TÀI LIỆU GIẢNG dạy về sở hữu TRÍ TUỆ - Pdf 50



CURRICULUM ON INTELLECTUAL PROPERTY

Professor Michael Blakeney
Queen Mary Intellectual Property Research Institute
University of London

TÀI LIỆU GIẢNG DẠY VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Giáo sư Michael Blakeney
Viện nghiên cứu Sở hữu trí tuệ Queen Mary
Đại học London
Provided and translated by
the EC-ASEAN Intellectual Property Rights Co-operation Programme (ECAP II) Tài liệu này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II)
dịch và cung cấp


[Trích từ Mandich, ‘Venetian Patents (1450-1550)’ (1948) 30 Journal of the Patent
Office Society 166 đến 177.]

Tại Anh, từ thế kỷ thứ XIV, các quốc vương Anh đã dành sự
bảo hộ cho cả thợ thủ
công ngoại quốc nhằm khuyến khích luồng kỹ năng công nghệ vào nước này.

[Xem Hulme, ‘The History of the Patent System under the Prerogative and at Common
Law’ (1896) 12 Law Quarterly Review 141.]

Cho đến cuối thế kỷ thứ XVI, việc bán các bằng độc quyền sáng chế đối với cả việc
bán và sản xuất hàng hóa cũng đã trở thành một nguồn thu lớn cho các quốc vương
Anh. Trong một nỗ lực hạn chế việc bán quyền đố
i với sáng chế một cách thái quá,
năm 1624 Nghị viện Anh đã ban hành Quy chế về Độc quyền làm cơ sở cho các luật
sáng chế hiện đại của những nước xây dựng pháp luật dựa trên thông luật. Quy chế
này chứa đựng quy định chung về cấm độc quyền, các bằng độc quyền sáng chế được
cấp cho: “việc độc lập làm ra hoặc tạo ra hàng hóa mới bằng phương pháp bất kỳ trong
phạm vi vương quốc” và quy định rằng độc quyền bằng sáng chế chỉ được cấp trong
thời hạn tối đa là 14 năm. Vì thế, theo hệ thống thông luật của Anh, bằng độc quyền
sáng chế chỉ được cấp cho các sáng chế hữu ích.
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp3
Tại châu Âu lục địa, văn bản pháp luật hiện đại đầu tiên về sáng chế là Luật của Pháp

Cơ sở lý luận cho việc bảo hộ sáng chế

Nguồn gốc lịch sử của luật sáng chế gợi ra một số thuyết giải thích cho việc bảo hộ
sáng chế. Những thuyết đó bao gồm:

1. Thuyết phần thưởng. Các tác giả sáng chếcần được thưởng cho việc tạo ra các
sáng chế hữu ích và luật pháp phải được sử dụng để bảo
đảm việc thưởng này.
2. Thuyết khuyến khích. Cơ chế theo đó sáng chế được khen thưởng, sẽ khích lệ sự
tạo ra sáng chế mới cho nghiên cứu và phát triển.
3. Thuyết hợp đồng hoặc bộc lộ. Bằng việc đưa ra hệ thống bảo hộ, các nhà sáng
chế sẽ được khuyến khích bộc lộ các sáng chế của họ, giới thiệu công chúng,
sau một thờ
i gian độc quyền. Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp4
4. Thuyết luật tự nhiên. Các cá nhân có quyền sở hữu đối với các ý tưởng của
mình.

Gần đây, do ảnh hưởng của các cuộc đàm phán vượt ra ngoài khuôn khổ của Hiệp định
về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ của Tổ chức
Thương mại thế giới (TRIPs), thuyết báo hiệu đã được phát triển, theo đó chế
độ bảo
hộ sáng chế sẽ báo hiệu một môi trường đầu tư có thể chấp nhận được, đặc biệt là đầu
tư nước ngoài.


