TÀI LIỆU GIẢNG DẠY VỀ SỞ HỮU
TRÍ TUỆ
CURRICULUM ON INTELLECTUAL PROPERTY
Professor Michael Blakeney
Queen Mary Intellectual Property Research Institute
University of London
TÀI LIỆU GIẢNG DẠY VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Giáo sư Michael Blakeney
Viện nghiên cứu Sở hữu trí tuệ Queen Mary
Đại học London
được
thể hiện dưới dạng gốc - nghĩa là chúng phải bắt nguồn từ chính lao động của người sáng
tạo. Các tác phẩm được bảo hộ không phụ thuộc vào chất lượng của chúng.
Lúc sơ khởi, đối tượng bảo hộ của quyền tác giả là các tác phẩm in văn học, nghệ thuật.
Do công nghệ tạo hình ngày càng được cải thiện nên việc bảo hộ được mở r
ộng tới các
bản vẽ kỹ thuật, bản đồ, họa đồ, các tác phẩm ba chiều như điêu khắc, kiến trúc và các tác
phẩm nhiếp ảnh, điện ảnh. Gần đây, việc bảo hộ quyền tác giả được mở rộng tới các
chương trình máy tính, được đối xử như là các tác phẩm văn học hoặc bộ sưu tập các tác
phẩm văn học.
Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, việc bảo hộ quyền tác giả được áp dụng không chỉ
đối với các cuốn sách và bài báo học thuật, mà còn đối với các sổ sách ghi chép của
phòng thí nghiệm và các báo cáo nghiên cứu, bản mô tả các trình tự gen, ảnh và bản mô tả
đồ hoạ hoặc đồ thị của các kết quả nghiên cứu.
Chủ sở hữu của một tác phẩm được bảo hộ có quyền không cho người khác s
ử dụng tác
phẩm khi chưa được phép. Các hành vi cần được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả
thường là: sao chép hoặc nhân bản; trình diễn tác phẩm trước công chúng; ghi âm tác
phẩm; làm phim từ tác phẩm; phát sóng tác phẩm qua quang phổ điện từ hoặc truyền cáp;
biên dịch hoặc mô phỏng tác phẩm. Các vấn đề đặc biệt sẽ phát sinh khi các tác phẩm
được tạo ra thông qua việc nghiên cứu hợp tác hoặc giao việc.
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
3
Bên cạnh các quyền này, các “quyền tinh thần” nhất định cũng được thừa nhận bởi Công
ước Berne 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, được thực thi theo luật
quốc gia ở các nước ký kết. Các quyền này bao gồm quyền yêu cầu về sở hữu tác phẩm,
đầu tiên xuất hiện vào thế kỷ 15 khi công nghệ in xuất hiện và sự nhân bản
chữ viết của con người đã trở thành hiện thực. Luật Bản quyền hoàn chỉnh đầu tiên xuất
hiện ở Anh vào năm 1710. Tiếp đó là Phổ và Pháp cũng nằm trong số các quốc gia đầu
tiên này.
2. Sử dụng quyền tác giả
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
4
Sự phát triển của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào khả năng sáng tạo của người dân ở
quốc gia đó, và việc khuyến khích khả năng sáng tạo cá nhân và truyền bá nó là điều
kiện thiết yếu cho sự tiến bộ. Quyền tác giả là yếu tố cấu thành quan trọng của quá trình
phát triển. Kinh nghiệm cho thấy, sự giàu có của di sản văn hoá quốc gia phụ thuộc trự
c
tiếp vào trình độ bảo hộ đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật. Số lượng các sáng tạo
trí tuệ của quốc gia càng nhiều thì danh tiếng của quốc gia ấy càng cao; số lượng các sản
phẩm trong văn học và nghệ thuật càng nhiều thì càng có nhiều cộng sự trong các ngành
công nghiệp giải trí, sách báo, ghi âm; và thực vậy, suy cho cùng thì việc thúc đẩy sáng
tạo trí tuệ là một trong những cơ sở tiên quyết cho mọ
i sự phát triển xã hội, kinh tế và
văn hoá.
Bảo hộ quyền tác giả, từ góc độ của người tạo ra tác phẩm, chỉ có ý nghĩa nếu người tạo
ra tác phẩm thực sự được hưởng lợi từ các tác phẩm đó, và điều này không thể có được
nếu không có sự công bố và truyền bá tác phẩm của người đó cũng như việc tạo điều
kiệ
n thuận lợi cho sự công bố, truyền bá đó. Đây chính là vai trò thiết yếu của quyền tác
giả trong các nước đang phát triển.
