Tiểu luận tìm hiểu về Doanh nghiệp nhà nước và Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - Pdf 21

A. DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
I. Tổng quan về DNNN.
1. Doanh nghiệp NN
- Theo Luật Doanh nghiệp nhà nước (1995), DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn,
thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các
mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao. Cũng theo luật này, DNNN nước tồn tại dưới các hình
thức: doanh nghiệp độc lập, tổng công ty, doanh nghiệp thành viên của tổng công ty.
- Và theo Luật Doanh nghiệp nhà nước (2003), DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu
toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, phấn góp vốn chi phối được tổ chức dưới hình thức công ty
nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.
- Theo Điều 166 luật doanh nghiệp (2005), các doanh nghiệp nhà nước được thành lập theo quy
định của Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 phải chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu
hạn hoặc công ty cổ phần theo lộ trình chuyển đổi hằng năm, nhưng chậm nhất là trong thời hạn
bốn năm kể từ ngày Luật doanh nghiệp 2005 có hiệu lực (01/07/2006). Trong thời hạn chuyển
đổi, những quy định của Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 được tiếp tục áp dụng đối với
doanh nghiệp nhà nước nếu Luật này không có quy định.
- Do đó, theo khoản 22 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2005, DNNN được định nghĩa “là doanh
nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ” và hiện được tồn tại dưới các hình thức
pháp lý sau:
• Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, là công ty TNHH do Nhà
nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ;
• Công ty TNHH hai thành viên trở lên do Nhà nước làm chủ sở hữu, là công ty TNHH
trong đó tất cả các thành viên đều là công ty của Nhà nước, do Nhà nước sở hữu toàn bộ
vốn điều lệ;
• CTCP nhà nước, là CTCP mà toàn bộ cổ đông đều là cổ đông nhà nước, do Nhà nước sở
hữu toàn bộ vốn điều lệ;
• CTCP hoặc công ty TNHH hai thành viên trở lên mà cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước
chiếm trên 50% vốn điều lệ.
2. Thực trạng về chuyển đổi doanh nghiệp NN Việt Nam.
Cải cách DNNN là một trong những nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt
Nam. Chủ trương này đã xuất hiện từ cuối những năm1970. Tuy nhiên, đến tận đầu những năm

Giai đoạn từ năm 2002- 2006: Đây là giai đoạn đẩy mạnh chuyển đổi sở hữu. Luật DNNN năm
2003 thay thế Luật DNNN 1995 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc đẩy mạnh cải cách DNNN. Luật
đã xác định rõ hơn các loại hình DNNN, không chỉ bao gồm các doanh nghiệp 100% vốn nhà
nước mà còn có những doanh nghiệp đa sở hữu dưới hình thức công ty cổ phần, công ty TNHH.
Quan hệ giữa Nhà nước với DNNN được quy định cụ thể hơn. Với tư cách quản lý nền kinh tế,
Nhà nước quan hệ với DNNN như mọi loại hình doanh nghiệp khác. Với tư cách là chủ sở hữu,
Nhà nước có các quyền và nghĩa vụ như các chủ sở hữu khác đầu tư vào doanh nghiệp. Đặc biệt,
Luật DNNN đã luật hóa các biện pháp chuyển đổi sở hữu. Các DNNN không thuộc diện nhà
nước nắm giữ 100% vốn điều lệ phải chuyển thành doanh nghiệp đa sở hữu.
Để đẩy mạnh chuyển đổi sở hữu, Chính phủ ban hành Quyết định số 58/2002/QĐ-TTg (ngày
26/4/2002), sau đó là Quyết định số 155/2004/QĐ-TTg (ngày 24/8/2004) ban hành tiêu chí, danh
mục phân loại công ty nhà nước và công ty thành viên hạch toán độc lập thuộc TCTNN. Theo
đó, thu hẹp những ngành, lĩnh vực Nhà nước nắm giữ 100% vốn, nắm giữ cổ phần chi phối trên
50% vốn điều lệ và quy định những ngành, lĩnh vực đa dạng hóa sở hữu dưới các hình thức cổ
phần hóa, giao hoặc bán; quy định phương thức xử lý như sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản
đối với những công ty không thuộc lĩnh vực nhà nước nắm giữ 100% vốn, hoạt động thua lỗ kéo
dài, không thực hiện được chuyển đổi sở hữu; quy định các điều kiện tồn tại đối với TCTNN và
những TCTNN không đáp ứng đủ các điều kiện sẽ được sắp xếp lại theo hướng sáp nhập, hợp
nhất hoặc giải thể sau khi sắp xếp lại công ty thành viên.