ầu
cấp bằng độc quyền sáng chế chỉ đơn thuần liên quan đến một phát minh, lý thuyết
khoa học, phương pháp toán học, quy tắc và phương pháp tư duy, phương pháp kinh
doanh hoặc chương trình máy tính hoặc, thì bằng độc quyền sáng chế sẽ không được
cấp. Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp5

Tại Hoa Kỳ, để làm ví dụ, một sáng chế phải thuộc một trong số năm “nhóm luật định”
về đối tượng có thể được cấp bằng độc quyền sáng chế, đó là: quy trình, máy móc,
hàng hóa (tức là các vật thể được tạo ra bởi con người hoặc máy móc), các thành phần
kết cấu của một đối tượng, và việc sử dụng vào mục đích mới của đối tượng b
ất kỳ nêu
trên. Tương tự, ở châu Âu, các ý tưởng lý thuyết phi kỹ thuật là đối tượng bị loại trừ
khỏi ra khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế . Tuy nhiên, các đại diện sáng chế
đã đặc biệt sáng tạo khi mở rộng giải thích khái niệm “sáng chế” để khẳng định những
ứng dụng kỹ thuật của đối tượng bị loại trừ. Đ
iều này được minh họa dưới đây.

(a) Phát minh

Hầu hết các hệ thống bảo hộ sáng chế đều chỉ ra sự khác biệt giữa sáng chế và phát
minh. Phát minh được xem là những khám phá về sự vật hoặc hiện tượng đã tồn tại
trong tự nhiên, ngược lại, sáng chế là việc áp dụng kiến thức đó để giải quyết một vấn
đề thực tiễn. Tuy nhiên, sự
khác biệt này trở nên khá mơ hồ khi áp dụng do có rất


6

Nếu một ý tưởng là cơ sở của một sáng chế có thể không có khả năng được cấp bằng
độc quyền sáng chế như phương pháp toán học, thì yêu cầu bảo hộ một quy trình kỹ
thuật trong đó có sử dụng phương pháp toán học lại có thể được chấp nhận do đây
không phải là yêu cầu bảo hộ phương pháp toán học. Do đó, Cơ quan Sáng chế châu
Âu (EPO) cho rằng máy chụp X-quang cùng v
ới bộ xử lý dữ liệu hoạt động theo một
chương trình máy tính có khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế. Yếu tố cốt yếu
ở đây là xem xét sáng chế trong một tổng thể.

Tương tự, một sáng chế bao gồm nhiều yếu tố chức năng được thực hiện bởi phần
mềm (chương trình máy tính) không bị xếp vào các đối tượng loại tr
ừ nếu các yếu tố
kỹ thuật có liên quan tới các chi tiết của giải pháp cho vấn đề mà sáng chế giải quyết là
không thể thiếu để có thể thực hiện được sáng chế đó. Câu hỏi tự đánh giá

Câu hỏi 4 Các yếu tố nào được tính đến khi xác định liệu một phương pháp do một
chương trình máy tính thực hiện nhằm bổ sung nguyên lý góc quay vào
hệ thống biểu đồ
tương hỗ có khả năng được cấp bằng độc quyền sáng
chế?

Trả lời Vấn đề mấu chốt là liệu các yếu tố chức năng của hệ thống được cho là
liên quan đến phương pháp toán học và liệu việc sử dụng hệ thống, theo
sự điều khiển của một chương trình máy tính, có mang lại hiệu quả kỹ
Trả lời các đối tượng từ (a) đến (c) đều đã được cho là có thể được cấp bằng độc
quyền sáng chế bởi vì các đối tượng đó đều là các ứng dụng kỹ thuật hữu
ích trong sản xuất công nghiệp. (d) mặc dù có vẻ không có khả năng
được cấp bằng độc quyền sáng chế do chỉ đơn thuần là phương pháp
kinh doanh, nhưng đã đượ
c xem là có khả năng được cấp bằng độc
quyền sáng chế tại Hoa Kỳ. [State Street Bank & Trust Co. v Signature
Financial Group, Inc. 149 F.2d 1368 (Fed Cir 1968)]. Những ví dụ này
cho thấy sự linh hoạt của các tòa án sáng chế và thực tế rằng danh mục
các sáng chế có khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế là không có
giới hạn.


