tìm hiểu các cây thuốc tại thị trấn, nhà mình ở - Pdf 21

Bài tiểu luận THỰC VẬT –DƯỢC LIỆU
TRƯỜNG dh KINH TẾ - KỸ THUẬT
KHOA DƯỢC

BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU CÁC LOÀI THỰC VẬT DÙNG LÀM
THUỐC THUỘC NGÀNH ĐỊA Y, RÊU, DƯƠNG XỈ,
THÔNG ĐẤT THÁP BÚT
GVHD: THS. NGUYỄN VINH HIỂN
Lớp : DS02A4
Họ và tên : NGÔ THỊ NGỌC NỮ

1
Bài tiểu luận THỰC VẬT –DƯỢC LIỆU
 Năm 2010 
2
Bài tiểu luận THỰC VẬT –DƯỢC LIỆU
PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Trong thế giới thực vật đa dạng, phong phú, có rất nhiều loại cây dùng
làm thuốc. Nhưng ta cứ ngỡ rằng chỉ những cây thực vật bậc cao, có thân, lá,
cành lớn thì mới có giá trị dược liệu cao.Thực tế cho ta thấy, cả những thực
vật dù nhỏ bé, dù xuất hiện sớm, nguyên thủy đến mấy cũng là một kho thuốc
vô cùng quý giá .Như Địa y, xuất hiện cách đây hơn 400 triệu năm, chỉ là
những sợi nấm bao lấy những cục tảo lục và vi khuẩn Cyano lơ/ dương, vậy
mà cho ta rất nhiều vị thuốc quý. Hay như Dương xỉ, xuất hiện từ thời trung
cổ, cũng được dùng làm thuốc ở khắp các nước từ Malaixia, đến Indonexia,
Philipin, Ấn Độ, … Ngoài ra rêu, thông đất, tháp bút cũng cho ta nhiều vị
thuốc cổ truyền quý giá.
Trong tập tiểu luận này, em xin trình bày một số cây thuốc thuộc các
ngành Địa y, Dương xỉ, Rêu, Thông đất, Tháp bút.

được một lượng nước nặng gấp 3 đến 35 lần nó), sống được trên băng tuyết và
hai vùng cực nam, bắc lạnh gía của trái đất trên bề mặt mọi chất liệu. Thậm
chí vẫn sinh sôi tốt khi ở ngoài không gian.
Địa y tựu chung có bốn dạng : dạng Foliose giống với lá dẹt và mỏng ;
dạng Crustose vẩy sừng ẩn giữa vỏ cây và sỏi đá chiếm 75 % các loại địa y ;
dạng Fruticose cây bụi mọc ngược hoặc rũ xuống , là loại địa y bặc cao nhất
với những nhánh gần giống với cây thật , và nổi bặc là loại địa y rêu tuần lộc
ở Bắc cực , dạng Squamulose lá bắc với nhừng thùy nhỏ tròn.
Ngoài vẻ đẹp, địa y còn là một kho thuốc quý giá với 600 sinh tố ăn
được, chữa bệnh và làm thuốc nhuộm .
tất cả các loại địa y đều ăn được ngoại trừ
rêu Sói vì có độc chất cao nên người
Nga đã dùng chúng để đầu độc chó
sói. Nhiều nơi đã dùng địa y để làm
thức cho người và gia súc, họ ăn sống,
nấu chin, hoặc nghiền lấy nước, phơi
khô để lộc lấy tinh bột và pha chế vào
bánh mì và canh.Về dinh dưỡng,
địa y không chứa chất béo và cơ bản chứa Carbonhydrate một chất ga giúp
tiêu hóa tốt .
Thời trung cổ, nhiều nước đã dùng địa y chữa bệnh như Cetraria
islandica cỏ phổi( kết cấu giống như lá phổi) để chữa bệnh ho lao, viên phổi ;
santhoria barietina địa y vàng (có màu sắc từ vàng nhạt đến vàng đậm) chữa
bệnh vàng da ; Pettigera địa y chó ( thể quả giống như răng chó) chữa bệnh
dại ; Usnea Florida chữa bệnh rụng tóc ; địa y đầu lâu ( mọc trên đầu lâu )
chữa chứng động kinh ; rêu Sói chữa bệnh da …Người ta cũng dùng những
loại địa y có mùi thơm làm nước hoa và chất chống bay hơi,và dùng nước ép
từ một số loại địa y làm giấy quỳ khi gặp axit nhẹ như ammonia sẽ biến thành
màu xanh lơ và axit nặng như giấm sẽ biến thành màu đỏ.
Tuy nhiên vì nạn phá rừng, việc xây dựng nhà cửa và sưu tập ồ ạt,