GVHD: ThS. Nguyễn Việt Khoa Page 2
Từ năm 2007 đến nay: chuyển đổi sở hữu DNNN có xu hướng chững lại, đặc biệt là cổ phần
hóa (số lượng doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa trong bốn năm 2007 - 2010 chỉ bằng 2/3 số
doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa năm 2006). Trong giai đoạn này, nội dung cải cách DNNN
chủ yếu tập trung vào hình thành các TĐKTNN, chuyển đổi TCTNN và công ty nhà nước theo
mô hình công ty mẹ- công ty con. Từ ngày 1/7/2010, toàn bộ DNNN phải chuyển thành công ty
cổ phần, công ty TNHH hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, chấm dứt tình trạng chia cắt pháp
luật về doanh nghiệp theo hình thức sở hữu. Về nguyên tắc, các DNNN đã hoạt động trong cùng
một khung pháp lý với các doanh nghiệp khác. Cụ thể:
Vào thời điểm 2001, ở nước ta có 5.655 DNNN. Số doanh nghiệp đã cổ phần hoá là 4.000. Tính
đến thời điểm trước 1/7/2010, nhà nước còn nắm giữ 100% vốn ở 1.206 doanh nghiệp, trong đó:

 Về việc chuyển đổi thành công ty TNHH 1 thành viên.
o Ý nghĩa
GVHD: ThS. Nguyễn Việt Khoa Page 3
Việc chuyển đổi các công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
(TNHH) tuy không mang tính đột phá như cổ phần hóa, nhưng là cần thiết và có ý nghĩa nhất
định:
- Một là, Luật Doanh nghiệp 2005 quy định các công ty nhà nước thực hiện theo lộ trình
chuyển đổi, nhưng trước ngày 1-7-2006 phải chuyển thành công ty TNHH hoặc công ty
cổ phần.
- Trên thực tế từ năm 2001 các DNNN (gọi là công ty nhà nước từ năm 2003 theo Luật
DNNN) bắt đầu chuyển thành công ty TNHH một thành viên theo Nghị định số
63/2001/NĐ-CP.
- Hai là, với việc chuyển đổi doanh nghiệp mà Nhà nước giữ 100% vốn thành công ty
TNHH một thành viên, bên cạnh mục tiêu để thực hiện thống nhất một Luật Doanh
nghiệp, còn nhằm mục đích đổi mới tổ chức quản lý, cơ chế hoạt động, tạo sự bình đẳng
với các loại hình doanh nghiệp khác. Đây là quá trình “công ty hóa” các công ty nhà
nước, tạo vị thế “công ty” cho công ty nhà nước – có địa vị pháp lý của một pháp nhân
kinh tế, có tài sản độc lập với cá nhân và tổ chức khác, kể cả với Nhà nước, có quyền
nhân danh công ty tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.
- Ba là, việc chuyển đổi sang Luật Doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế
quốc tế, tạo mặt bằng pháp lý với các thành phần kinh tế khác, thực hiện cam kết WTO là
Nhà nước thực hiện các quyền chủ sở hữu tương tự như các chủ doanh nghiệp hay cổ
đông khác không phải Nhà nước.
o Hạn chế
Khi chuyển đổi sang hình thức công ty TNHH, nhưng luật doanh nghiệp 2005 quy định về việc
quản lý kiểm soát công ty TNHH còn nhiều lỗ hỗng, sẽ tạo điều kiện cho các giao dịch tư lợi
trong công ty.
