CURRICULUM ON INTELLECTUAL PROPERTY
Professor Michael Blakeney
Queen Mary Intellectual Property Research Institute
University of London
TÀI LIỆU GIẢNG DẠY VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Giáo sư Michael Blakeney
Viện nghiên cứu Sở hữu trí tuệ Queen Mary
Đại học London
Provided and translated by
the EC-ASEAN Intellectual Property Rights Co-operation Programme (ECAP II) Tài liệu này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II)
dịch và cung cấp
Điều khoản hợp
đồng này chỉ áp dụng đối với người làm thuê. Để ngăn chặn bên thứ ba thực hiện các
hành vi sai trái về mua và sử dụng các bí mật thương mại của người khác, toà án có quyền
áp dụng các chế tài công bằng và bắt bên thứ ba bồi thường thiệt hại đối với các .
Ví dụ:
Một ví dụ cổ điển về một bí quyết thương m
ại có giá trị là công thức sản xuất Coca-Cola,
một loại nước uống có từ 1866.
Công ty Coca-Cola dựa vào hệ thống an ninh và truy tố, xét xử để bảo vệ sáng chế của
họ. Ví dụ, bí mật thương mại được cất giữ trong hầm két nhà băng tại Atlanta, Hoa Kỳ, và
chỉ được mở bởi Hội đồng giải quyết tranh chấp.
Việc lựa chọn đối tượng này để
cấp bằng sáng chế sẽ là mạo hiểm. Nếu người bất kỳ đó
độc lập tạo ra một sáng chế thì người đó không xâm phạm quyền đối với sáng chế gốc.
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
3
Ngoài ra, nếu người khác có thể sử dụng kỹ thuật phân tích ngược đối với sáng chế đó để
có được thông tin bí mật, họ có thể bộc lộ thông tin đó cho công chúng, triệt tiêu lợi thế
thương mại của bí mật đó. Trong các trường hợp như vậy, đăng ký sáng chế có thể là sự
lựa chọn cần thiết.
2. Nghĩa vụ giữ bí mật theo hợp đồng
Trong các giao dị
ch sở hữu trí tuệ ví dụ như li-xăng công nghệ (chuyển giao quyền sử
dụng công nghệ), thông tin nhạy cảm có thể cần phải được bộc lộ khiến cho bên kia có thể
quyết định có tham gia hợp đồng li-xăng hay không. Trong các tình huống này, thông
thường các bên yêu cầu đưa vào nội dung hợp đồng điều khoản về bộc lộ thay vì chỉ đơn
giản dựa vào pháp luật chung về vi phạm cam kết gi
ữ bí mật.
mật thương mại “liên quan đến hoặc nằm trong một sản phẩm được sản xuất hoặc lưu
thông trong thương mại giữa các bang hoặc ngoại thương” có th
ể vi phạm Đạo luật Tình
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
4
báo kinh tế 1996 18 USC Điều 1831 – 1839. Luật này quy định mức phạt rất lớn (ví dụ,
đối với các công ty mức phạt đến 5 triệu đôla Mỹ), và có khả năng phạt tù đối với hành vi
lấy cắp bí mật thương mại.
4. Bảo hộ theo Hiệp định TRIPS (Điều 39)
(a) Giới thiệu
Việc bảo hộ một số loại thông tin bí mật nhất định quy đị
nh tại Điều 39 cho thấy lần đầu
tiên loại thông tin đó được chính thức bảo hộ trong một điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ
vượt ra ngoài nghĩa vụ chung quy định tại Điều 10bis của Công ước Paris, theo đó khẳng
định việc bảo hộ có hiệu quả chống cạnh tranh không lành mạnh cho các công dân các
nước thành viên Liên minh Paris. Cấu trúc của Điều 39 là khoả
n 1 quy định việc bảo hộ
chung đối với thông tin bí mật nêu tại khoản 2 và khoản 4 quy định đối với việc bảo hộ
dữ liệu thử nghiệm không được tiết lộ được nộp cho các cơ quan có thẩm quyền phê
duyệt của Chính phủ.
(b) Thông tin bí mật và cạnh tranh không lành mạnh
Điều 39.1 quy định rằng “Để bảo đảm sự bảo hộ hiệu quả chống c
ạnh tranh không lành
mạnh theo quy định tại Điều 10bis, Công ước Paris (1967), các Thành viên phải bảo hộ
thông tin bí mật” theo quy định tại khoản 2 và 3 Điều 39. Khoản 2 quy định loại thông tin
bí mật nói chung được bảo hộ tại các nước theo hệ thống thông luật (common law)luật
bao gồm các án lệ chứ không phải là luật thành văn(statute law). Điều 10bis không đề cập
đến việc bảo hộ thông tin bí mật như là một khía cạnh củ
a cạnh tranh không lành mạnh.
