Luân văn tốt nghiệp
Đánh giá tác động của tổ hợp công
trình lên trường thủy động lực vùng
cửa sông ven biển biển Cửa Tùng
Quảng Trị”
Lời cảm ơn
Để có những kết quả ngày hôm nay, tác giả xin bày tỏ sự cảm ơn
chân thành tới thầy giáo PGS.TS Nguyễn Thọ Sáo đã tận tình hướng dẫn.
Tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo Khoa Khí
tượng Thủy văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
đã
đào tạo giúp đỡ cho tác giả học tập và hoàn thành luận văn. Đặc biệt với
tất cả tình cảm của mình, tác giả xin cảm ơn đối với TS. Lê Trọng Đào,
TS. Trần Ngọc Anh và CN. Đặng Đình Khá cùng các cộng sự đã tạo mọi
điều kiện tốt nhất giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện luận văn.
Cuối cùng, tác giả xin chân thành cám ơn gia đình, đồng nghiệ
p, bạn
bè đã chia sẻ, giúp đỡ trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn.
Trong khuôn khổ luận văn không tránh khỏi những sai sót, tác giả
mong nhận được các ý kiến đóng góp từ phía độc giả và các bạn đồng nghiệp. Hà Nội, ngày 9 tháng 01 năm 2011
Đào Văn Giang
2.3. Cơ sở lý thuyết mô hình Mike 21/3 FM 35
Chương 3.
ÁP DỤNG MÔ HÌNH MIKE 21 ĐỂ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA
TỔ HỢP CÔNG TRÌNH LÊN TRƯỜNG THỦY ĐỘNG LỰC VÙNG
CỬA SÔNG VEN BIỂN CỬA TÙNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
42
3.1. Cơ sở dữ liệu 42
3.2. Thiết lập miền tính và điều kiện biên 45
3.3. Hiểu chỉnh và kiểm định mô hình 49
3.4. Mô phỏng theo các tổ hợp công trình 50
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
77
TÀI LIỆU THAM KHẢO
79
PHỤ LỤC
82
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Đặc trưng lưu vực của sông Bến Hải và sông Sa Lung 9
Bảng 1.2: Mưa bình quân năm 12
Bảng 1.3: Nhiệt độ bình quân tháng tại các trạm 12
Bảng 1.4 : Ðộ ẩm không khí tương đối trung bình (%) 13
Bảng 1.5: Bốc hơi bình quân tháng 13
Bảng 1.6: Số giờ nắng theo tháng trung bình năm 14
Bảng 1.7 : Các đơn vị cấp huyện, thị xã và diện tích, dân số 17
Bảng 3.1: Gió và sóng tại trạm Cồn Cỏ 42
Bảng 3.2: Thố
ng kê số liệu thời gian và địa điểm đo sóng, dòng
chảy và mực mước tại khu vực nghiên cứu tháng 8 năm 2009
Hình 3.2: Bình đồ đáy biển khu vực khảo sát 45
Hình 3.3: Địa hình khu vực tính toán 46
Hình 3.4: Miền tính toán 47
Hình 3.5: Lưới phần tử hữu hạn dùng trong mô hình MIKE 21FM 48
Hình 3.6. So sánh vận tốc thực đo và tính toán tại K2 49
Hình 3.7. So sánh v
ận tốc thực đo và tính toán tại K1 49
Hình 3.8. So sánh mực nước thực đo và tính toán tại K2 50
Hình 3.9. So sánh mực nước thực đo và tính toán tại K1 50
Hình 3.10: Trường sóng Đông trong kịch bản 1 54
Hình 3.11: Trường dòng chảy trong sóng Đông theo kịch bản 1 54
Hình 3.12: Trường sóng Đông Bắc trong kịch bản 1 55
Hình 3.13: Trường dòng chảy trong sóng Đông Bắc theo kịch bản 1 55
Hình 3.14: Trường sóng Đông Nam trong kịch bản 1 56
Hình 3.15: Trường dòng chảy trong sóng Đông Nam theo kịch bản 1 56
Hình 3.16: Trường sóng Đông trong k
ịch bản 2 58
Hình 3.17: Trường dòng chảy trong sóng Đông theo kịch bản 2 59
Hình 3.18: Trường sóng Đông Bắc trong kịch bản 2 59
Hình 3.19: Trường dòng chảy trong sóng Đông Bắc theo kịch bản 2 60