Ví dụ: Quy định về kiểm soát viên
• Ban kiểm soát trong công ty cổ phần không được giữ các chức vụ quản lý công ty nhưng
kiểm soát viên trong công ty TNHH một thành viên là tổ chức thì có thể kiêm nhiệm các

hiện quyền và nghĩa vụ đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước
nắm giữ toàn bộ vốn điều lệ”. Song, nhà nước luôn luôn là một danh từ chung, không chỉ
cụ thể là ai. Vì vậy, trong trường hợp này, chủ sở hữu vẫn không được xác định.
• NĐ25 có chỉ rõ hơn: “Mỗi công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được chuyển đổi
từ công ty nhà nước hoặc thành lập mới chỉ do một tổ chức được phân công, phân cấp
dưới đây thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu (sau đây gọi tắt là chủ sở hữu)
…”.
• Và các tổ chức đó là: Thủ tướng Chính phủ hoặc một tổ chức được Chính phủ phân công;
bộ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là ủy ban nhân
dân cấp tỉnh); công ty mẹ trong mô hình công ty mẹ – công ty con, công ty mẹ của tập
đoàn kinh tế nhà nước và Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) trong
một số trường hợp. Rõ ràng, việc xác định “chủ sở hữu của công ty” vẫn như trước đây,
tức là, các cơ quan quản lý hành chính nhà nước lại là “chủ sở hữu” của các đơn vị kinh
doanh!
Chủ sở hữu là con người cụ thể nào?
• Chủ sở hữu một công ty không thể là một cơ quan, tổ chức mà phải là một con người cụ
thể. Quy định tại NĐ25 cho thấy tùy theo từng công ty, chủ sở hữu sẽ là Thủ tướng Chính
phủ; bộ trưởng; chủ tịch UBND cấp tỉnh; người được công ty mẹ hoặc SCIC giao quyền.
• Câu hỏi được đặt ra là, liệu các quan chức trong bộ máy công quyền (Thủ tướng Chính
phủ, các Bộ trưởng, Chủ tịch UBND cấp tỉnh) có đủ điều kiện (ít nhất là về thời gian) để
thực hiện các quyền của chủ sở hữu hay không? Câu trả lời là không!
• Chẳng hạn, một vị chủ tịch UBND cấp tỉnh với hàng trăm cuộc họp mỗi tháng và phải
chịu trách nhiệm đối với mọi hoạt động trên địa bàn tỉnh thì lấy đâu ra thời gian để “thực
hiện quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu công ty”?
• Hơn nữa, quản lý một công ty kinh doanh liên quan đến rất nhiều vấn đề từ kinh tế, kỹ
thuật đến lao động, đất đai, pháp luật và tập quán quốc tế… Do đó, không phải cứ xin ý
kiến là chủ sở hữu có thể “cho ý kiến” được ngay. Tất yếu phải có các cơ quan tham mưu,
GVHD: ThS. Nguyễn Việt Khoa Page 5
nghiên cứu và trình lên ý kiến giải quyết. Và không loại trừ trường hợp khi ý kiến chấp
thuận được thông báo thì thời cơ kinh doanh đã… mất!

doanh của mọi doanh nghiệp chỉ được bảo toàn và sử dụng có hiệu quả khi có một chủ sở hữu
đích thực. Vì vậy, xin kiến nghị vài giải pháp trong tương lai:
• Nhanh chóng thực hiện cổ phần hóa, bán, khoán, cho thuê những công ty TNHH nhà
nước một thành viên sau chuyển đổi. Chuyển đổi hình thức sở hữu DNNN nhằm thu hút
vốn đầu tư trong nhân dân, nâng cao năng lực quản trị và sức cạnh tranh của các doanh
nghiệp là mục tiêu đã được đặt ra từ lâu của Đảng và Nhà nước ta. Nhà nước đã nêu rõ
chỉ giữ và góp vốn chi phối trong khoảng 400 doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh
vực có liên quan đến an ninh quốc phòng và lợi ích công cộng. Vì vậy, không có một lý
do gì để trì hoãn quá trình này.
GVHD: ThS. Nguyễn Việt Khoa Page 6
• Để quản lý phần vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
trong những trường hợp cần thiết, cần mạnh dạn bỏ cơ chế chủ quản như hiện nay. Không
thể và không nên giao cho một quan chức, công chức trong bộ máy công quyền làm “chủ
sở hữu” hoặc “đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp”.