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới khả năng sáng tạo trí tuệ ở các nước đang phát triển bên
gốc. Danh mục liệt kê không đầy đủ minh hoạ cho các tác ph
ẩm này được quy định trong
các luật quốc gia. Để được bảo hộ theo luật quyền tác giả, các tác phẩm của một tác giả
phải xuất phát từ chính người đó; chúng phải có nguồn gốc từ lao động của tác giả. Tác
phẩm được bảo hộ không phụ thuộc vào chất lượng của nó và cả khi nó có một chút ít
nét chung với văn học, nghệ thuật và khoa học, như các chỉ dẫn kỹ
thuật thuần tuý hoặc
bản vẽ kỹ thuật, thậm chí là các bản đồ. Các ngoại lệ so với nguyên tắc chung được quy
định trong các luật bản quyền theo các danh mục liệt kê đặc biệt; theo đó, các văn bản
pháp luật, các quyết định chính thức hoặc tin tức thuần tuý trong ngày nói chung sẽ
không được bảo hộ quyền tác giả.
Trên thực tế, tất cả các luật quốc gia về quyền tác giả
đều quy định việc bảo hộ đối với
các tác phẩm sau:
– Các tác phẩm văn học
: tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, kịch và tác phẩm viết bất
kỳ không phụ thuộc vào nội dung của chúng (hư cấu hay không hư cấu), độ
dài, mục đích (giải trí, giáo dục, thông tin, quảng cáo, tuyên truyền, v.v ),
hình thức (viết tay, đánh máy, in; sách, cuốn sổ nhỏ, các tờ rời, báo, tạp chí);
được công bố hay chưa được công bố; ở phần lớn các nước, “các tác phẩm
truyền miệng”, nghĩa là các tác phẩm không
được viết ra, cũng được bảo hộ
bởi luật bản quyền;
– Các tác phẩm âm nhạc
: dù nghiêm trang hay nhẹ nhàng; các bài hát, bản hợp
ca, opera, âm nhạc, ca kịch ngắn; nếu được trình diễn, thì dù đó là bằng một
nhạc cụ (solo), một vài nhạc cụ (sonatas, bản nhạc, v.v…) hoặc nhiều nhạc cụ
4. Các quyền năng trong quyền tác giả
Chủ sở hữu quyền tác giả
đối với một tác phẩm được bảo hộ có thể sử dụng tác phẩm
như mong muốn - nhưng không được làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của
người khác - và có thể không cho người khác sử dụng tác phẩm nếu không được sự đồng
ý của mình. Như vậy, các quyền mà luật pháp ban cho chủ sở hữu quyền tác giả đối với
tác phẩm được bảo hộ th
ường được mô tả như “các quyền tuyệt đối” trong việc cho phép
người khác sử dụng tác phẩm đã được bảo hộ.
Phần lớn các luật bản quyền đều xác định các hành vi liên quan tới tác phẩm, theo đó,
ngoài chủ sở hữu quyền tác giả, những người khác không thể thực hiện nếu không được
phép của chủ sở hữu quyền. Các hành vi đòi hỏi phải được sự đồ
ng ý của chủ sở hữu
quyền tác giả thường bao gồm: sao chép hoặc nhân bản; trình diễn tác phẩm trước công
chúng; ghi âm tác phẩm; làm phim từ tác phẩm; phát sóng tác phẩm; dịch tác phẩm; sửa
chữa tác phẩm.
(i) Quyền nhân bản và các quyền liên quan
Quyền của chủ sở hữu quyền tác giả ngăn cấm người khác sao chép tác phẩm của mình
là quyền năng cơ bản nhất của quyền tác giả. Ví dụ, việc nhân b
ản một tác phẩm đã được
bảo hộ là hành vi được tiến hành bởi người công bố mong muốn phát tán các bản sao của
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
7
tác phẩm nguyên bản tới công chúng dưới hình thức bản sao in hoặc bằng phương tiện
kỹ thuật số như các CD-ROMs. Tương tự, quyền của người sản xuất bản ghi âm trong
(ii) Các quyền trình diễn
Một hành vi khác cần được cho phép là hành vi trình diễn trước công chúng - ví dụ, độc
tấu trước công chúng, trình diễn kịch ho
ặc âm nhạc trước khán giả. Quyền kiểm soát
hành vi trình diễn trước công chúng này là mối quan tâm không chỉ của các chủ sở hữu
quyền tác giả đối với tác phẩm được thiết kế ban đầu cho công diễn, mà còn đối với các
chủ sở hữu quyền tác giả và những người đã được uỷ quyền, khi có người khác muốn
soạn lại để trình diễn trước công chúng các tác phẩm ban đầu dự định đượ
c sử dụng bằng
cách nhân bản hoặc xuất bản. Ví dụ, một tác phẩm được viết ban đầu bằng một cách thức
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
8
đặc biệt nhằm đọc tại nhà hoặc ở thư viện có thể được chuyển đổi (“điều chỉnh”) thành
một vở kịch dự kiến được trình diễn trước công chúng trên sân khấu của nhà hát.