Các sáng chế bị loại trừ

Nhiều điều ước quốc tế về sáng chế quy định rõ rằng có thể vì chính sách công cộng
hoặc đạo đức mà các sáng chế có thể bị loại trừ ra khỏi khả năng được cấp bằng độc
quyền sáng chế. Ví dụ, Điều 27.2 của Hiệp định TRIPs quy định rằng các sáng chế có
thể bị loại trừ khỏi khả
năng được cấp bằng độc quyền sáng chế nhằm bảo vệ trật tự
công cộng hoặc đạo đức xã hội, bao gồm việc bảo vệ cuộc sống của con người, động
vật, thực vật, sức khỏe hoặc tránh những tổn hại nghiêm trọng cho môi trường”. Thêm
vào đó, Điều 27.2(b) cho phép loại trừ khả năng được cấp bằng độc quyề
n sáng chế
của “(a) phương pháp chẩn đoán, chữa bệnh và phẫu thuật để điều trị bệnh cho người
và động vật; (b) giống cây trồng và vật nuôi mà không phải là vi sinh, và quy trình
nhân giống cây trồng và vật nuôi chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải là
quy trình phi sinh học và vi sinh”.

Câu hỏi tự đánh giá Câu hỏi 6 Một sáng chế nhằm sản xuất vũ khí nhiệt hạch có thuộc trường hợp ngoại
lệ trật tự công cộng không?

Trả lời

Nói chung, khái niệm “trật tự công cộng” được hiểu theo hướng bảo vệ
an ninh công cộng và sự nguyên vẹn về mặt thể chất của mỗi cá nhân với
tư cách là mộ
t phần của xã hội. Tại Hoa Kỳ, sáng chế liên quan đến vũ
khí nguyên tử bị loại trừ một cách trực tiếp, nhưng loại sáng chế như vậy
có thể rơi vào trường hợp ngoại lệ trật tự công cộng.

(b) Phương pháp chẩn đoán, chữa bệnh và phẫu thuật để điều trị bệnh cho người
hoặc động vật

Việ
c loại trừ phương pháp chẩn đoán, chữa bệnh và phẫu thuật để điều trị bệnh cho
con người hoặc động vật phản ánh quan điểm rằng những đối tượng này là rất quan
trọng đối với xã hội tới mức phải từ chối sự độc quyền đối với việc tư nhân hoá hoặc
thương mại hoá chúng. Có một số sự nhầ
m lẫn, tuy nhiên, ranh giới giữa thuốc trị
bệnh không có khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế với các loại dược phẩm có Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
Nói chung, câu trả lời là tuỳ thuộc vào quan niệm đạo đức phổ biến trong
phán quyết. Quan điểm của EPO trong vụ việc HARVARD/Onco-mouse
[1991] EPOR 525 là để cân bằng, sáng chế phải làm gi
ảm mức đau đớn,
nhưng vấn đề vẫn chưa được các toà án xem xét. Rõ ràng là, có một số
điều kiện để hài hoà hoá luật sáng chế trong lĩnh vực này.

Thông thường, một quy trình chủ yếu mang bản chất sinh học thì không có sự can
thiệp đáng kể của con người. Do đó, yêu cầu bảo hộ quy trình chuẩn bị lai giống cây
trồng sẽ không phải là một ngoại lệ của khả
năng được cấp bằng độc quyền sáng chế
nếu các quy trình đó có sự thay đổi đáng kể so với quy trình sinh học đã biết và quy
trình cũ của những người nhân giống, với sự kết hợp giữa năng suất và hoa lợi cao do
đặc điểm kỹ thuật quan trọng. Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp10

