế NN tăng lên trong thời kỳ 1981-1990, giảm
nhẹ trong thời kỳ 1991-2000, song lại tăng ở
thời kỳ 2001-2007, xảy ra ở các trạm Thái
Nguyên, Buôn Ma Thuột và trạm Cà Mau.
Trong đó, trạm Thái Nguyên có số ngày NN và
NNGG biến động qua các thập kỷ ít nhất (4,7
ngày), còn trạm Quy Nhơn và trạm Láng lại có
mức độ biến động lớn nh
ất tương ứng là 31,5
ngày và 21 ngày.
Phân bố nắng nóng trung bình năm
0
10
20
30
40
50
60
Thuột
Cà Mau
Trạm
Số ngày nắng nóng gay gắ
t
61-70
71-80
81-90
91-00
01-07
Hình 5. Số ngày NN và NNGG trung bình năm qua các thập kỷ trên một số trạm tiêu biểu.
C.T.T.Hườngvànnk./TạpchíKhoahọcĐHQGHN,KhoahọcTựnhiênvàCôngnghệ26,Số3S(2010)370‐383
378
Phân bố nắng nóng ở trạm Lai Châu
0
2
4
6
8
10
T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9
Số ngày nắng nóng
61-70
71-80
81-90
91-00
01-07
Phân b
T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9
Số ngày nắng nóng
61-70
71-80
81-90
91-00
01-07
8
Phân b
ố
n
ắ
ng nóng gay g
ắ
t ở trạm
Thái Nguyên
0
0.2
0.4
0.6
0.8
1
T4 T5 T6 T7 T8 T9
Số ngày nắng nóng gay gắt
61-70
71-80
81-90
91-00
01-07
81-90
91-00
01-07
Hình 6. Số ngày NN và NNGG trung bình tháng qua các thập kỷ tại một số trạm khu vực Bắc Bộ.
Nhìn chung, xu thế tăng của NN và NNGG
ở hầu hết các vùng khí hậu cũng phù hợp với xu
thế nóng lên toàn cầu. Song sự tăng lên khá
nhanh của số ngày NN và NNGG ở các vùng
khí hậu B3, B4, N1 phản ánh điều kiện khí hậu
trở nên khắc nghiệt hơn ở các vùng này.
Khác với sự biến động của số ngày NN và
NNGG trung bình năm, số ngày NN và NNGG
trung bình tháng qua các thập kỷ không thể hiện
rõ rệt quy luật tăng theo thời gian trong tất cả
các tháng (hình 6 và 7). Trong hai thập kỷ gần
đây, số ngày NN và NNGG ở hầu hết các tháng
nhiều hơn ba thập kỷ trước đó (trừ trạm Cà
Mau). Sự biến động này xảy ra lớn nhất trong
thời gian NN cực đại trên từng trạm. Trong
từng thời kỳ, NN có xu hướng giảm đi ở tháng
này nhưng tăng lên ở tháng khác trong năm. Sự
tăng giảm không đồng nhất của số ngày NN và
NNGG các tháng trong năm trên các vùng khí
h
ậu dường như có liên quan đến sự dịch chuyển
mùa khí hậu. Tuy vậy, để có thể đưa ra được
những kết luận chi tiết hơn cần thiết phải có
những nghiên cứu sâu hơn về các hiện tượng
này.
71-80
81-90
91-00
01-07
Phân bố nắng nóng ở trạm Quy Nhơn
0
2
4
6
8
10
12
14
16
18
20
T4 T5 T6 T7 T8 T9
Số ngày nắng nón
g
61-70
71-80
81-90
91-00
01-07
Phân bố nắng nóng gay gắt ở trạm Quy Nhơn
0
1
2
3
4
8
10
T3 T4 T5
Tháng
Số ngày nắng nóng
61-70
71-80
81-90
91-00
01-07
Hình 7. Số ngày NN và NNGG trung bình tháng qua các thập kỷ tại một số trạm trên khu vực Trung và Nam Bộ.
3.3. Xu thế biến đổi theo thời gian của NN và
NNGG
Xu thế biến đổi theo thời gian (1961-2007)
của số ngày xuất hiện NN và NNGG thông qua
hệ số A
1
của phương trình hồi quy tuyến tính
một biến (hình 8). Kết quả phân tích cho thấy,
hầu hết các trạm trong các vùng khí hậu đều có
xu thế tăng theo thời gian. Đặc biệt ở các vùng
B2, B3 và B4, xu thế của NN tăng một cách
đáng kể và xảy ra trên hầu hết các trạm. Xu thế
tăng mạnh nhất xảy ra ở các trạm Bắc Quang,
Láng, Đồng Hới và Tuyên Hoá với các hệ số A
1
tương ứng là 0,77, 0,7, 0.87 và 0,6 Tuy nhiên,
xu thế giảm lại xảy ra ở một số trạm trên các
vùng B1, N2, N3 như trạm Điện Biên, Kontum,
tương ứng là 2.84, 1,1 và 0,76.
