Khảo sát thành phần hóa học hạt cây móc mèo núi Caesalpinia bonducella Flem.
2. TỔNG QUAN
2.1.
MÔ TẢ THỰC VẬT
2.1.1. Giới thiệu về cây móc mèo núi
[1-3]
Hình 1: Hoa, quả và hạt của cây móc mèo núi Caesalpinia bonducella Flem.
Cây móc mèo núi Caesalpinia bonducella Flem., họ Vang (Caesalpiniaceae)
còn có tên gọi khác như cây vuốt hùm, cây điệp mắt mèo, bonduc nut, cniquier,
pois-quenique, yeux de chat, Caesalpinia bonduc.
Cây nhỡ leo, có khi mọc rất dài, cành khoẻ mọc vươn dài, hình trụ, có nhiều
gai nhỏ hình nón. Lá kép hai lần lông chim chẵn, mọc so le, có lá kèm, cuống chung
Học viên cao học: Vũ Thị Thúy Dung -
2-
GVHD: TS. Nguyễn Trung Nhân
Khảo sát thành phần hóa học hạt cây móc mèo núi Caesalpinia bonducella Flem.
Cụm hoa mọc ở ngoài kẻ lá thành chùm dài 12-20 cm, có lông mềm, có gai;
lá bắc hình dùi dài 1cm; đài có 5 răng nhỏ; tràng 5 cánh mỏng, 4 cánh hình trái xoan
ngược, còn cánh kia gập lại ở giữa, nhị 10, nhụy ngắn có lông; bầu có cuống, có 2
noãn.
Quả gần hình cầu, hơi dẹt, dài 7- 8 cm, rộng 4 cm, lồi ở hai mặt, có nhiều gai
nhọn; đựng 1-2 hạt, rất rắn, to 2 cm, màu xanh mắt mèo có đốm sậm.
Ra hoa tháng 7-10, có quả tháng 11-3.
Mùa hoa quả: mùa thu.
[1,2]
[1]
Móc mèo núi có vị đắng, hơi the, tính mát, có tác dụng khử ứ, chỉ thống,
thanh nhiệt, giải độc, sát trùng.
2.2.2. Tác dụng dược lý
[1]
:
Dạng cao chiết từ lá móc mèo núi có tác dụng tăng cường sức co bóp của tử
cung chuột cống trắng có chửa. Tác dụng này có thể so sánh với tác dụng của
acetylcholine.
Cao chiết nước và cao chiết etanol 50% từ hạt móc mèo núi được thử
nghiệm trên chuột cống trắng bình thường và chuột gây tiểu đường bởi
streptozotocin cho thấy có tác dụng hạ đường huyết, chống đường huyết tăng cao,
hạ lipid máu. Trên chuột bình thường, cả 2 dạng cao trên với liều 100 mg/kg đều
thể hiện tác dụng hạ đường huyết rõ rệt sau khi dùng thuốc 4 giờ.
Dạng cao chiết nước có tác dụng hạ đường huyết kéo dài hơn so với dạng
cao chiết cồn. Trên chuột cống gây tiểu đường, cả 2 dạng cao đều thể hiện tác dụng
chống đường huyết tăng cao vào ngày thứ 5 sau khi dùng thuốc. Dạng cao chiết
nước thí nghiệm trên chuột gây tiểu đường còn có tác dụng chống cholesterol và
triglycerid tăng cao.
Thành phần đắng của hạt móc mèo núi có tác dụng kháng khuẩn, thí nghiệm
trên thỏ có tác dụng hạ sốt, lợi tiểu và diệt giun. Thành phần đắng với dạng chiết
cồn từ hạt móc mèo núi thí nghiệm trên chó có tác dụng hạ huyết áp nhẹ, đối với
tim ếch cô lập lại có tác dụng ức chế sức co bóp.
2.2.3.
Công dụng
[1,2], [5]
Bộ phận dùng: hạt, lá, rễ.
• Hạt móc mèo núi được dùng làm thuốc chữa sốt và thuốc bổ với liều 0,5-1,0
ở chuột. Với liều 300 mg/kg, những ảnh hưởng hạ thấp đường máu đã được thấy
trên mô hình type 2, đó là họat tính gây kích thích tiết ra insulin từ phần cô lập dịch
nước và etanol của nhân hạt Caesalpinia bonducella.
• Bệnh sốt và giảm đau
Dịch trích từ eter dầu hỏa và etanol của hạt móc mèo núi được khẳng định là
chứa flavonoid, terpenoid, đường tự do và glycoside. Chúng có tác dụng làm hạ sốt
và giảm đau khi thí nghiêm trên chuột bạch trưởng thành lớn và nhỏ cùng giới tính
với liều 30, 100 và 300 mg/kg (bằng đường miệng).
Học viên cao học: Vũ Thị Thúy Dung -
5-
GVHD: TS. Nguyễn Trung Nhân
Khảo sát thành phần hóa học hạt cây móc mèo núi Caesalpinia bonducella Flem.
• Các loại bệnh khác
Người của bộ lạc Kolli Hills, Tamil Nadu, Ấn Độ, sử dụng lá của
Caesalpinia bonducella và vỏ của thân Bauhinia racemosa kết hợp với một vài thảo
mộc khác để điều trị u, bướu, rối loạn gan, chứng sưng viêm và một vài bệnh khác.
Chính họ đã thúc đẩy quá trình nghiên cứu về những liều dùng phù hợp khi sử dụng
2 loài trên để chữa các bệnh.
Phần trích bằng metanol của lá Caesalpinia bonducella (MECB) và vỏ thân
Bauhinia racemosa (MEBR) được thử nghiệm trên chuột bạch. MECB và MEBR
được cho vào trong bụng của chuột bạch Thụy Sĩ 2 tuần 1 lần cho đến 13 tuần. Kết
quả cho thấy những nhóm điều trị bằng MECB và MEBR với liều 100 và 200
mg/kg không có những biến đổi đáng kể trong máu và sinh hóa. Khi sử dụng
MECB và MEBR với liều 400 mg/kg sẽ làm tăng cao enzym huyết thanh và làm
thay đổi các thông số về máu. Do đó khi dùng với liều 100 và 200 mg/kg sẽ không
có ảnh hưởng độc hại đến chuột nhưng sẽ có hại nếu dùng với liều 400 mg/kg.
2.3.
THÀNH PHẦN HÓA HỌC
[1,2], [6-9], [13-16], [29,30]
-amyrin, lupeol, lupeol acetat, friedelin
[20]
.
Học viên cao học: Vũ Thị Thúy Dung -
6-
GVHD: TS. Nguyễn Trung Nhân