(iii) Các quyền ghi âm
Chừng nào mà âm nhạc còn được quan tâm thì việc ghi âm còn là một phương tiện được
ưa thích nhất để đưa tác phẩm đến với công chúng rộng rãi. Điều này đáp ứng mục đích
dành cho các tác phẩm âm nhạc tương tự như sách đối với các tác phẩm văn học. Các
bản ghi âm có thể được kết hợp riêng với nhạc, với lời hoặc cả nhạc và lời. Quyền cho
phép thực hiện ghi âm thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả phần nhạc và cả chủ sở hữu
quyền tác giả phần lời. Nếu đây là hai người khác nhau, thì trong trường hợp bả
n ghi âm
kết hợp cả nhạc và lời, nhà sản xuất bản ghi âm phải được phép của hai chủ sở hữu này.
Theo luật của một số quốc gia, nhà sản xuất bản ghi âm còn phải được phép của những
người biểu diễn (người chơi nhạc và người hát hoặc tấu lời). Đây là một ví dụ khác về
tán mà chỉ những người có công cụ kết nối với đường cáp dùng để khuếch tán ký hiệu
mới có thể tiếp nhận được.
Theo Công ước Berne, chủ sở hữu quyền tác giả có quyền tuyệt đối trong việc cho phép
cả hai việc: phát sóng không dây và khuếch tán bằng đường cáp các tác phẩm của mình.
(vi) Các quyền dịch và sửa
đổi
Hành vi dịch thuật hoặc sửa đổi tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả đòi hỏi phải được
phép của chủ sở hữu quyền tác giả. “Dịch thuật” nghĩa là thể hiện tác phẩm bằng một
ngôn ngữ khác với phiên bản gốc. “Sửa đổi” nói chung được hiểu là làm thay đổi tác
phẩm từ dạng này sang dạng khác (ví dụ, chuyển thể một tiểu thuyế
t thành phim) hoặc
sửa đổi tác phẩm cho phù hợp với các điều kiện khai thác khác nhau (ví dụ, chỉnh lý sách
hướng dẫn ban đầu dành cho giáo dục đại học thành sách hướng dẫn dành cho học sinh
cấp thấp hơn).
Bản thân tác phẩm dịch và sửa đổi cũng được bảo hộ theo quyền tác giả. Vì vậy, ví dụ,
để nhân bản và xuất bản bản dịch và sửa chữa, nhà xuất bản phải được s
ự cho phép của
cả hai người: chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm gốc và chủ sở hữu quyền tác giả
đối với bản dịch hoặc bản sửa đổi.
(vii) Các quyền tinh thần
Công ước Berne yêu cầu các nước thành viên trao quyền cho các tác giả:
– Quyền yêu cầu về sở hữu đối với tác phẩm.
giao li xăng là khi chủ sở hữu quyền tác giả vẫn là chủ sở hữu nhưng cho phép một
người nào đó khác thực hiện tất cả hoặc một số quyền năng của người đó trong các giới
hạn có thể. Khi việc cho phép hoặc li xăng đó được mở rộng tới hết giai đoạn của quyền
tác giả và tới t
ất cả các quyền được bảo hộ (tất nhiên, trừ các quyền tinh thần) thì người
được chuyển giao li xăng, đối với các bên thứ ba và đối với mọi mục đích thực tế, được
xem như có vị trí tương tự như chủ sở hữu quyền tác giả.
6. Giới hạn bảo hộ quyền tác giả
(i) Thời hạn
Pháp luật quy định thời hạn, đ
ó là khoảng thời gian mà các quyền của chủ sở hữu quyền
tác giả tồn tại. Thời hạn của quyền tác giả bắt đầu từ khi tạo ra tác phẩm và tiếp tục cho
đến một khoảng thời gian sau khi tác giả chết. Mục đích của quy định này trong luật là
nhằm giúp cho những người thừa kế của tác giả có được các lợi ích kinh tế sau khi tác
giả chết. Ở các nước thành viên Công ướ
c Berne và nhiều nước khác, thời hạn quyền tác
giả được quy định theo luật quốc gia là suốt cuộc đời tác giả và không quá 50 năm sau
khi tác giả qua đời. Trong những năm gần đây, xuất hiện chiều hướng kéo dài thời hạn
bảo hộ quyền tác giả.