C.T.T.Hườngvànnk./TạpchíKhoahọcĐHQGHN,KhoahọcTựnhiênvàCôngnghệ26,Số3S(2010)370‐383
380
Xu thế biến đổi của số ngày nắng nóng thời kỳ 1961-2007
-0.8
-0.6
-0.4
-0.2
0
0.2
0.4
0.6
0.8
1
LAI CHAU
DIENBIEN
YENCHAU
HAGI ANG
LANGSON
TUYE NQUANG
YENBAI
THAI NGUYEN
LANG
HOABI NH
PHULI EN
NAMDINH
THANHHO
VI NH
TUONGDU
HATI NH
LANGSON
TUYE NQUANG
YENBAI
THAI NGUYEN
LANG
HOABI NH
PHULIE N
NAMDI NH
THANHHO
VI NH
TUONGDU
HATI NH
DONGHOI
DONGHA
HUE
NAMDONG
DANANG
QUANGNGAI
QUYNHON
NHATRAN
PHANTHI
KONTUM
AYUNPA
BUONMAT
VUNGTAU
CANTHO
CAMAU
Trạm
Hệ số A1
9 (ở các vùng khí hậu từ B1 đến N1), từ tháng 2
đến tháng 6 (ở vùng khí hậu N2 và N3). Cường
độ mạnh nh
ất của NN xảy ra trong các tháng
mùa hè, đặc biệt trong tháng 6 và 7 (ở các vùng
khí hậu từ B2 đến N1) và trong tháng 4 và
tháng 5 (ở các vùng B1, N2 và N3).
- NNGG thường bắt đầu sau và kết thúc
trước NN khoảng 1 tháng, song thời kỳ NNGG
mạnh nhất lại xuất hiện sớm hơn NN khoảng 1
tháng ở hầu hết các trạm.
- NN và NNGG thường có biến động mạnh
ở những trạm và trong những tháng có số ngày
NN (NNGG) lớn.
C.T.T.Hườngvànnk./TạpchíKhoahọcĐHQGHN,KhoahọcTựnhiênvàCôngnghệ26,Số3S(2010)370‐383
381
LAI CHÂU
y = -0.2206x + 479.37
y = -0.1126x + 251.58
y = 0.232x - 427.68
0
10
20
30
40
50
60
70
1961 1966 1971 1976 1981 1986 1991 1996 2001 2006
0
10
20
30
40
50
60
70
80
1961 1966 1971 1976 1981 1986 1991 1996 2001 2006
Số ngày nắng nóng
y = 0.34x - 631.06
HUẾ
y = -0.2571x + 579
y = 0.2249x - 383.16
y = 0.187x - 308.29
0
20
40
60
80
100
120
1961 1966 1971 1976 1981 1986 1991 1996 2001
Số ngày nắng nóng
QUY NHƠN
y = -0.5441x + 1154.2
y = 0.5635x - 1069.7
0
10
20
30
40
50
60
1960 1965 1970 1975 1980 1985 1990 1995 2000
Số ngày nắng nóng
y = 0.0941x - 177.42
Hình 9. Xu thế biến đổi của số ngày NN trong năm trong từng thời kỳ 1961-2007; 1961-1990 và 1991-2007.
C.T.T.Hườngvànnk./TạpchíKhoahọcĐHQGHN,KhoahọcTựnhiênvàCôngnghệ26,Số3S(2010)370‐383
382
- Số ngày NN và NNGG trung bình năm có
xu hướng tăng trong 2 thời kỳ cuối, đặc biệt ở
các vùng khí hậu B3, B4, N1 trong thời kỳ
2001-2007. Song Số ngày NN và NNGG trung
bình tháng biến đổi qua các thập kỷ lại không
có quy luật rõ ràng.
- NN có xu thế tăng ở hầu hết các trạm
trong thời kỳ 1961-2007 và tăng mạnh hơn
trong thời kỳ 1991-2007 ở các trạm trên vùng
B2, B3 và B4 nhưng lại giảm xuống ở một số
trạm thuộc khu vự
c B1, N2 và N3. Ngược lại,
NN có xu thế giảm, biến đổi ít hoặc tăng chậm
trên hầu hết các trạm trong thời kỳ 1961-1990
(trừ trạm Buôn Ma Thuột và Cà Mau).
Lời cảm ơn
Molion, D. F. Moncunili, E. Rebello, Observed
Trends in Indices of Daily Temperature
Extremes
in
South America
1960–2000
(2005)
5011.
[8] A. Toreti and F. Desiato, Temperature trends
over Italy from 1961 to 2004, Theor. Appl.
Climatol. 91 (2008), 81.
[9]
O. N. Bulygina, V N
Razuvaev
, N N
Korshunova
and
P Ya
Gro
i
sman,
Climate
variations and changes in extreme climate events
in Russia, Environ. Res. Lett. 2 (2007) 045020.
[10] Trần Thế Kiêm, Đặc điểm và hình thế synốp cơ
bản gây ra thời tiết nắng nóng ở Việt Nam,
1
Hanoi Natural Resources and Environment University, 41A Phu Dien, Cau Dien, Hanoi, Vietnam
2
The National Center for Hydro-Meteorological Forecasting, 4 Dang Thai Than, Ha Noi, Vietnam
3
Faculty of Hydro-Meteorology & Oceanography, Hanoi University of Science, VNU,
334 Nguyen Trai, Hanoi, Vietnam
Daily maximum temperature (Tx) data at 57 meteorological stations in seven Vietnam climatic
subregions are used to determine the variations and trends in hot and extreme hot events. The results
show that hot events usually appear from March to September (in subregions from B1 to N1) and from
February to June (in subregions N2 and N3). Meanwhile, extreme hot events often begin latter and
ends sooner than hot events about one month in almost climatic subregions. In Vietnam, the number of
hot days is largest in B4 and tends to decrease gradually to the north and south of the territory. Hot
events (extreme hot events) vary strongly for the stations and the months which have large number of
hot days. Hot events trends increase at almost stations during 1961-2007 and increase more rapidly
over the period 1991-2007 at the subregions N2, B3 and B4, however, decreases in some stations in
B1, N2 and N3.
Keywords: Daily maximum temperature, variations, trends, hot events, extreme hot events,
Vietnam.