Hình 3.20: Trường sóng Đông Nam trong kịch bản 2 60
Hình 3.21: Trường dòng chảy trong sóng Đông Nam theo kịch bản 2 61
iv
Hình 3.22: Trường sóng Đông trong kịch bản 3 63
Hình 3.23: Trường dòng chảy trong sóng Đông theo kịch bản 3 64
Hình 3.24: Trường sóng Đông Bắc trong kịch bản 3 64
Hình 3.25: Trường dòng chảy trong Đông Bắc theo kịch bản 3 65
Hình 3.26: Trường sóng Đông nam trong kịch bản 3 65
Hình 3.27: Trường dòng chảy trong sóng Đông Nam theo kịch bản 3 66
Vùng cửa sông ven biển Cửa Tùng tỉnh Quảng Trị gần đây có sự thay
đổi mạnh mẽ về hình thái. Một trong những yếu tố tác động đến sự thay đổi
đó là những công trình xây dựng ở khu vực này có ảnh hưởng đến các yếu tố
thủy động lực như dòng chảy và lượng bùn cát từ thượng nguồn sông, cũng
như sóng, dòng ven, dòng triều. Từ
đó gây ra quá trình vận chuyển bùn cát
dọc bờ và ngang bờ, cũng như nạo vét lòng sông, vì vậy ảnh hưởng quyết
định tới hình thái vùng cửa sông ven biển. Chế độ thủy động lực là kết quả
tượng tác của các điều kiện thủy lực như dòng chảy, sóng, thủy triều, dòng
ven biển,…
Từ trước đến nay chưa có nghiên cứu cụ thể và hoàn chỉnh về ảnh
hưởng củ
a các công trình lên trường thủy động lực trong khu vực nghiên cứu.
Do đó, việc nghiên cứu đánh giá tác động của tổ hợp công trình lên trường
thủy động lực vùng cửa sông ven biển Cửa Tùng, tỉnh Quảng Trị là một vấn
đề cần được triển khai nghiên cứu để phần nào đóng góp cho công tác quy
1
hoạch và chỉnh trị vùng cửa sông và ven biển, giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai
gây ra.
2. Mục đích nghiên cứu
Áp dụng mô hình Mike 21 để đánh giá tác động của tổ hợp công trình
lên trường thủy động lực vùng cửa sông ven biển Cửa Tùng, tỉnh Quảng Trị.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Trường thủy động lực khi có tổ hợp công trình
- Phạm vi nghiên cứu: Vùng cửa sông ven biển Cử
a Tùng, tỉnh Quảng Trị.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp điều tra, thu thập số liệu, khảo sát bổ
sung các số liệu địa hình, thủy văn, dòng chảy, chế độ thủy triều,…; phương
18'-17
0
10' vĩ độ bắc, cách Hà Nội 582 km về phía
Nam và cách thành phố Hồ Chí Minh 1121 km về phía Bắc.
Phía bắc tỉnh Quảng Trị giáp Quảng Bình, phía nam giáp Thừa Thiên
Huế, phía tây giáp tỉnh Savanakhet (Lào) và phía đông giáp biển Ðông.
Vùng tính toán từ cầu Hiền Lương đến vùng ven biển Cửa Tùng. Toạ độ nằm
trong khoảng:
Từ 16
0
58’ đến 17
0
07’ Vĩ độ Bắc
Từ 107
0
04’ đến 107
0
16’ Kinh độ Đông
Quảng Tri
Hình 1.1: Vị trí khu vực nghiên cứu
3
Các công trình trong vùng tính toán: cầu Cửa Tùng, kè Cửa Tùng, cảng
cá Cửa Tùng.
Cầu Tùng Luật
K2
K1
- Lưu vực sông Bến Hải bắt nguồn từ dãy Trường sơn đổ về sông Bến Hải.
Địa hình lưu vực khá phức tạp, sông trong lưu vực này có độ dốc lớn từ 15
0
/
00
đến 80
0
/
00
, độ dốc sườn núi khoảng 300
0
/
00
.
- Lưu vực vùng đồng bằng hạ lưu sông Bến Hải: Nhìn chung địa hình đồng
bằng khá đơn giản, cao độ tương đối bằng phẳng và thay đổi từ +0,5 đến
+3,5m, xen kẽ các đồng ruộng và các khu nuôi trồng thủy sản là các cụm dân
cư ở cao độ trên +3,0 đến +5,0m.
