Viêm khớp dạng thấp: Thận trọng với các thuốc ức chế miễn
dịch
Trước kia, nguyên nhân gây viêm khớp dạng thấp (VKDT)
được cho là do nhiễm đa khuẩn, rối loạn hormon chuyển hóa
nhưng không có bằng chứng. Vài thập niên gần đây, tiến bộ về
miễn dịch học, sinh học phân tử cho phép hiểu thêm sự khởi
phát, duy trì, tiến triển bệnh và xác định là bệnh tự miễn.
Thuốc điều trị bệnh cũng có những nguyên tắc nhất định.
Trong điều trị, trước chỉ dùng các thuốc chữa triệu chứng như
kháng viêm không steroid (NSAIDs) thì nay còn dùng nhóm thuốc
mới gọi là nhóm chống thấp có cải thiện được bệnh (giảm nhẹ các
đợt tiến triển cấp, ngừng hủy hoại, bảo tồn chức năng vận đông
khớp) viết tắt DMAD (disease-
modifying anthirheumatic drugs).
Nguyên tắc dùng nhóm DMAD
DMAD là các chất ức chế miễn
dịch nên không dùng cho người
mắc bệnh: suy giảm miễn dịch
(nhiễm HIV), bị các bệnh khác hay
quá già mà khả năng miễn dịch đã
bị sụt giảm (vì làm các bệnh đó trầm trọng thêm). Không dùng cho
người bị nhiễm khuẩn nặng, đang dùng kháng sinh. Không dùng
Viêm khớp bàn tay.
đồng thời với các thuốc làm giảm miễn dịch khác như corticoid
(trừ trường hợp đặc biệt do thầy thuốc chỉ đinh, theo dõi).
DMAD có độc với gan, thận có thể gây rối loạn hệ thống tạo máu:
Không dùng DMAD khi các cơ quan này bị bệnh nặng. Ngay với
người bình thường cũng phải làm các chỉ số xét nghiệm gan, thận,
công thức máu trước khi dùng…
Với một số thuốc thường dùng
(quá 4g/ngày). Nên phối hợp với thuốc giảm đau. Không ngừng
dùng thuốc đột ngột.
Sulfasalazin là một sulfamid, vào cơ thể cắt thành sulfapyridin,
mesalazin. Sulfapyridin chuyển hóa ở gan, bài tiết qua nước tiểu,
có thể gây hội chứng thận hư, protein niệu, kết tinh thành tinh thể,
gây huyết niệu, tăng nhất thời transaminase, viêm gan. Vì vậy,
không dùng cho người suy gan thận.
Sulfasalazin ức chế tổng hợp prostaglandin, ảnh hưởng không lợi
đến co thắt ruột, đường niệu. Vì vậy không dùng cho người bị tắc
đường ruột hay tắc đường niệu. Thuốc có thể gây vàng da đa nhân
cho trẻ nên không dùng cho trẻ dưới 2 tuổi; cũng không được dùng
cho người rối loạn chuyển hóa porphyrin.
Cyclosporin: Cyclosporin ức chế đặc hiệu, có hồi phục các tế bào
lympho, ưu tiên trên lympho T, ức chế sản xuất, phóng thích
lymphokin nên ức chế miễn dịch. Dùng trong VKDT tiến triển
nặng khi đáp ứng kém với methotrexat. Có thể phối hợp nếu dùng
methotrexat đơn độc không đỡ.
Cyclosporin dạng uống hấp thu chậm, sinh khả dụng thấp (20-
50%). Dạng tiêm, truyền tĩnh mạch hấp thu tốt, sinh khả dụng cao
hơn nhưng dễ gây sốc phản vệ. Dạng tiêm và truyền tĩnh mạch chỉ
dùng khi không dung nạp dạng uống, dùng tại bệnh viện và sẵn
sàng chống sốc. Với dạng uống tuy ít độc hơn nhưng khi mới bắt
đầu, hay có bất cứ sự điều chỉnh nào thì đều phải dùng tại bệnh
viện. Cyclosporin không dùng cho người suy thận nặng, huyết áp
cao, các bệnh ác tính.
Các loại thuốc trên có ảnh hưởng xấu tới thai nhi và tiết qua sữa
mẹ gây hại cho trẻ vì vậy không dùng cho phụ nữ có thai và cho
con bú.
Ngoài ra, còn nhiều loại khác như chlorambucil, azathioprin,
cyclophophamid trong đó có cả mycophenolat mofetyl mới nghiên