CURRICULUM ON INTELLECTUAL PROPERTY
Professor Michael Blakeney
Queen Mary Intellectual Property Research Institute
University of London
TÀI LIỆU GIẢNG DẠY VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Giáo sư Michael Blakeney
Viện nghiên cứu Sở hữu trí tuệ Queen Mary
Đại học London
Provided and translated by
the EC-ASEAN Intellectual Property Rights Co-operation Programme (ECAP II) Tài liệu này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II)
dịch và cung cấp
bao gồm quyền đối với giống cây trồng, mạch tích hợp bán dẫn, bí mật thương mại và
thông tin bí mật và thể hiện nghệ thuật truyền thống dân gian. Một danh mục đầy đủ hơn
về các quyền sở hữu trí tuệ
được liệt kê trong Phần II của Hiệp định TRIPS với danh
nghĩa là các đối tượng của Hiệp định này, cụ thể là: quyền tác giả và quyền liên quan,
nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp
bán dẫn và thông tin bí mật.
Sở hữu trí tuệ thường được chia làm hai nhánh, cụ thể là: sở hữu công nghiệp và
quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả. Trong danh m
ục các quyền nêu tại
Điều 2(viii) của Công ước WIPO nêu trên, quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền
tác giả thuộc các mục (1) và (2). Các đối tượng còn lại thuộc nhóm quyền sở hữu công
nghiệp.
2. Các phạm trù của sở hữu trí tuệ
2.1. Quyền tác giả và quyền liên quan
Luật quyền tác giả quy định sự bảo hộ và khai thác hình thức thể hiện các ý
tưởng được thể hiện dưới dạng vật chất. Ban đầu, đối tượng của bảo hộ quyền tác giả
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp3
là các ấn phẩm văn học hoặc nghệ thuật. Do sự phát triển của công nghệ sao chụp, sự
bảo hộ đã được mở rộng đến các bản vẽ kỹ thuật, bản đồ, tranh và cả các tác phẩm ba
chiều như các tác phẩm điêu khắc và kiến trúc, các bức ảnh và các tác phẩm điện ảnh.
Gần đây, sự bảo hộ quyền tác giả còn
được mở rộng tới chương trình máy tính và sưu
tập dữ liệu, những đối tượng được coi như là các tác phẩm văn học hoặc các bộ sưu
tập các tác phẩm văn học.
Chủ sở hữu quyền tác giả có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả có quyền
nghiệp này với các sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp khác. Ban đầu, nhãn hiệu
được bảo hộ đối với việc sử dụng liên quan đến hàng hóa, nhưng trong những năm gần
đây thì nhãn hiệu cũng được sử dụng đối vớ
i dịch vụ. Một số nước cũng quy định
đăng ký nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận. Nhãn hiệu tập thể được sử dụng
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp4
bởi một nhóm hay một tổ chức để phân biệt các đặc trưng của sản phẩm được nhóm
hay tổ chức đó sử dụng. Nhãn hiệu chứng nhận có thể có chức năng giống như nhãn
hiệu tập thể, nhưng có thêm một đặc điểm khác là những người sử dụng nhãn hiệu
chứng nhận đó phải đáp ứng tiêu chuẩn quy định cho hàng hóa ho
ặc dịch vụ.
Đơn yêu cầu đăng ký nhãn hiệu phải liệt kê các hàng hóa mang nhãn hiệu sẽ
đăng ký. Luật nhãn hiệu thường quy định phân loại hàng hóa để phục vụ việc đăng ký.
Một số nước quy định mỗi đơn đăng ký chỉ được đăng ký cho một nhóm hàng hóa,
trong khi đó tại một số nước thì chỉ cần một đơn có thể yêu cầu đăng ký cho nhiều
nhóm hàng hóa. Hầu hết các nước phân nhóm hàng hóa và d
ịch vụ nhằm phục vụ việc
đăng ký dựa theo Thỏa ước NICE về phân loại quốc tế hàng hóa và dịch vụ để đăng
ký nhãn hiệu.
Cuối cùng, người nộp đơn phải nộp một hoặc một số khoản phí cho việc đăng
ký nhãn hiệu. Phí nộp đơn có thể được quy định nộp một lần, bao gồm tổng cộng các
loại phí hoặc nộp làm nhiều lầ
n (phí nộp đơn, phí phân loại, phí thẩm định, phí đăng
ký, v.v.).
Đơn đăng ký nhãn hiệu được thẩm định để khẳng định sự phù hợp với các yêu
cầu về hình thức cũng như yêu cầu nội dung về tính phân biệt. Việc thẩm định còn
khả năng tin là hàng hoá đó có cùng một nguồn gốc. Tất cả các tình huống phải được
tính đến , bao gồm bản chất của hàng hóa, mục đích sử dụng và các kênh tiêu thụ hàng
hoá, đặc biệt là nguồn gốc xuất xứ thông thường c
ủa hàng hoá và địa điểm thường bán
hàng hoá có liên quan.