• Nghiên cứu, xây dựng và ban hành Luật Quản lý vốn nhà nước đầu tư vào các doanh
nghiệp, luật về thuê quản lý doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, tổ chức lại SCIC thành một
doanh nghiệp có chức năng nhận ủy thác đầu tư của Nhà nước để đầu tư vào các doanh
nghiệp khác. Đồng thời, cho phép các doanh nghiệp khác trong cả nước được phép nhận
ủy thác đầu tư vốn của Nhà nước để đầu tư vào các doanh nghiệp, công trình, dự án nếu
đủ những điều kiện theo quy định của pháp luật.
Với những doanh nghiệp do quản lý, điều hành yếu kém, dẫn đến bờ vực phá sản cần xử lý
nghiêm khắc.
 Về việc chuyển đổi thành công ty Cổ phần hoặc TNHH 2 thành viên trở lên
o Ý nghĩa
• Góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp; tạo ra loại
hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động; tạo động
lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động cho doanh nghiệp để sử dụng có hiệu quả vốn,
tài sản của Nhà nước và của doanh nghiệp.
• Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm: cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội
trong nước và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp.

1. Giới thiệu chung
 Tập đoàn kinh tế:
Theo nghị định 101/2009/NĐ - CP Tập đoàn kinh tế nhà nước thí điểm thành lập theo Nghị định
này là nhóm công ty có quy mô lớn liên kết dưới hình thức công ty mẹ - công ty con và các hình
thức khác, tạo thành tổ hợp các doanh nghiệp gắn bó chặt chẽ và lâu dài với nhau về lợi ích kinh
tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác.
Tập đoàn kinh tế nhà nước bao gồm:
a) Công ty mẹ (gọi tắt là doanh nghiệp cấp I) là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn
điều lệ hoặc giữ quyền chi phối theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
b) Công ty con của doanh nghiệp cấp I (gọi tắt là doanh nghiệp cấp II) là các doanh nghiệp do
doanh nghiệp cấp I giữ quyền chi phối; được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công ty
trách nhiệm hữu hạn một hoặc hai thành viên trở lên, tổng công ty theo hình thức công ty mẹ -
công ty con, công ty liên doanh (trong trường hợp chưa đăng ký lại theo Luật Doanh nghiệp),
công ty con ở nước ngoài.
c) Công ty con của doanh nghiệp cấp II và các cấp tiếp theo;
d) Các doanh nghiệp liên kết của tập đoàn gồm: doanh nghiệp có vốn góp dưới mức chi phối của
công ty mẹ và của công ty con; doanh nghiệp không có vốn góp của công ty mẹ và của công ty
con, tự nguyện tham gia liên kết dưới hình thức hợp đồng liên kết hoặc không có hợp đồng liên
kết, nhưng có mối quan hệ gắn bó lâu dài về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ
kinh doanh khác với công ty mẹ hoặc doanh nghiệp thành viên trong tập đoàn.
3. Công ty mẹ và các doanh nghiệp thành viên tập đoàn có tư cách pháp nhân; có vốn và tài sản
riêng; có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình theo quy định của pháp luật và
theo thỏa thuận chung của tập đoàn. Nhà nước là chủ sở hữu vốn nhà nước trực tiếp đầu tư tại
công ty mẹ. Công ty mẹ là chủ sở hữu vốn nhà nước tại các công ty con, doanh nghiệp liên kết.