Tính vị, tác dụng: Quản trọng có
vị ngọt, tính mát; có tác dụng làm mát
phổi, hóa đờm. Ở Malaixia người ta
xem như là bổ và hạ nhiệt. Ở Ấn Ðộ
xem như là nhuận tràng, chống độc và
giảm đau.
Công dụng, chỉ định và phối hợp:
Ở Inđônêxia, cũng như ở Malaixia,
Philippin, người ta dùng những chồi non
để ăn sống hay nấu chín làm rau ăn, như kiểu ăn măng tây; thường các chồi
non có nhiều phosphor, sắt. Thân rễ được dùng trị ho có nhiều đờm, hen
5
Bài tiểu luận THỰC VẬT –DƯỢC LIỆU
suyễn và ho lao. Liều dùng 12-20g rễ khô sắc uống. Dùng ngoài, giã thân rễ
tươi đắp vết thương và rắn độc cắn, đồng thời sắc nước uống.
Ở Malaixia, người ta dùng ăn với trầu không để chặn ho; ở Java dùng
để trị lỵ, xuất tiết và giai đoạn đầu của bệnh lao phổi.
Ở Ấn Ðộ, người ta dùng trị bệnh đau dây thần kinh tọa.
CỐT TOÁI BỔ
(Cây Tổ Rồng, Tổ Phượng)
Tên thuốc: Rhizoma Drynariae
Tên khoa học: Polypodium fortunei
O.Kuntze
Họ Dương Xỉ (Polypodiaceae)
Bộ phận dùng: thân rễ (vẫn gọi là củ).
Cây tổ rồng mọc bám chắc vào các cây cổ thụ
hoặc ở hốc đá. Thứ củ già, khô, da màu nâu,
thịt hồng hồng, không mốc mọt, không lẫn tạp
chất hay rễ khác là tốt.
Tính vị: vị đắng, chát, tính ấm.

Để nghiên cứu tác dụng chống loãng xương, người ta đã thử nghiệm tác
dụng của cốt toái bổ trên hoạt tính của protease là men có vai trò gây khởi đầu
sự mất xương ở chuột cống và chuột nhắt trắng. Trong nghiên cứu này, cả cao
chiết cồn và cao chiết nước đều có tác dụng ức chế mạnh các cathepsin K và
L, là các yếu tố làm biến tính chất tạo keo trong xương, trong đó cao chiết cồn
có tác dụng mạnh hơn. Cũng đã chứng minh trong thử nghiệm nuôi cấy tế bào
và trên cơ thể động vật sống hiệu quả tốt của thân rễ cốt toái bổ trên sự tăng
sinh các tế bào xương của người và hoạt tính điều hòa miễn dịch.
Các tế bào tiền - xương được nuôi cấy với các nồng độ khác nhau của
cốt toái bổ và đã nhận xét thấy các nồng độ thấp có tác dụng kích thích sự
tăng sinh tế bào xương và các nồng độ cao lại có tác dụng ức chế. Ngoài tác
dụng chống loãng xương, cốt toái bổ còn có các hoạt tính dược lý khác như
tác dụng tăng cường chức năng nội tiết sinh dục nữ (và như vậy cũng là tác
dụng gián tiếp chống loãng xương), chống viêm và viêm khớp.
Các bài thuốc có cốt toái bổ
7
Bài tiểu luận THỰC VẬT –DƯỢC LIỆU
Bài thuốc bổ khí huyết, bổ gân xương, phòng và điều trị loãng xương,
dùng cho người cao tuổi, người suy nhược cơ thể, gãy xương: Cốt toái bổ 12g;
đảng sâm, hoài sơn, ba kích, mỗi vị 16g; hoàng kỳ, bạch truật, đương quy, cẩu
tích, tục đoạn, mẫu lệ, mỗi vị 12g; thiên niên kiện 10g. Sắc uống ngày một
thang hoặc nấu cao lỏng uống.
- Bài thuốc bổ gân xương, phòng và điều trị loãng xương: Bột cốt toái
bổ, bột sừng hươu nai, bột mẫu lệ, mỗi vị 2g. Làm thành viên uống, hay uống
dạng bột trong một ngày. Uống liên tục trong thời gian dài. Chữa đau lưng,
mỏi gối do thận hư, yếu: Cốt toái bổ 16g; cẩu tích, củ mài, mỗi vị 20g; tỳ giải,
đỗ trọng, mỗi vị 16g; rễ gối hạc, rễ cỏ xước, dây đau xương, thỏ ty tử, mỗi vị
12g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa đau lưng, răng đau, ù tai do thận hư: Cốt toái bổ tán nhỏ 4-6g,
cho vào bầu dục lợn, nướng chín ăn.