Hầu hết các luật nhãn hiệu đều quy định hành vi sử dụng nhãn hiệu mà không
được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền là hành vi xâm phạm độc quyền đối với nhãn
hiệu. Sự không đồng ý được khẳng định bởi chủ sở hữu nhãn hiệu. Nếu bị đơn dựa
vào một li-xăng cụ thể hoặc sự cho phép khác để
sử dụng nhãn hiệu thì bị đơn phải
chịu trách nhiệm chứng minh sự đồng ý đó.
Khi chủ nhãn hiệu đã đưa sản phẩm mang nhãn hiệu ra thị trường, họ không có
quyền phản đối việc bán tiếp sản phẩm đó trong quá trình thương mại. Đây là bản chất
của cái gọi là nguyên tắc về khai thác hết quyền đối với nhãn hiệu. Một số quốc gia
không cho phép phả
n đối việc nhập khẩu song song các sản phẩm đã được chủ sở hữu
nhãn hiệu hoặc người được chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép đưa ra thị trường nước
ngoài. Các quốc gia khác thì cho phép phản đối nhập khẩu song song, cụ thể là thông
qua việc áp dụng nguyên tắc lãnh thổ của quyền sở hữu trí tuệ.
Nếu chủ nhãn hiệu không gia hạn hiệu lực đăng ký nhãn hiệu và cụ th
ể hơn là
không nộp lệ phí gia hạn, nhãn hiệu sẽ bị loại ra khỏi đăng bạ. Các cơ quan đăng ký
thường cho phép một khoảng thời gian ân hạn cho việc thanh toán lệ phí gia hạn (tức
là cho phép nộp chậm lệ phí trong một thời hạn nhất định) (thường phải trả thêm một
khoản tiền).
2.3. Chỉ dẫn địa lý
Là một dạng đặc biệt của nhãn hiệu, được xác đị
nh với danh nghĩa là đối tượng
của một hệ thống bảo hộ riêng, là những dấu hiệu xác định một sản phẩm hoặc dịch vụ
có xuất xứ từ một quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương cụ thể. Chỉ dẫn nhầm lẫn
luật dưới dạng quyền của người nộp đơn đăng ký và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu quy
định của pháp luật. Sự b
ảo hộ được bảo đảm bởi việc đăng ký bằng độc quyền sáng
chế được giới hạn trong một thời hạn nhất định, thường là 20 năm. Khi kết thúc thời
hạn bảo hộ, sáng chế đã được cấp bằng độc quyền đó thuộc về công chúng (có nghĩa
là tất cả mọi người đều có thể khai thác sáng chế đó).
Sáng chế thường đượ
c định nghĩa là một ý tưởng cho phép giải quyết một vấn
đề trong một lĩnh vực kỹ thuật. Người nộp đơn đăng ký sáng chế thường là tác giả
sáng chế hoặc người thừa kế của tác giả sáng chế. Để được cấp bằng độc quyền sáng
chế, phải nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế cho cơ quan sở hữu công
nghiệ
p có liên quan. Đơn sẽ bao gồm, ngoài những yêu cầu khác, một bản mô tả sáng
chế, kèm theo các hình vẽ được đề cập trong bản mô tả và các điểm yêu cầu bảo hộ
sáng chế. Bản mô tả phải bộc lộ sáng chế một cách rõ ràng, đầy đủ và hoàn chỉnh để
người bất kỳ có kỹ năng trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng đều có thể thực hiện được
sáng ch
ế. Phần bộc lộ sáng chế phải thể hiện sáng chế trong bối cảnh các giải pháp kỹ
thuật đã biết. Vì để được cấp bằng độc quyền, sáng chế phải đưa ra được một giải
pháp mới cho một vấn đề kỹ thuật, do đó bản mô tả phải đặt sáng chế trong nền tảng
kỹ thuật cơ sở. Chức năng của ph
ần yêu cầu bảo hộ là để xác định phạm vi bảo hộ.
Để được cấp bằng độc quyền, sáng chế phải đưa ra một giải pháp mới cho một
vấn đề kỹ thuật, có trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp. Sáng chế được
coi là có tính mới nếu chưa được biết đến hoặc chưa được bộc lộ cho người khác trước
ngày nộp đơn yêu c
ầu cấp bằng độc quyền đối với sáng chế đó. Điều đó có nghĩa là
sáng chế phải không trùng với một giải pháp kỹ thuật đã biết. Giải pháp kỹ thuật đã
biết thường là những đối tượng đã bộc lộ công khai, ở mọi nơi trên thế giới dưới hình