1.1.3. Đặc điểm địa chất - thổ nhưỡng [6,13]
* Vùng đồng bằng ven biển: vùng đồng bằng của tỉnh Quả
ng Trị không rộng,
chủ yếu tập trung ở hạ lưu các sông Bến Hải, Thạch Hãn, Ô Lâu. Có 14 loại
đất ở vùng này nhưng chỉ có 5 loại đất phù sa là đất tốt song hàm lượng dinh
dưỡng không giàu như các loại đất phù sa ở đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ.
Ðây là nơi tập trung dân cư và là nơi tập trung chủ yếu của các trung tâm kinh
tế của tỉnh, bao gồm các xã nằm phía Đông quốc lộ 1A kéo dài từ V
ĩnh Linh
đến Hải Lăng. Vỏ phong hoá chủ yếu phát triển trên đất đá bazan (Vĩnh Linh)
vùng trầm tích biển và phù sa sông, gồm các tiểu vùng:
- Tiểu vùng bazan Vĩnh Linh, vùng này thích hợp cho trồng cây hồ tiêu.
- Tiểu vùng đất bazan Khe Sanh, Hướng Phùng thuộc các xã Tân Hợp, Tân
Độ, Tân Liên, nông trường Khe Sanh, Hướng Phùng có dạng địa hình lượn
sóng, chia cắt yếu, đất đai phù hợp cho phát triển trồng cây công nghiệp dài ngày.
- Tiểu vùng đất sa phiến thạch thuộc địa phận Lao Bảo, Lìa: Địa hình ở đây
thấp, trũng, đồi lượn sóng. Đất phát triển trên phiến thạch sét bi
ến chất. Ở
những khu đất nhiều phù sa thuận lợi phát triển các cây nông nghiệp, vùng
cao hơn rất thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp dài ngày như hồ tiêu, cà fê.
* Thổ nhưỡng trong vùng nghiên cứu được chia thành 6 loại chính sau đây:
Đất vùng núi cao, gò đồi; Đất cát biển (ARd); Đất mặn trung bình; Đất phù sa
được bồi(FLe); Đất phù sa không được bồi (FLd); Đất phù sa Gley (FLg).
1.1.4. Thảm thực vật [1, 6]
Trong thời gian chiến tranh, tỉnh Quảng Trị nằm trong vùng bị huỷ
diệt
khốc liệt, lớp phủ thực vật bị tàn phá. Ngay khi đất nước thống nhất, kế hoạch
khôi phục lớp phủ thực vật với ý nghĩa phục hồi các hệ sinh thái trở thành kế
6
hoạch hành động cụ thể và tích cực. Đến 1990, nhiều diện tích rừng trồng và
rừng tự nhiên tái sinh do khoanh nuôi bảo vệ đã xuất hiện. Rừng trồng theo
chương trình hỗ trợ của PAM (Chương trình An toàn lương thực Thế giới)
dọc các quốc lộ hoặc tỉnh lộ phát triển nhanh và có hiệu quả môi trường rõ
rệt. Từ các Chương trình Quốc gia 327, 264 và kế hoạch trồng rừng, trồng cây
nhân dân củ
a cấp tỉnh, phát động và đầu tư, đã nâng cao tỷ lệ che phủ rừng
khá nhanh. Đồng thời với các kế hoạch trồng rừng, trong giai đoạn từ 1995
đến 2000, thực hiện hạn chế khai thác rừng tự nhiên, tăng cường khoanh nuôi
phục hồi rừng tự nhiên, độ che phủ rừng đã tăng bình quân 1%/năm. Đến năm
2003 độ che phủ của rừng đạt 36,5%. Tỉnh Quảng Trị
gần như vùng đất vành
Các trạm đo đạc thủy văn:
* Trạm thủy văn Bến Thiêng: Trạm nằm trên sông Sa Lung, trạm có số liệu đo
mực nước, lưu lượng từ năm 1961 đến năm 1966, chuỗi số liệu đo ngắn.
* Trạm đo mực nước Sa Lung: Nằm về phía hạ lưu trạm Bến Thiêng khoảng
15 km, đây là trạm đo nhằm phục vụ lập dự án công trình ngăn mặn Sa Lung.
* Trạm thủ
y văn Gia Vòng: Trạm nằm trên sông Bến Hải, thuộc lưu vực
nghiên cứu. Trạm có số liệu đo mưa, mực nước, lưu lượng từ năm 1977 đến
nay, chất lượng tài liệu đo đáng tin cậy.