dày đặc. Phiến dài tới 3m, rộng 60-80cm.
Các lá lông chim ở phía dưới hình trái xoan-
ngọn giáo dài 30-60cm. Lá lông chim bậc hai
hình dải - ngọn giáo, nhọn lại chia thành
nhiều đoạn thuôn, hẹp; mặt trên lá màu lục
sẫm, mặt dưới màu lục lơ; trục lá không
lông; các gân của các lá chét bậc hai có lông
len. Ổ túi bào tử 1 hay 2, có khi 3 hay 4 ở về
mỗi bên của gân giữa bậc 3; các túi màu nâu nâu, có 2 môi không đều nhau;
cái ở ngoài hình cầu, cái ở trong hẹp hơn, thuôn.
Bộ phận dùng: Thân rễ - Rhizoma Cibotii, thường gọi là Cẩu tích,
Lông phủ ngoài thân rễ cũng được dùng.
Nơi sống và thu hái: Cây phân bố rất rộng rãi ở ven rừng phục hồi sau
nương rẫy và trên các tràng cây bụi hoặc nơi đất ẩm gần bờ khe suối, rừng núi
ở khắp các tỉnh từ Lào Cai. Hà Giang, qua Quảng Nam-Đà Nẵng đến Lâm
Đồng. Thu hoạch thân rễ quanh năm, tốt nhất vào mùa thu- đông, cắt bỏ rễ
con và cuống lá, cạo hết lông vàng để riêng. Rễ củ đã cạo hết lông, rửa sạch,
thái phiến hay cắt từng đoạn dài 4-10mm, phơi hay sấy khô. Cần bảo quản nơi
khô ráo. Khi dùng tẩm dược liệu với rượu để một đêm rồi sao vàng.
Thành phần hóa học: Thân rễ cẩu tích chứa tinh bột (30%) và
aspidinol, lông vàng ỏ thân rễ có tanin và sắc tố.
Tính vị, tác dụng: Cẩu tích có vị đắng ngọt, tính ấm, có tác dụng bổ
can thận, mạnh gân xương, trừ phong thấp. Người ta đã nghiên cứu tác dụng
chống viêm, ức chế chủ yếu giai đoạn viêm cấp tính, cả tác dụng gây động
dục kiểu oestrogen. Lông cẩu tích có tác dụng cầm máu có tính cơ học bằng
cách hút huyết thanh của máu và giúp cho sự tạo máu cục, làm cho máu chóng
đông.
9
Bài tiểu luận THỰC VẬT –DƯỢC LIỆU
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Cẩu tích dung chữa phong hàn,