(ii) Địa lý
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
11
Chủ sở hữu quyền tác giả được pháp luật quốc gia bảo vệ chống lại các hành vi bị hạn
chế bởi quyền tác giả được thực hiện tại quốc gia này. Để được bảo vệ chống lại các
hành vi tương tự được thực hiện ở quốc gia khác, anh ta phải dựa vào pháp luật của quốc
gia đó. Nếu cả hai quốc gia đều là thành viên của một trong các công ướ
tác phẩm nhằm mục đích phát sóng, ngay cả khi không được sự đồng ý cụ thể cho hành
vi này. Pháp luật của một số nước cho phép phát sóng các tác phẩm đã được bảo hộ mà
không phải xin phép, với điều kiện trả một khoản tiền thù lao hợp lý cho chủ sở hữu
quyền tác giả. Hệ thống, theo đó quyền được hưởng thù lao có thể đượ
c thay thế cho
quyền tuyệt đối cho phép thực hiện một hành vi nhất định, thường được gọi là hệ thống
của “các li xăng cưỡng bức”. Các li xăng này được gọi là “cưỡng bức” vì chúng là kết
quả của việc vận hành pháp luật chứ không phải là của việc thực thi quyền tuyệt đối của
chủ sở hữu quyền trong việc cho phép thực hiện các hành vi cụ thể.
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
12
7. Sao chép lậu và xâm phạm quyền Các quyền của chủ sở hữu quyền tác giả bị xâm phạm khi một trong số các hành vi cần
phải xin phép chủ sở hữu quyền được thực hiện bởi một người nào đó mà không có sự
đồng ý của chủ sở hữu quyền. Việc sao chép trái phép các tài liệu quyền tác giả nhằm
mục đích thương mại và thực hiện hành vi thương mại trái phép đố
i với các tài liệu được
sao chép sẽ bị xem như “sao chép lậu”.
(i) Phạm vi tác động của sao chép lậu
Phần lớn hành vi sao chép lậu là hành động trái phép được tiến hành vì lợi ích thương
mại. Yếu tố lợi ích thương mại này ngụ ý rằng, việc sao chép lậu sẽ thường được thực
hiện trên cơ sở có tổ chức, bởi vì không chỉ có hành vi nhân bản trái phép tác phẩm, mà
tiếp đó còn có việc bán hoặc phân phối tác ph
ẩm bị nhân bản trái phép, mà điều này đòi
hỏi một hình thức mạng lưới nào đó phân phối hoặc liên hệ có tổ chức với các khách
các tiến bộ gần đây thì trước tiên phải kể
đến:
– Sự phát triển của công nghệ in ốp xét, sao chụp và các máy photocopy;
– Việc sáng chế ra băng từ, sự ra đời của đĩa compact và sự phát triển của máy
ghi âm cát xét chất lượng cao, giá rẻ có thể không chỉ chạy các băng cát xét đã
ghi mà còn ghi lại được âm nhạc từ các buổi trình diễn trực tiếp, ghi đài hoặc
máy hát; và
– Việc sáng chế ra máy ghi video làm phát triển rộng khắp loại phương tiệ
n mà
phim và các tác phẩm khác, chủ yếu là ghi hình, có thể tiếp nhận được.
Một hệ quả của các tiến bộ này là sự khác biệt về chi phí giữa một bên là việc tạo ra bản
ghi gốc bởi tác giả và các đối tác kinh doanh của tác giả, và bên kia là việc nhân bản các
bản ghi đó bởi những người khác. Trường hợp đối với một bộ phim, thông qua sự đầu tư
của chính mình và các đối tác, nhà sản xuất phả
i tài trợ cho người viết kịch bản và bất kỳ
tác giả văn học nào tham gia, người soạn nhạc, diễn viên, chi cho việc phân vai, địa điểm
và phương tiện trường quay cũng như việc sử dụng thiết bị ghi âm, ghi hình phức tạp.