Số lượng tập đoàn kinh tế tại Việt Nam:
STT Danh mục Cơ cấu
vốn
Quản lý Tình trạng
1 Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) 100% vốn
NN

NN
Chính Phủ Đang hoạt
động
8 Tập đoàn Tài chính-Bảo hiểm Bảo Việt (Bảo Việt) >51% vốn
NN
Chính Phủ Đang hoạt
động
9 Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) 100% vốn
NN
Bộ Quốc
Phòng
Đang hoạt
động
10 Tập đoàn phát triển nhà và đô thị việt nam (HUD
Holdings)
100% vốn
NN
Chính Phủ Dừng thí
điểm
11 Tập đoàn Công nghiệp Xây dựng Việt Nam
(Songda)
100% vốn
NN
Chính Phủ Dừng thí
điểm
12 Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam
(Vinashin)
100% vốn
NN
Chính Phủ Tái cơ cấu

8. Tổng công ty Lương thực miền Bắc - Vinafood 1 (4 công ty thành viên);
9. Tổng công ty Lương thực miền Nam - Vinafood 2 (5 công ty thành viên);
10. Tổng công ty Thép Việt Nam - VinaSteel (2 công ty thành viên);
11. Tổng công ty thuốc lá Việt Nam (12 công ty thành viên);
12. Tổng công ty Xi măng Việt Nam (4 công ty thành viên)
2. Mô hình tổng công ty và tập đoàn kinh tế Việt Nam
Tổng công ty nhà nước và tập đoàn kinh tế Việt Nam hoạt động theo mô hình công ty mẹ - Công
ty con
2.1 Đặc điểm của công ty mẹ - công ty con:
Công ty mẹ - công ty con trong khu vực DNNN ở Việt Nam có một số đặc điểm chính sau đây:
Một là, công ty mẹ trong tổ hợp công ty mẹ - công ty con hầu hết vừa trực tiếp sản xuất - kinh
doanh, vừa đầu tư tài chính vào doanh nghiệp khác.
Hai là, cơ cấu doanh nghiệp đa dạng về loại hình và sở hữu. Công ty mẹ là công ty TNHH một
thành viên (trong trường hợp công ty mẹ do Nhà nước nắm giữ 100% vốn) hoặc công ty cổ phần
(trong trường hợp công ty mẹ do Nhà nước nắm cổ phần chi phối). Công ty con do công ty mẹ
nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, công ty liên kết do công ty mẹ nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ.
Công ty con, công ty liên kết có các loại hình là công ty TNHH một thành viên, công ty cổ phần,
công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty liên doanh.
Ba là, đối với các TĐKTNN, hiện có hai dạng hình, đó là dạng hình là tập đoàn theo cơ cấu công
ty mẹ - công ty con, trong đó đứng đầu tập đoàn là “công ty mẹ - tập đoàn” và bên dưới là các
công ty con, công ty liên kết; và tập đoàn theo cơ cấu hỗn hợp gồm công ty mẹ, công ty con,
trong đó có công ty con là tổng công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con
2.2 Đánh giá về mô hình công ty mẹ - công ty con
 Mặt tích cực:
Một là, do thay đổi về bản chất mối quan hệ và phương thức điều hành giữa công ty mẹ và các
công ty con, công ty liên kết, công ty mẹ có điều kiện tập trung đến việc tối đa hóa hiệu quả đầu
tư phát triển, tích tụ, tập trung vốn và lợi nhuận định hướng chiến lược hoạt động cho tổ hợp
công ty mẹ - công ty con, nghiên cứu đổi mới công nghệ, thương hiệu và khả năng cạnh tranh
trên thị trường;
GVHD: ThS. Nguyễn Việt Khoa Page 10

Tương tự như vậy đối với công ty nhà nước độc lập chuyển sang mô hình công ty mẹ - công ty
con, các đơn vị trực thuộc được chuyển thành các công ty con, công ty liên kết là pháp nhân độc
lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh; công ty mẹ quan hệ với
công ty con, công ty liên kết với vị thế là một nhà đầu tư, góp vốn. Từ đó khắc phục được tình
trạng các đơn vị trực thuộc trông chờ, phụ thuộc hoàn toàn vào công ty từ kế hoạch sản xuất -
kinh doanh, thị trường, đầu tư phát triển đến những vấn đề cụ thể trong sản xuất - kinh doanh
như trước đây.
 Mặt hạn chế:
GVHD: ThS. Nguyễn Việt Khoa Page 11
Một là, dù đã chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con nhưng một số doanh
nghiệp vẫn duy trì cách thức điều hành bằng mệnh lệnh hành chính, chưa tạo điều kiện cho các
công ty tự chủ trong sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về tài chính [50].