Mùa sinh sản tháng 5-6.
Bộ phận dùng: Toàn cây -
Herba Marsileae.
Nơi sống và thu hái: Cây của
vùng quanh cực ôn đới, mọc
hoang, phổ biến ở ruộng nước và nơi
ẩm ướt dọc bờ ao, bờ ruộng, chỗ
nước cạn không chảy. Thu hái cây
quanh năm, dùng tươi hay phơi khô dùng dần.
Thành phần hoá học: Người ta đã biết trong Cỏ bợ có nước 84,2%,
protid 4,6%, glucid 1,6%, caroten 0,72%, vitamin C 76mg%. Cỏ bợ còn chứa
cyclolaudenol.
Tính vị, tác dụng: Cỏ bợ có vị ngọt, hơi đắng, tính mát; có tác dụng
thanh nhiệt, lợi tiểu, tiêu sưng, giải độc, nhuận gan, sáng mắt, trấn tĩnh.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Người ta thường hái Cỏ bợ về làm
rau ăn sống, xào, luộc hoặc nấu canh với tôm tép. Ðể làm thuốc, thường dùng
trị: 1. Suy nhược thần kinh, sốt cao không ngủ, điên cuồng; 2. Viêm thận phù
2 chân, viêm gan, viêm kết mạc; 3. Sưng đau lợi răng; 4. Ðinh nhọt, sưng độc,
sưng vú, tắc tia sữa, rắn độc cắn; 5. Sốt rét, động kinh; 6. Khí hư, bạch đới; 7.
Thổ huyết, đái ra máu, sỏi thận, sỏi bàng quang, đái đường. Ngày dùng 20-
30g cây tươi phơi khô, sao vàng, sắc uống.
Ðơn thuốc:
1. Tiêu khát, đái đường, dùng Cỏ bợ khô và Thiên hoa phấn lượng bằng
nhau, tán nhỏ, hoà với sữa uống.
2. Sưng lở, nổi mẩn do nhiệt, giã Cỏ bợ tươi xoa hoặc vắt lấy nước
uống. 3. Sỏi thận, sỏi bàng quang; giã nát lá tươi, thêm nước, gặn lấy nước
trong uống sáng sớm, mỗi lần 1 bát, liên tiếp 5 ngày. Dùng riêng hoặc phối
hợp với búp non Dứa dại 20g, Ngải cứu 10g. Phèn đen 10g.
 CÁC CÂY ĐƯỢC DÙNG LÀM THUỐC THUỘC NGÀNH
RÊU

và có chiều dài 20-60cm, chúng mang những vòng các nhánh mảnh, trải ra rồi
mọc đứng lên. Ở các mấu có 8-12 lá dạng vẩy tạo thành một bẹ màu nâu. Các
cành sinh sản cao 10-20cm, không phân nhánh và tận cùng ở đỉnh là một khối
12
Bài tiểu luận THỰC VẬT –DƯỢC LIỆU
hình trứng kéo dài tức là các bông lá bào tử gồm các
vẩy có dạng đinh mang các túi bào tử ở mặt dưới.
Có cơ quan sinh sản vào cuối đông, đầu xuân.
Bộ phận dùng: toàn cây - Herba Equiseti
Arvensis, thường gọi là Vấn kinh.
Nơi sống và thu hái: Cây rất phổ biến ở châu
Âu và các nước ôn đới, trong các đồng ruộng. Ở
nước ta, cây mọc ở các chỗ ẩm ướt, núi cao, chỉ mới
tìm thấy ở Sapa, tỉnh Lào Cai. Người ta thường thu
hái các chồi màu lục (không sinh sản) vào cuối hè, rửa
sạch, phơi khô.
Thành phần hoá học: Cây chứa một hỗn hợp alcaloid gọi là equisetin;
nicotin, palustrin; một phytosterol; một saponoside là equisetonosid hay
equisetonin; 3. heterosid flavonic; galuteosid (galuteolin), isoquercitrosid
(isoquercitrin) equisetrosid. Còn có vitamin C, flavoxanthin, xanthophylle
Tính vị, tác dụng: Vị ngọt hơi đắng, tính bình; có tác dụng lợi tiểu cầm
máu, làm se và tiếp khoáng, điều kinh, làm liền sẹo.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng chữa: 1. Phù thũng
mà thiểu niệu; 2. Ho ra máu, băng huyết, chảy máu dạ dày, kinh nguyệt quá
nhiều; 3. Lao phổi.
Dùng ngoài làm tăng sự thành sẹo của mụn nhọt chậm lành. Cũng dùng
trị đau mắt, giải cảm cho ra mồ hôi.
Thường dùng dưới dạng bột hoặc nước hãm hay chiết xuất hoặc có thể
sắc uống. Dùng ngoài lấy cây tươi giã đắp.
Các bài thuốc dùng cỏ tháp bút:

thanh nhiệt, trừ thấp, lợi tiểu, tiêu sưng mắt.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Dùng chữa: 1. Viêm màng tiếp hợp
cấp, mắt đỏ sưng đau; 2. Lỵ, viêm ruột ỉa chảy; bệnh về gan; 3. Sỏi niệu đạo;
4. Rong kinh. Liều dùng 3-9g dạng thuốc sắc.
Ðơn thuốc:
14
Bài tiểu luận THỰC VẬT –DƯỢC LIỆU
1. Chữa viêm giác mạc cấp, đau mắt: Cỏ tháp bút, Mào gà (hạt), Cúc hoa,
Xác ve sầu, mỗi vị 10g sắc uống.
2. Chữa ỉa chảy ra máu không ngớt: Cỏ tháp bút 20g sao sắc uống vào lúc
đói.
3. Chữa băng huyết, rong huyết kéo dài hoặc đã mãn kinh mà còn rong
huyết không dứt: dùng Cỏ tháp bút sao 20g sắc uống.
4. Chữa viêm gan, bệnh về gan: Cỏ tháp bút 30g sắc uống như nước trà.
5. Chữa mắt đau lâu ngày, bị màng che cùng mọi chứng bệnh mắt: Cỏ
tháp bút, Cỏ dùi trống, Hạt muồng ngủ sao, Tật lê, Xác rắn, Sinh địa, Cúc hoa.
Hạt mào gà đều bằng nhau 10g, sắc uống.
Ghi chú: Loài Cỏ tháp bút bông tù (Mộc tặc trải) - Equisetum diffusum Don,
có bẹ không ôm sát thân, cành nhiều mọc đứng, bông hình thuôn dài hay hình
trụ tròn đầu, có cuống ngắn thường gặp ở vùng núi cao ẩm miền Bắc Việt
Nam (Sapa), cũng có cùng công dụng.
 CÁC CÂY DÙNG LÀM THUỐC THUỘC HỌ THÔNG ĐẤT
Thạch tùng
Thạch tùng, Thông đá, Thăng
kim thảo - Lycopodium clavatum L.,
thuộc họ Thông đất -
Lycopodiaceae.
Mô tả: Cây mọc trên đất có
thân chính bò, có rễ ở phần giữa, các
thân mọc đứng nhiều và dài, thường

quang, làm dịu đau các vết loét lở ngoài da, xoa lên da để làm dịu da. Thường
dùng bột rắc ngoài hoặc xoa lên các chỗ da bị kích thích và chỗ hăm kẽ ngoài
da. Ðể uống trong, người ta trộn với 9 phần đường, ngày dùng 3 lần, mỗi lần 1
thìa cà phê để làm dịu viêm. Toàn cây dùng chữa viêm bàng quang và viêm bể
thận, chữa thấp khớp và các bệnh về phổi; cho một thìa dược liệu vào 1/2 lít
nước và đun sôi uống.
Ngành Dược còn dùng bột bào tử Thạch tùng để bọc các viên thuốc. Vì
bào tử chứa nhiều dầu nên người ta còn dùng để làm pháo bông hoặc làm
chớp giả.
Thạch tùng Hamilton
Thạch tùng Hamilton - Huperzia hamiltonii (Spring) Trevis.
(Lycopodium hamiltonii Spring), thuộc họ Thông đất - Lycopodiaceae.
Mô tả: Cây thảo phụ sinh, thân đứng hay thòng, dài đến 50cm, chia
nhánh lưỡng phân, to cỡ 1,5mm. Lá trải ra, dài 6-15mm, rộng 3-5mm, bóng.
Phần sinh sản ở nửa trên của thân với lá bào tử y như lá thường nhưng hơi nhỏ
hơn; túi bào tử hình thận, với 2 mảnh bằng nhau.
16
Bài tiểu luận THỰC VẬT –DƯỢC LIỆU
Bộ phận dùng: Toàn cây - Herba Hyperziae Hamiltonii.
Nơi sống và thu hái: Loài phân bố ở Trung Quốc, Việt Nam. Cây mọc
trên thân cây có rêu, trên đá vùng núi cao ở Bắc bộ và Trung bộ. Người ta thu
hái toàn cây vào mùa hè thu, rồi đem phơi khô.
Tính vị, tác dụng: Vị đắng, tính hàn, không độc; có tác dụng thanh
nhiệt phá huyết, tiêu thũng chỉ thống.
17
Bài tiểu luận THỰC VẬT –DƯỢC LIỆU
PHẦN III : KẾT LUẬN
Đất nước ta vốn là một kho thuốc quý giá, biết tìm hiểu và sử dụng
đúng là một cách tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân và những người xung
quanh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status