Một khi bản ghi hữu hình được làm thành phim, tuy nhiên, đặc biệt là nếu bản ghi nằm
trong một chương trình ghi video, thì các bản ghi tiếp theo của tác phẩm có thể được
nhân bả
n rất dễ dàng và với chi phí thấp. Như vậy, các tiến bộ trong công nghệ ghi đã tạo
ra các phương tiện mà những kẻ sao chép lậu có thể dễ dàng sản xuất ra các phiên bản
bất hợp pháp của tác phẩm gốc. Vì kẻ sao chép lậu không làm ra, và vì thế cũng không
cần phải trả chi phí cũng như bất kỳ sự đầu tư nào cho việc tạo ra tác phẩm gốc, nên các
bản sao chép lậu thường được bán v
ới giá thấp, vì thế, làm tổn hại tới khả năng có được
nữa, việc kiệ
n ra toà như một hành động khởi đầu đối với hành vi xâm phạm, thông qua
việc gây sự chú ý đối với kẻ sao chép lậu hoặc những kẻ phân phối tác phẩm mà kẻ đó
sao chép lậu, có thể làm huỷ hoại các chứng cứ quan trọng cần thiết để xác định nguồn
cung ứng và quy mô lượng hàng bán ra. Ngoài ra, vì việc sao chép lậu thường kéo theo
các đường dây quốc tế, nên có nguy cơ là các nguồn lực tài chính và các tài sản khác của
kẻ sao chép l
ậu có thể bị xoá bỏ khỏi phạm vi vụ xét xử, và vì vậy, làm mất đi khả năng
được bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu quyền tác giả.
Các khó khăn này càng nhấn mạnh sự cần thiết phải có các bồi thường sơ bộ ban đầu
được tiến hành một cách khẩn trương, nó sẽ hỗ trợ cho việc tập hợp chứng cứ chống l
ại
kẻ sao chép lậu, ngăn chặn việc tiêu huỷ chứng cứ và việc xoá bỏ các nguồn lực tài chính
đang bị kiện bồi thường. Trong nhiều nền tài phán theo hệ thống luật chung, nhiều diễn
tiến mới đã xuất hiện những năm gần đây nhằm đáp ứng yêu cầu này.
(ii) Lệnh tịch thu
Đi đầu trong những diễn tiến mới xuất hiện trong bồi th
ường sơ bộ ban đầu chính là lệnh
tịch thu. Lệnh này (được phát triển bởi Tòa Thượng thẩm Anh trong vụ Anton Piller
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
15
K.G. kiện Manufacturing Processes Ltd. [1976] RPC 719), là một quyết định của Tòa án
cho phép điều tra các tài sản được cho là dựa vào đó để tiến hành hành vi xâm phạm
quyền tác giả của nguyên đơn. Lệnh này có một số đặc điểm khiến cho nó trở thành một
biện pháp bồi thường đặc biệt thích hợp đối với việc sao chép lậu:
– Thứ nhất, lệnh này được ban bố từ một phía, nghĩa là trên cơ s
ảnh báo trước; và rằng các thiệt hại
tiềm năng hoặc thực tế đối với nguyên đơn như một hậu quả của các hành vi sai trái bị
buộc tội của bên bị đơn là vô cùng nghiêm trọng.
Biện pháp bảo vệ thứ hai thường đòi hỏi sự tôn trọng thích đáng đối với các quyền của
bên bị đơn khi thi hành lệnh của tòa. Trong trường hợp này, có thể có yêu cầu rằng, khi
thi hành l
ệnh, chủ sở hữu quyền tác giả phải có mặt kèm theo luật sư của mình, tạo cho
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
16
bên bị đơn có cơ hội đầy đủ để xem xét lệnh của tòa, và không cưỡng đoạt các tài sản
của bị đơn đi ngược lại với ý muốn của anh ta.
(iii) Các lệnh cấm tạm thời
Nhằm giảm thiểu các thiệt hại gây ra bởi hành vi sao chép lậu, điều quan trọng là chủ sở
hữu quyền phải hành động nhanh chóng để ngăn chặn hành vi này tiếp diễn. Càng để
hành vi sao chép lậu kéo dài, chủ sở hữu quyền sẽ càng bị mất đi thị phần tiềm năng của
mình, và như vậy càng mất đi khả năng bù đắp các lợi ích kinh tế đối với sự sáng tạo
hoặc đầu tư của mình. Mục đích của lệnh cấm tạm thời là đáp ứng yêu cầu này bằng việc
đưa ra giải pháp nhanh chóng và tạm thời trong giai đoạ
n trước khi diễn ra phiên tòa xét
xử đầy đủ hành vi xâm phạm, nhờ vậy, ngăn chặn được việc phát sinh các thiệt hại
không thể bù đắp được đối với các quyền của nguyên đơn.
