Các loại liên kết hóa học - Pdf 21

Các loại liên kết hóa học
(Hóa học ngày nay-H2N2)-Trong hóa học, liên
kết hóa học là lực, giữ cho các nguyên tử cùng nhau trong các phân tử hay các
tinh thể. Sự hình thành các liên kết hóa học giữa các nguyên tố để tạo nên phân
tử được hệ thống hóa thành các lý thuyết liên kết hóa học .
- Thuyết liên kết hóa trị và khái niệm của số ôxi hóa được dùng để dự
đoán cấu trúc và thành phần phân tử.


- Thuyết vật lý cổ điển về liên kết điện tích và khái niệm của số điện âm
dùng để dự đoán nhiều cấu trúc ion.
Với các hợp chất phức tạp hơn, chẳng hạn các phức chất kim loại, thuyết liên
kết hóa trị không thể giải thích được và sự giải thích hoàn hảo hơn phải dựa
trên các cơ sở của cơ học lượng tử.
Các đặc trưng không gian và khoảng năng lượng tương tác bởi các lực hóa học
nối với nhau thành một sự liên tục, vì thế các thuật ngữ cho các dạng liên kết
hóa học khác nhau là rất tương đối và ranh giới giữa chúng là không rõ ràng.
Tuy vậy, Mọi liên kết hóa học đều nằm trong những dạng liên kết hóa học sau
1. Liên kết ion: Liên kết ion, hay liên kết điện tích, là một liên kết hóa học có
bản chất là lực hút tĩnh điện giữa hai ion mang điện tích trái dấu. Liên kết ion
thường là liên kết giữa các nguyên tử nguyên tố phi kim với các nguyên tử
nguyên tố kim loại. Các nguyên tử kim loại (có 1, 2, 3 electron lớp ngoài cùng)
có độ âm điện nhỏ, dễ mất electron tạo ra ion dương (cation). Các nguyên tử
phi kim (có 5, 6, 7 electron lớp ngoài cùng) có độ âm điện lớn, dễ nhận
electron để tạo ra ion âm (anion). Liên kết ion được hình thành do lực hút tĩnh
điện giữa kim loại điển hình và phi kim điển hình.
Tính chất của các hợp chất có liên kết ion


bằng nhau. Do đó, các cặp electron chung bị nghiêng về nguyên tử có độ âm
điện lớn hơn, liên kết bị phân cực.
Ví dụ: Liên kết cộng hóa trị giữa H và Cl: Mỗi nguyên tử góp chung 1 electron
tạo nên 1 liên kết cộng hóa trị, độ âm điện của Cl là 3.16, lớn hơn của H là 2.2
nên cặp electron chung bị nghiêng về phía Cl, liên kết bị phân cực.
Tính chất của liên kết cộng hóa trị
Các chất mà phân tử chỉ có liên kết cộng hóa trị có thể là chất rắn như: đường,
lưu huỳnh, sắt ; chất lỏng như: nước, rượu , hoặc chất khí như: cacbonic, clo,
hiđrô,
Các chất có cực như ancol ethylic, đường, tan nhiều trong dung môi có cực
như nước. Phần lớn các chất không cực như iot và các chất hữu cơ không cực
tan trong dung môi không cực như benzen, cacbon tetraclorua
Nói chung, các chất chỉ có liên kết cộng hóa trị không cực không dẫn điện ở
mọi trạng thái.
3. Liên kết cộng hóa trị phối hợp: Liên kết cộng hóa trị phối hợp (còn được
biết đến như là liên kết cho nhận) là một dạng đặc biệt của liên kết cộng hóa
trị, trong đó các điện tử chia sẻ chỉ đến từ một nguyên tử duy nhất. Khi liên kết
được tạo thành, độ bền của nó không khác gì so với liên kết cộng hóa trị.
Các liên kết cộng hóa trị phối hợp được tạo thành khi một bazơ Lewis (chất
cung cấp điện tử) cung cấp một cặp điện tử cho axít Lewis (chất nhận điện tử)
và hợp chất tạo thành sau đó được gọi là adduct.
Tính chất của liên kết cộng hóa trị phối hợp
Các liên kết phối hợp có thể tìm thấy trong nhiều chất khác nhau, chẳng hạn
như trong các phân tử đơn giản như mônôxít cacbon (CO), trong đó có một
liên kết phối hợp và hai liên kết cộng hóa trị thông thường giữa nguyên tử
cacbon và nguyên tử ôxy, hay trong ion amôni (NH4+), trong đó liên kết phối
hợp được tạo thành giữa prôton (ion H+) và nguyên tử nitơ. Các liên kết phối
hợp cũng được tạo ra trong các hợp chất thiếu điện tử, chẳng hạn như trong
clorua berili rắn (BeCl2), trong đó mỗi nguyên tử berili được liên kết tới bốn
nguyên tử clo, hai với liên kết cộng hóa trị thông thường và hai với liên kết

kết giữa chúng là liên kết kim loại). Mạng kim loại thông thường đối với hầu
hết các kim loại là: lập phương tâm diện, lập phương tâm khối và lục phương.
Trong đó, mạng lục phương và lập phương tâm diện là khít nhất.
5. Liên kết hiđrô: Liên kết hiđrô là liên kết hóa học khi có lực hút tĩnh điện
giữa:


H mang điện dương: là nguyên tử hidro liên kết với nguyên tố có độ âm
điện mạnh như N, Cl, O, F


Nguyên tố có độ âm điện mạnh, mang điện âm
Ảnh hưởng của liên kết hidro đến tính chất lí, hóa học của các chất


Liên kết hidro liên phân tử làm tăng nhiệt độ nóng chảy, nhiệt độ sôi


Liên kết hidro liên phân tử làm giảm độ điện ly của axit


Gây biến đổi độ tan : nếu chất tan tạo được liên kết hidro với dung môi
thì chất tan tan tốt trong dung môi đó. Ví dụ: rượu etilic tan vô hạn trong
nước, amoniac tan rất tốt trong nước

Mọi liên kết hóa học phát sinh ra từ tương tác giữa các điện tử của các nguyên
tử khác nhau đưa đến quá trình hình thành liên kết chính là sự giảm mức năng
lượng. Điều này cho thấy, các quá trình hình thành liên kết luôn có năng lượng
đính kèm entanpi < 0 (hệ toả năng lượng).
Trong liên kết điện tích, nguyên tố các điện tích liên kết với nhau qua lực hấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status