* Trạm thủy văn Cửa Việt: Nằm bên bờ sông Cửa Việt, cách trung tâm lưu
vực 30Km về hướng Đông Nam. Trạm có số liệu đo mực nướ
c thủy triều từng
giờ một và đo 24 giờ/ngày. Thời gian đo từ năm 1977 đến nay với chuỗi số
liệu đầy đủ và mức độ đáng tin cậy, ngoài ra trạm còn có số liệu mưa của
những năm trên.
1.1.5.2. Hệ thống sông ngòi [13]
Do điều kiện địa hình của tỉnh dốc và ngắn nên đã tạo ra các hệ thống
sông có điều kiện tương t
ự như nhau là sông ngắn, độ dốc lớn chảy theo
hướng tây đông (bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn đổ ra biển) đó là các hệ
thống sông Bến Hải, Thạch Hãn, Ô Lâu, chỉ trừ hệ thống sông Xê Pôn chảy
8
qua Lào rồi đổ ra sông Mê Kông. Trong địa phận tỉnh Quảng Trị có 4 con
sông chính đó là Bến Hải, Thạch Hãn, Ô Lâu và sông Xê Pôn.
Hệ thống sông ngòi trong vùng nghiên cứu gồm có 2 hệ thống sông
chính là : Sông Bến Hải và sông Sa Lùng.
Sông Bến Hải nằm về phía Nam của huyện là ranh giới giữa huyện
Vĩnh Linh với Gio Linh, sông bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn đổ ra biển tại
Cửa Tùng. Sông Sa Lung là một nhánh sông cấp 1 của sông Bến Hải chảy qua
sông
nhánh
Độ dốc
bình
quân
sông
chính
Độ dốc
sườn
dốc
F
LV
(km
2
) L
LV
(km) B
LV
(km) L
S
(km) L
nh
(km) J
s
J
d
Bến Hải 267,0 30 9 59 63,4 0,007 0,067
Sa Lung 156,4 15 7 35,5 46,5 0,008 0,114
Với đặc điểm sông ngòi nêu trên, sông Bến Hải và sông Sa Lung sẽ có
dòng chảy tập trung lũ nhanh, chảy xiết trong thời gian ngắn; ngoài ra tại cửa
10715'E
0 Km
10
N
20
Tỷ lệ 1:250.000
S
.
T
h
á
c
M
ã
S
.
V
ĩ
n
h
Đ
ị
n
h
B i
ể
.
C
a
m
L
ộ
S
.
Q
u
ả
n
g
T
r
ị
S
.
Đ
a
-
k
r
ô
n
n
H
ả
i
S
.
R
à
o
Q
u
á
n
L
à
o
Ca Tựng
Hỡnh 1.3: S mng li sụng sui tnh Qung Tr 10
Cửa biển: Quảng Trị có 2 cửa lạch là Cửa Tùng và Cửa Việt
* Cửa Tùng: Nằm giữa hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh là hạ lưu của
sông Bến Hải, có độ sâu nhỏ hơn so với Cửa Việt, vào mùa khô độ sâu
luồng có thể đạt 2 ÷ 3m, hệ thống cơ sở hạ tầng còn rất hạn chế, do
lượng tàu thuyền lớn ra vào nơi đây ít hơn so với Cửa Việt. Hiện nay
III IX X XI XII Năm
Vĩnh Linh
129.