(iv) Các bồi thường cuối cùng
Hai biện pháp bồi thường thông thường đối với chủ sở hữu quyền tác giả trong các nền
tài phán theo hệ thống luật chung tiếp sau phiên xét xử cuối cùng đối với hành vi xâm
đưa các tác phẩm của mình tới công chúng rộng rãi, được tiến hành thông qua công cụ
của các quyền kề cận. Tất cả những người sử dụng các tác phẩm văn học, nghệ thuật và
khoa học nhằm đưa chúng tiếp c
ận được với công chúng đều đòi hỏi sự bảo hộ cho riêng
mình chống lại việc sử dụng bất hợp pháp các sản phẩm của mình trong quá trình truyền
bá tác phẩm tới công chúng.
(b) Ngành in ấn
Máy quay đĩa, đài, phim, vô tuyến truyền hình, chương trình video và vệ tinh khiến cho
có thể định hình các trình diễn trên nhiều loại vật liệu, như các bản ghi âm, băng cát xét,
băng ghi âm, phim, v.v… Điều mà trước đây là mộ
t đoạn trình diễn biệt lập, ngắn, trực
tiếp trên tường trước một nhóm khán giả giới hạn nay đã trở thành màn trình diễn vĩnh
viễn có khả năng sử dụng và nhân bản ảo một cách không giới hạn và lặp đi lặp lại trước
một số lượng khán giả không giới hạn, vượt qua các biên giới quốc gia. Sự phát triển của
các chương trình phát sóng và gần đây h
ơn, của truyền hình, cũng có các ảnh hưởng
tương tự.
Các đổi mới công nghệ này, vì có thể cho phép nhân bản các màn trình diễn cá nhân của
các nghệ sỹ biểu diễn và sử dụng chúng mà không cần sự có mặt của họ cũng như không
cần người sử dụng phải có nghĩa vụ đạt được thỏa thuận với họ, đã dẫn tới việc giảm bớt
các buổi trình di
ễn trực tiếp. Tương tự, sự phát triển ngày càng nhanh của công nghệ ghi
âm, cát xét và gần đây là đĩa CD, và sự gia tăng nhanh chóng của chúng, dẫn đến sự cần
thiết phải bảo hộ các nhà sản xuất bản ghi âm. Sức lôi cuốn của bản ghi âm, cũng như
việc dễ dàng có được trên thị trường nhiều chủng loại mặt hàng ghi âm phức tạp, đã gây
nên một vấn nạn sao chép lậu ngày càng gia tă
ng mà hiện nay trở thành một tai họa toàn
này. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển, nơi truyền thống
được truy
ền miệng rộng rãi và nơi tác giả thường cũng chính là người trình diễn. Trong
trường hợp này, địa điểm chiếm lĩnh của các tác phẩm dân gian cần được ghi nhớ trong
tâm trí, và quyền lợi của các nghệ sỹ biểu diễn và duy trì tác phẩm dân gian phải được
bảo vệ khi tiến hành sử dụng các trình diễn của họ. Bằng việc bảo vệ các nhà sản xuất
bản ghi âm, đặc biệt ở
các nước đang phát triển, thì cơ sở để hình thành nền công nghiệp
ở khu vực thứ ba của nền kinh tế cũng được bảo đảm. Nền công nghiệp đó, trong khi bảo
đảm truyền bá văn hóa dân tộc cả ở trong nước và trên thế giới, còn có thể bổ sung thêm
một nguồn lợi tức quan trọng nữa cho nền kinh tế đất nước, và khi các hoạt động của nó
vượt ra khỏi biên giới qu
ốc gia, thì đây còn có thể là hiện thân của luồng thu hút ngoại
tệ. Cũng không nên quên phần được trình diễn bởi các tổ chức phát sóng ở các nước
đang phát triển cũng như việc các tổ chức này có quyền lợi tự nhiên trong việc bảo vệ
các chương trình của họ chống lại việc phát sóng lại, nhân bản và truyền bá cho công
chúng. (c) Công ước Rome
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
19Công ước Rome 1967 quy định việc bảo hộ quyền lợi của người biểu diễn, người sản
xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng trong các hoạt động của họ liên quan tới việc sử
dụng công cộng các tác phẩm của các tác giả, mọi hình thức biểu diễn của các nghệ sỹ
hay việc truyền bá tới công chúng các sự kiện, thông tin, âm thanh, hình ảnh. Các loại
quyền quan trọng nhất là: quyền củ
a người biểu diễn ngăn chặn việc định hình, phát sóng
Dân gian được định nghĩa trong Quy định mẫu của WIPO/UNESCO cho luật quốc gia về
bảo hộ tác phẩm dân gian chống lại việc khai thác bất hợp pháp và các hành vi gây tổn
hại khác như sau:
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
20
Dân gian (theo nghĩa rộng là văn hoá truyền thống và dân gian thông thường) là
một sáng tạo mang tính định hướng cộng đồng và dựa trên truyền thống của các
nhóm người hoặc các cá nhân phản ánh ước vọng của cộng đồng như một hình
thức thể hiện đầy đủ đặc điểm văn hoá và xã hội của nó; các chuẩn mực của nó
được truyền miệng, thông qua sự bắt chước hoặc các hình thức khác. Các thể
loại
tác phẩm dân gian bao gồm ngôn ngữ, văn học, âm nhạc, điệu múa, trò chơi, thần
thoại, nghi lễ, tập quán, thủ công, kiến trúc và các nghệ thuật khác.