Hai là, công ty mẹ chưa xác định và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của người
chủ sở hữu đối với phần vốn góp chi phối tại các công ty con. Việc cử người đại diện phần vốn
của công ty mẹ tại các công ty con ở nhiều doanh nghiệp chưa đủ về số lượng để đảm bảo khả
năng chi phối theo nguyên tắc đối nhân trong hoạt động của HĐQT công ty con; quy chế hoạt
động và báo
cáo của người đại diện chưa rõ dẫn đến công ty mẹ không nắm được toàn bộ hoạt động kinh
doanh của công ty con.
Ba là, bộ máy chuyên môn, nghiệp vụ của công ty mẹ ở một số tổng công ty, công ty chưa theo
kịp yêu cầu thực hiện đồng thời hai chức năng của công ty mẹ vừa trực tiếp sản xuất kinh doanh,
vừa đầu tư tài chính. Do đó, làm cho công ty mẹ lúng túng trong việc tìm ra phương thức để có
thể vừa hỗ trợ các công ty con, công ty liên kết về thị trường, thương hiệu, cán bộ,… nhưng vẫn
đảm bảo sự bình đẳng, không can thiệp vào công việc điều hành của công ty con, đặc biệt là
chưa phát huy được hiệu quả của việc đầu tư tài chính vào doanh nghiệp khác. Nhiều công ty mẹ
chưa tổ chức được bộ phận nghiệp vụ để chuyên theo dõi việc đầu tư vốn vào các công ty con,
công ty liên kết.
2.3 Chủ thể quản lý
Trong thời gian qua, chủ thể thực hiện chức năng quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với
DNNN nói chung và công ty mẹ trong tổ hợp công ty mẹ - công ty con, TĐKTNN nói riêng đã

đốc theo đề nghị của HĐTV và thẩm định của Bộ quản lý ngành; chấp thuận để HĐTV công ty
quyết định đầu tư thành lập mới, tổ chức lại, giải thể, chuyển đổi sở hữu các đơn vị thuộc sở hữu
của công ty (công ty con 100% vốn, chi nhánh, viện trường, đơn vị sự nghiệp ) trong trường
hợp vốn điều lệ của các đơn vị này có giá trị trên mức phân cấp cho HĐTV công ty mẹ quyết
định;
Bộ quản lý ngành chủ trì và phối hợp với các bộ ngành liên quan trình Thủ tướng Chính phủ về:
quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể, chuyển đổi sở hữu công ty; bổ nhiệm, bổ nhiệm lại,
miễn nhiệm, cách chức, khen thưởng, kỷ luật Chủ tịch và thành viên HĐTV của công ty; tham
gia ý kiến đối với tất cả các vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ; chỉ
đạo triển khai, kiểm tra việc thực hiện mục tiêu, chiến lược, kế hoạch dài hạn của công ty.
Đồng thời, Bộ quản lý ngành cũng được giao uỷ quyết định xếp lương, nâng lương, phụ cấp
lương đối với Chủ tịch, thành viên HĐTV và Tổng giám đốc; phê duyệt kế hoạch sản xuất kinh
doanh và đầu tư phát triển hàng năm của công ty mẹ và tổ chức giám sát và đánh giá hoạt động
kinh doanh của công ty;
Bộ Tài chính được giao nhiệm vụ có ý kiến để Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định thành
lập, tổ chức lại, giải thể, chuyển đổi sở hữu công ty; phê duyệt sửa đổi và bổ sung Điều lệ công
ty; đầu tư vốn để hình thành vốn điều lệ và điều chỉnh vốn điều lệ trong quá trình hoạt động của
công ty; Có ý kiến đối với các kiến nghị của HĐTV lên Thủ tướng Chính phủ quyết định trong
lĩnh vực đầu tư và tài chính của công ty. Đồng thời, Bộ Tài chính cũng được Thủ tướng Chính
phủ uỷ quyền xem xét chấp thuận việc phê duyệt Quy chế quản lý tài chính; báo cáo quyết toán
năm và phương án sử dụng lợi nhuận sau thuế của các công ty;
Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện nhiệm vụ giám sát việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ mà
Thủ tướng Chính phủ giao cho công ty; có ý kiến để Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định
thành lập, tổ chức lại, giải thể, chuyển đổi sở hữu công ty; mục tiêu, chiến lược, kế hoạch dài hạn
và ngành, nghề kinh doanh của công ty; phê duyệt sửa đổi và bổ sung Điều lệ công ty; đầu tư
vốn để hình thành vốn điều lệ và điều chỉnh vốn điều lệ trong quá trình hoạt động của công ty.