Điều 10bis (2) định nghĩahành vi cạnh tranh không lành mạnh là “hành vi cạnh tranh bất
(c) Bảo hộ thông tin bí mật có sở hữu
Điều 39.2 quy định việc bảo hộ thông tin: (a) có tính chất bí mật, trong một tổng thể
hoặc
trong sự sắp xếp chính xác và tập hợp các bộ phận cấu thành nó, không được biết đến
hoặc không dễ dàng tiếp cận được thông tin đó dưới dạng thông tin toàn bộ, tức là dưới
dạng ghép nối theo trật tự chính xác mọi chi tiết của thông tin đó ; (b) có giá trị thương
mại vì có tính chất bí mật; và (c) được người kiểm soát hợp pháp thông tin đó giữ bí mật
bằng những biện pháp phù hợp thự
c tế.
Tính chất bí mật
Theo quy tắc thông thường, để được bảo hộ, thông tin phải có tính chất bí mật và không
được công chúng biết đến, ví dụ, thông qua việc công bố trong bản mô tả sáng chế. Ví dụ,
để quyết định liệu một người làm công có thể dựa vào vào kiến thức có được của mình
trong thời gian làm việc cho chủ thuê lao động không, thì Bản tái tuyên bố đầu tiên về các
hành vi vi phạm của Hoa Kỳ áp dụng các tiêu chu
ẩn sau đây, trong đó có một số tiêu
chuẩn được liệt kê tại Điều 39.2.
(1) Phạm vi thông tin được biết đến nằm ngoài phạm vi kinh doanh (của chủ doanh
nghiệp/cơ sở kinh doanh; (2) Phạm vi thông tin được biết đến bởi những người làm công
và những người khác trong doanh nghiệp; (3) Phạm vi các biện pháp được người đó áp
dụng nhằm bảo vệ bí mật thông tin; (4) giá trị của thông tin đối với chủ doanh nghiệp và
đối với các đối thủ cạnh tranh; (5) Mức độ nỗ lực và số tiền mà doanh nghiệp đã chi để
tạo ra thông tin; (6) Thuận lợi hoặc khó khăn mà nhờ đó thông tin có thể dễ dàng thu thập
hoặc nhân bản thông tin bởi người khác.
Điều 39.2 quy định khả năng thông tin có thể được xem là bí mật khi thành tố của nó
được công chúng biết đến, nhưng bí quyết (know how) hoặc phương pháp kết hợp và tổng
hợp các chi ti
ết đó được giữ bí mật.
Nghĩa vụ giữ bí mật
Để thành công trong vụ kiện chống lại hành vi vi phạm bí mật, không chỉ thông tin liên có
quan đến cách thức khai thác thương mại sáng chế đó một cách có hiệu quả. Thông tin
này, hay còn gọi là bí quyết (know how) bao gồm: cách thiết kế, bố trí nhà máy, kế hoạ
ch
tiếp thị, danh sách khách hàng, phương pháp kế toán và khảo sát. Điều 39 thừa nhận sự
cần thiết bảo hộ các loại thông tin không tiết lộ này để đảm bảo việc khai thác thương mại
một cách có hiệu quả quyền đối với sáng chế, ngoài những lý do khác.
Tương tự, một nhãn hiệu được bảo hộ bị hạn chế khả năng khai thác thương mại nếu
không có một cơ
chế quảng cáo, cấp li-xăng, nhượng quyền kinh doanh và tiếp thị đối với
sản phẩm hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu đó. Việc bảo đảm kiểm soát chất lượng của hàng
hóa sản xuất theo li-xăng thường dẫn đến việc áp dụng các bí mật thương mại.
Khi thông tin bí mật được ghi chép lại thì cũng có thể được bảo hộ một cách hạn chế theo
luật bản quy
ền tác giả. Tuy nhiên, nếu nội dung bản ghi chép chỉ là một ý tưởng thì sẽ
không được bảo hộ quyền tác giả bởi vì pháp luật về quyền tác giả chỉ bảo hộ cách thức
mà ý tưởng được thể hiện. Pháp luật về bảo mật là phương tiện chính để hạn chế việc khai
thác thương mại các ý tưởng không được tiết lộ.
(e) Dữ liệu thử nghiệm không tiế
t lộ
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
7
Như đã đề cập trong phần giới thiệu trên đây về các nhà đàm phán Hiệp định TRIPS tỏ ra
lo ngại về việc giữ bí mật dữ liệu thử nghiệm được nộp cho các cơ quan có thẩm quyền
phê duyệt của Chính phủ. Vì qua trình phê duyệt thường kéo dài, đặc biệt là đối với dược
phẩm, nên cơ hội cho việc chiếm đoạt trái phép các dữ liệu đó bởi các đố
i thủ cạnh tranh
là hiển nhiên. Điều quan ngại này được thể hiện tại Điều 39.3, cụ thể là: “Nếu các Thành
viên quy định rằng điều kiện để được cấp phép tiếp thị dược phẩm hoặc nông hóa phẩm
có chứa các thành phần hóa học mới là phải nộp kết quả thử nghiệm hoặc các dữ liệu bí
mật khác thu được nhờ những nỗ lực l