Khái niệm “Các hình thức thể hiện văn hoá truyền thống” - “Traditional Cultural
Expressions” (TCE) chứa đựng các quan ngại của các quan sát viên, những người chỉ
trích nghĩa hẹp của khái niệm “dân gian”.
(ii) Tại sao phải bảo hộ các hình thức thể hiện văn hoá truyền thống
Bố
n quan ngại “mở đầu” dẫn tới các đề xuất quốc tế về bảo hộ các tác phẩm dân gian
(Jabbour, 'Folklore protection and national patrimony: developments and dilemmas in the
legal protection of folklore' (1982) XVII, No.1 Copyright Bulletin 10 at 11-12 - Jabbour,
'Bảo hộ tác phẩm dân gian và di sản dân tộc: các diễn tiến mới và vấn đề trong bảo hộ
pháp lý đối với tác phẩm dân gian' (1982) XVII, No.1 Copyright Bulletin 10, trang 11-12)
gồm: Thứ nhất, mối quan ngại về sự chấp nhận chính thức tác phẩm dân gian trước mối
đe dọa về kinh tế
, tâm lý và văn hoá từ các nguồn ngoại tộc. Thứ hai, sự trưng dụng tài
sản vì mục đích chung, không chỉ vì các mục đích vật chất, mà còn là sự ghi nhận về tư
phát triển là định nghĩa về các quyền chuyển tiếp của nước đ
ang phát triển và vấn đề li
xăng cưỡng bức. Việc thiết lập một chế độ bảo hộ đối với tác phẩm dân gian là vấn đề
được cân nhắc nhiều. Mặc dù Nghị định thư được thông qua một cách miễn cưỡng trong
phiên họp cuối cùng của Hội nghị Stockholm, nhưng nó cũng đã không có hiệu lực bởi
không đảm bảo số lượng phê chuẩn. Nghị định thư
này trở thành một Phụ lục của Văn
bản Paris, được thông qua bởi Hội nghị Sửa đổi Paris năm 1971.
Hiệu lực lâu dài của Nghị định thư này là hoàn toàn chậm, khi Điều 9 Thỏa ước TRIPs
buộc các quốc gia thành viên WTO phải tuân thủ từ “Điều 1 đến Điều 21 Công ước Berne
(1971) và Phụ lục đính kèm”.
Sự thất bại của các nước đang phát triển trong việc đả
m bảo việc bảo hộ có hiệu quả đối
với tác phẩm dân gian theo một cơ chế được điều hành bởi Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế
giới đã lý giải các sáng kiến được đưa ra giữa các tổ chức quốc tế khác. Tháng 4 năm
1973, Chính phủ Bolivia đã gửi một Bản ghi nhớ tới Tổng Giám đốc Tổ chức UNESCO
yêu cầu tổ chức này xem xét c
ơ hội soạn thảo một công cụ quốc tế về bảo hộ các tác
phẩm sáng tạo của người bản địa dưới hình thức một Nghị định thư kèm theo Công ước
toàn cầu về quyền tác giả được UNESCO điều hành. Tiếp theo đề nghị đó, năm 1975,
Ban thư ký UNESCO đã tiến hành khảo sát các ý kiến mong muốn có được sự bảo hộ đối
với các hình thứ
c văn hóa của người bản địa trên bình diện quốc tế. Do tầm nhận thức ở
quy mô rộng của phân tích này, năm 1977, Tổng Giám đốc UNESCO đã triệu tập một
Hội đồng chuyên gia về bảo hộ pháp lý đối với tác phẩm dân gian. Trong báo cáo năm
1977, Hội đồng đã kết luận rằng, vấn đề này đòi hỏi phải có sự khảo sát về xã hội học,
tâm lý học, dân tộc h
ọc và lịch sử - chính trị trên “cơ sở đa ngành trong khuôn khổ cách
giả lấy cảm hứng từ dân gian. Quy định mẫu được thiết kế với ý định dành một khoảng
trống cho pháp lu
ật quốc gia thông qua hệ thống bảo hộ phù hợp nhất với các điều kiện
hiện có của nước mình.