9
83.3 48.6 51.9 100.5 97.8 94.3 125.3 420.2 766.0 462.3 227.0 2614.1
Gia Vòng 60.1 47.9 35.4 64.1 143.6 101.4 78.7 155.0 509.7 695.9 456.4 188.0 2536.3
Đông Hà 48.2 34.1 30.8 60.7 119.3 83.0 65.7 163.2 388.9 683.9 429.0 175.2 2291.8
Thạch Hãn 84.3 60.7 48.9 63.0 135.0 105.7 82.9 135.3 476.4 710.6 438.6 240.7 2627.3
Cửa Việt 57.6 48.6 33.1 50.8 102.6 63.4 68.1 150.3 398.6 574.3 415.7 219.6 2187.8
Hướng Hoá 83.6 61.7 47.8 97.8 191.5 171.7 148.9 219.1 585.8 778.0 227.7 95.7 2779.9
Khe Sanh 16.7 19.2 29.7 89.8 158.9 210.8 187.8 295.9 376.7 455.0 175.8 64.7 2118.6
Ba Lòng 99.8 90.1 51.0 71.7 156.6 156.8 74.2 173.1 473.4 762.0 411.8 227.8 2794.3
Nhiệt độ:
Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 20,0 - 25
0
,0
C, tháng VII cao
nhất còn tháng I thấp nhất. Nhiệt độ tối cao trong năm vào các tháng nóng đo
được trên 41
0
,0C, nhiệt độ thấp nhất trong năm có thể xuống tới 10
0
,0C. Biên
độ dao động ngày đêm của nhiệt độ vào khoảng 7 - 8
0
C. Thời kì dao động
nhất là các tháng đầu và giữa mùa Hạ, biên độ ngày đạt tới 9 -10
0
C. Thời kì
90
89
93
90
89
85
86
90
89
92
76
70
72
72
77
77
88
88
89
86
90
84
86
83
85
85
88
85
Khả năng bốc hơi không khí Zp:
Bốc hơi bình quân nhiều năm nằm trong khoảng 1200-1300mm. Ở
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, Quảng Trị cũng có hai mùa
gió chính là gió mùa Đông và gió mùa Hạ. Một hiện tượng tự nhiên đặc biệt
cần quan tâm ở Quảng Trị là gió Tây khô nóng (giữa hai miền Đông - Tây
Trường Sơn ở Quảng Trị gió Tây khô nóng cũng có sự phân hóa sâu sắc). Ở
miền Đông Quảng Trị gió Tây khô nóng được đánh giá là dữ dội nhất nước ta,
trung bình mỗi năm có 45 ngày, gió Tây khô nóng ở miền Đông Trường S
ơn
chỉ có 10 ngày trong một năm. Nhiệt độ tối cao tuyệt đối thường xuất hiện
trong các đợt gió Tây khô nóng mạnh và có thể đạt tới 40 - 41
0
C.
Bão và xoáy thuận nhiệt đới là những biến động thời tiết trong mùa hạ,
hoạt động rất mạnh mẽ và thất thường. Từ tháng V đến tháng VIII vùng ven
Thái Bình Dương không khí bị nung nóng bốc lên cao tạo thành những vùng
xoáy rộng hàng trăm km
2
, tích luỹ dần và di chuyển theo hướng Tây Nam đổ
bộ vào đảo Hải Nam Trung Quốc. Đến cuối mùa, từ tháng IX đến tháng XI
gió Tây Nam suy yếu, nhường dần cho hướng gió Nam và Đông Nam. Tâm
14
xoáy thuận di chuyển dần xuống vùng vĩ độ thấp và đổ bộ vào khu vực từ
Nghệ An đến Thừa Thiên Huế. Cuối mùa, gió Đông Bắc mạnh hẳn lên, ép các
xoáy thuận nhiệt đới di chuyển dần về cực Nam Trung Bộ. Quy luật này diễn
ra thường xuyên, hàng năm. Thời kỳ xoáy thuận nhiệt đới đổ bộ vào Bắc
Trung Bộ thường gây ra bão vùng ven biển. Hướng đi của bão trong vùng
Bình Trị Thiên như
sau:
Bão theo hướng chính Tây chiếm khoảng 30%
Bão theo hướng Tây - Tây Bắc chiếm khoảng 45%
đạt 12,73 m
3
/s. Nhìn chung, mùa lũ thường bắt đầu từ tháng IX đến tháng XII,
lượng dòng chảy chiếm khoảng 67,7% lượng dòng chảy năm. Mùa cạn thường
bắt đầu từ tháng I đến tháng VIII, chiếm khoảng 32,4% lượng dòng chảy năm.
Mực nước triều:
Về thủy triều vùng biển tỉnh Quảng Trị chịu ảnh hưởng của chế độ bán
nhật triều không đều, thời gian triều dâng nhỏ hơn thời gian triều rút. Hầu hết
các ngày trong tháng đều có hai lần lên và 1 lần triều xuống. Biên độ thủy
triều tương đối thấp khoảng 0,5 – 1,2m. Riêng vùng Cửa Tùng có nhiều tính
chất bán nhất triều đều, chênh lệch về thời gian triều lên và triề
u xuống hầu như
không có, chỉ có chênh lệch độ cao của 2 lần nước ròng thể hiện tương đối rõ.