Mặt khác, quy trình vi sinh lại không chỉ bao gồm quy trình lên men truyền thống và
quy trình chuyển hoá sinh học, mà còn bao gồm cả việc vận dụng kỹ thuật vi sinh
trong công nghệ gen hoặc kỹ thuật pha trộn và việc sản xuất hoặc thay đổi sản phẩm
trong hệ thống kết hợp. Nói cách khác, chúng bao gồm tất cả các hoạt động trong đó
có sự kết hợp công nghệ hoá sinh và công nghệ vi sinh, bao gồm công nghệ gen và hoá
học, nhằm khai thác khả n
ăng của các vi khuẩn và các tế bào nuôi.
(i) sáng chế đã được công chúng biết đến ở Nhật Bản trước ngày nộp
đơn yêu c
ầu cấp bằng độc quyền sáng chế;
(ii) sáng chế đã được công chúng thực hiện tại Nhật Bản trước ngày nộp
đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế; Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp11
(iii) sáng chế đã được mô tả trong ấn phẩm được phân phối tại Nhật Bản
hoặc nơi bất kỳ trước ngày nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng
chế.

(a) Tình trạng kỹ thuật đã biết

Tính mới được hiểu là cái gì bất kỳ không tạo thành một phần của tình trạng
kỹ thuật. Hầu hết luật của các quốc gia đều
đưa ra tiêu chuẩn chung về tình
trạng kỹ thuật trong đó tình trạng kỹ thuật được đánh giá trên phạm vi toàn
thế giới. Tuy nhiên, các nước cũng có thể đánh giá tính mới trên cơ sở chỉ
tham khảo tình trạng kỹ thuật ở nước đó.

(b) Tri thức đã được công bố hoặc công chúng có thể tiếp cận được Tình trạng kỹ thuật để đánh giá tính mới bao gồm tấ
t cả những gì đã được
công bố hoặc công chúng có thể tiếp cận được. Công bố một sáng chế là bổ


Việc xác định liệu hành động công bố đã được thực hiện hay chưa là vấn đề
về bằng chứng, thường được xác định dựa trên sự cân bằng các khả năng.

Là một vấn đề thực tiễn của công tác thẩm định, thông tin được xem là đã
được công bố nếu việc tiếp cận thông tin đó được xem là quyền và không
phải thực hiện bất kỳ nghĩ
a vụ bảo mật nào.

(c) Phương pháp bộc lộ

Để làm mất tính mới, phạm vi bộc lộ của một sáng chế trước công chúng
phải vì mục đích sử dụng thực tiễn, tương ứng với yêu cầu trong bản mô tả
sáng chế, ví dụ như kiến thức mà dựa vào đó công chúng có thể xác định
được sáng chế. Việc bộc lộ có thể kèm theo bản mô tả dạng giấy, ho
ặc thậm
chí cả ảnh chụp. Pháp luật của từng nước sẽ quyết định số lần một đối tượng
được công bố trước khi nó có thể được xem là đã được công chúng tiếp cận.

(d) Trình độ chuyên môn của người đọc

Tòa án đánh giá mức độ bộc lộ bằng cách tham khảo ý kiến của người đọc
có trình độ trong lĩnh vực kỹ thuật có liên quan, có kiến thức m
ới nhất về
tình trạng kỹ thuật này ở thời điểm nhất định. (e) Bộc lộ mà không làm mất tính mới

Hầu hết luật sáng chế của các quốc gia đều bảo vệ việc bộc lộ sáng chế tại các cuộc
Câu hỏi tự đánh giá

Câu hỏi 8
Các hành vi dưới đây có được xem là đã được công bố cho công chúng,
do đó, đã làm mất tính mới không:

(a) Công bố dưới hình thức lời nói.

Trả lời: Trong trường hợp không có bằng chứng chứng minh ngược lại,
các đặc điểm chính của sáng chế bộc lộ trong công bố, thì được xem là đã
được bộc lộ dưới hình thức lời nói.

(b) Một bản thỏa thuận hợp tác n
ội bộ

Trả lời: Một thông báo không nhằm vào công chúng không được xem
là công bố cho công chúng

(c) Việc bộc lộ bằng lời cho một người không có trình độ trong lĩnh
vực kỹ thuật tương ứng.

Trả lời: Đây không được xem là đã công bố cho công chúng. Câu hỏi tự đánh giá

Câu hỏi 9 Khi nào thì những việc sau được xem là công bố cho công chúng?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status