Đối tượng bảo hộ
Chưa có một định nghĩa được chấp nhận chung cho tác phẩm dân gian. Tuy nhiên, theo
mục đích của Quy định mẫu, Mục 2 đã giải thích thuật ngữ “hình thức thể hiện dân gian”
tương tự như đề xuất của Hội đồng chuyên gia chính ph
ủ về bảo hộ các tác phẩm dân
gian, họp tại Paris tháng 2 năm 1982, và quy định rằng “các hình thức thể hiện dân gian”
được hiểu là các sản phẩm chứa đựng các thành tố đặc thù của di sản nghệ thuật truyền
thống được phát triển và duy trì bởi một cộng đồng trong quốc gia hoặc bởi các cá nhân,
phản ánh ước vọng nghệ thuật truyền thống của cộng đồng đó.
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
23
Định nghĩa về các hình thức thể hiện dân gian này bao trùm cả các khái niệm phát triển
cá nhân và tập thể của di sản nghệ thuật truyền thống, bởi vì tiêu chí áp dụng chung cho
tính sáng tạo “khách quan” không phải lúc nào cũng tương thích với hiện thực phát triển
của tác phẩm dân gian.
Việc sử dụng các từ “các hình thức thể hiện" và “các sản phẩm” chứ không phải là “các
tác phẩm” nhằm nhấn mạnh một thực tế là các quy định này mang tính
đặc thù (sui
generis) so với các quy định của quyền tác giả, vì “các tác phẩm” là đối tượng của quyền
tác giả. Về thực chất, các hình thức thể hiện dân gian có thể và phần-lớn-trên-thực-tế có
hình thức nghệ thuật tương tự như “các tác phẩm”.
bài hát và âm nhạc theo nhạc cụ dân gian”; thứ ba là “các điệu nhảy, trò chơi và các hình
thức nghệ thuật nghi lễ dân gian"; và thứ tư là “các bức vẽ, tranh, chạm trổ, điêu khắc,
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
24
gốm sứ, khảm, đồ gỗ, đồ kim loại, đồ trang sức, đan rổ, thêu, dệt, thảm, quần áo, nhạc
cụ, các hình thức kiến trúc dân gian”. Đối tượng được liệt kê cuối cùng trong Quy định
mẫu được đặt trong dấu ngoặc vuông nhằm thể hiện sự ngần ngại, dành cho các quốc gia
tự quyết định về việc đưa hay không đưa nó vào phạm vi các hình thức thể hiện dân gian
được bả
o hộ.
Việc xác định các hình thức thể hiện dân gian phát sinh và được phát triển bởi một cộng
đồng có thể đạt được bằng cách duy trì bảng liệt kê chúng. Tuy nhiên, bảng liệt kê này
chủ yếu liên quan đến việc gìn giữ văn hóa nghệ thuật dân gian, nên việc điều chỉnh nó
không thuộc phạm vi của các Quy định mẫu này.
Các hành vi gây tổn hại
Như được phản ánh trong Quy định mẫu, có hai loại hành vi chủ yếu mà các hình thứ
c
thể hiện dân gian cần được bảo hộ chống lại chúng. Đó là "khai thác bất hợp pháp" và
“các hành vi gây tổn hại khác” (Mục 1).
"Khai thác bất hợp pháp
" hình thức thể hiện dân gian được hiểu trong các Quy định mẫu
là bất kỳ việc sử dụng nào được thực hiện nhằm mục đích thu lợi, ngoài phạm vi truyền
thống hay tập quán và không được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền hoặc cộng đồng
liên quan tới nó. Nghĩa là, việc sử dụng - kể cả nhằm mục đích thu lợi - trong phạm vi
truyền thống hoặc t
ập quán thì cũng không phải là đối tượng được phép. Mặt khác, việc