Sóng biển: [14]
Mùa gió Đông Bắc, sóng gió có hướng thịnh hành là Đông Bắc, độ cao
sóng trung bình 0,7 – 0,8 m, những tháng đầu mùa độ cao sóng trung bình có
thể lớn hơn, lớn nhất 3,0 – 4,0 m. Mùa gió Tây Nam, độ cao sóng trung bình
0,55 – 0,75, độ cao sóng lớn nhất 2,5 – 3,5m. Khi có bão, sóng cao nhất có thể
lớn hơn (như ở Cồn Cỏ tháng IX/1974 quan trắc được sóng cao nhất tới 6 m
hướng Bắc)
Dòng chảy và nhiệt độ nước biển:
Nhiệt độ nước biển tầng mặt vào mùa Đông trung bình 21 – 24
0
C, vào
mùa Hè từ 28 – 30
0
C. Mùa Đông nhiệt độ tăng dần từ bờ ra khơi và ngược lại
vào mùa Hè. Biên độ dao động nhiệt độ giữa tầng mặt và tầng đáy trong mùa
Đông khoảng 10
0
dân số tỉnh Quảng Trị là 631.591 người. Với diện tích tự nhiên 4.746,99 Km
2
,
phân theo các đơn vị hành chính gồm 7 huyện và 2 thị xã, bảng 1.
Bảng 1.7 : Các đơn vị cấp huyện, thị xã và diện tích, dân số
Đơn vị hành
chính
Số xã
phường
Diện tích
(km
2
)
Dân số
(người)
Mật độ dân số
(người/km
2
)
Số người
lao động
Tỷ lệ % so
với tổng
TX Ðông Hà 9 72,96 85044 1157 45944 54.05
TX Quảng Trị 5 74,03 22855 308 11483 50.24
Vĩnh Linh 22 623,70 89055 144 45253 50.81
Gio Linh 21 472,99 72460 159 36893 50.91
Cam Lộ 9 346,89 48484 138 26070 53.77
Triệu Phong 19 353,00 107055 305 54445 50.86
Hải Lăng 20 426,93 95293 223 45064 47.29
Quảng Trị được thống kê theo các hộ gia
đình, sản xuất mang tính tự cung tự cấp.
- Chăn nuôi
Chăn nuôi trong vùng chưa phát triển, chủ yếu còn ở mức độ chăn nuôi
tự phát ở mức độ hộ gia đình. Chưa có nông trường chăn nuôi theo quy mô
18
công nghiệp. Do điều kiện thiếu lương thực, chăn nuôi trong vùng chưa phát
triển thành quy mô chăn nuôi trang trại được. Cơ cấu vật nuôi trong gia đình
là trâu, bò, lợn, gà. Ngành chăn nuôi mới chiếm tỷ trọng 15-18% thu nhập cho
các hộ nông dân. Đàn gia súc ở Quảng Trị tăng qua các năm ở mức độ chậm.
Sau 5 năm sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng khoảng 40%.
- Lâm nghiệp
Diện tích che phủ c
ủa thảm rừng tự nhiên hiện nay chỉ còn khoảng
30%. Ở các vùng đồi núi đất ven các khe suối, rừng nguyên thuỷ bị huỷ diệt
do các lý do chủ yếu là: 1) Tập quán canh tác du canh du cư của đồng bào dân
tộc miền núi; 2) Chất độc làm trụi lá trong chiến tranh huỷ diệt; 3) Nạn khai
thác gỗ bừa bãi
Thuỷ sản:
Tỉnh Quảng Trị có bờ biển dài 75 km và vùng biển có đặc tính chung
của khu hệ ven biển Miền Trung với thành phần loài khá phong phú. Tổng trữ
lượng hải sản vùng biển Quảng Trị khoảng 60.000 tấn, khả năng khai thác
bền vững là 17.000 tấn. Tuy thế, cho đến 2008, sản lượng khai thác thủy sản
đạt khoảng 16.000 tấn, chưa khai thác hết tiềm năng của nguồn lợi kinh tế
này. Diện tích mặt nướ
c nuôi trồng thuỷ sản khoảng 2518 ha (trong đó nước
ngọt: khoảng1713 ha; nước măn và lợ: khoảng 804 ha)
Có thể nhận thấy tiềm năng phát triển thuỷ sản của tỉnh nói chung còn
rất lớn, song mức độ khai thác còn hạn chế. Để phát huy tiềm năng cần đầu tư