GVHD: ThS. Nguyễn Việt Khoa Page 13
Đồng thời, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng được giao nhiệm vụ phối hợp với Bộ quản lý ngành
thẩm định trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch đầu
tư phát triển 5 năm; phối hợp với Bộ quản lý ngành thẩm định phê duyệt kế hoạch sản xuất kinh

sản phẩm, hàng hóa và các dịch vụ thiết yếu cho xã hội, góp phần cùng với Nhà nước bình ổn giá
GVHD: ThS. Nguyễn Việt Khoa Page 14
cả, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội (Vinashin đang trong quá
trình tái cơ cấu nên tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh không tập hợp trong báo cáo
này), cụ thể:
a) Vốn chủ sở hữu
Năm 2006 khi mới hình thành một số tập đoàn kinh tế, quy mô vốn chủ sở hữu của các tập đoàn,
tổng công ty là 317.647 tỷ đồng, đến hết năm 2010 vốn chủ sở hữu của các tập đoàn, tổng công
ty là 653.166 tỷ đồng, bằng 204% so với năm 2006.
Vốn chủ sở hữu của các tập đoàn, tổng công ty hàng năm tăng chủ yếu từ nguồn lợi nhuận sau
thuế; đánh giá lại tài sản, thặng dư vốn thu được trong quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp
thành viên, đơn vị phụ thuộc của tập đoàn, tổng công ty.
b) Tổng tài sản
- Năm 2006, tổng tài sản của các tập đoàn, tổng công ty là 751.698 tỷ đồng, đến hết năm 2010,
tổng tài sản của các tập đoàn, tổng công ty là 1.799.317 tỷ đồng, bằng 238 % so với năm 2006.
Trong cơ cấu về tài sản, tỷ trọng tài sản cố định chiếm gần 40% tổng tài sản, thể hiện các tập
đoàn, tổng công ty đã tăng cường đầu tư, đổi mới tài sản cố định, hiện đại hoá công nghệ, thiết bị
để phục vụ trực tiếp và gián tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
c) Nợ phải trả
Theo quy định hiện hành, các tập đoàn, tổng công ty được quyền chủ động huy động
vốn phục vụ sản xuất kinh doanh trong phạm vi hệ số nợ phải trả trên vốn điều lệ không vượt
quá 3 lần. Tuy nhiên, để đánh giá đúng tình hình huy động vốn trên khả năng tài chính, nợ phải
trả cần được tính trên vốn chủ sở hữu của các tập đoàn, tổng công ty.
Năm 2006, tổng số nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty là 419.991 tỷ đồng, bình
quân bằng 1,32 lần vốn chủ sở hữu, đến hết năm 2010, tổng số nợ phải trả của các tập đoàn, tổng
công ty là 1.088.290 tỷ đồng, bình quân bằng 1,67 lần vốn chủ sở hữu.
Xét từng tập đoàn, tổng công ty thì có 30 tập đoàn, tổng công ty tỷ lệ nợ phải trả/vốn
chủ sở hữu lớn hơn 3 lần. Trong đó: Có 07 tổng công ty trên 10 lần; Có 09 tổng công ty trên 5 -
10 lần; Có 14 tổng công ty từ 3 - 5 lần.
2. Về kết quả sản xuất kinh doanh

lỗ nặng.
c) Nộp ngân sách
- Năm 2007, nộp ngân sách nhà nước của các tập đoàn, tổng công ty là 133.108 tỷ
đồng, giảm 8 % so với thực hiện năm 2006.
- Năm 2008, nộp ngân sách nhà nước của các tập đoàn, tổng công ty là 223.260 tỷ
đồng, tăng 67% so với thực hiện năm 2007 (do giá dầu thế giới tăng đột biến, nên tăng nguồn thu
từ dầu thô). Nếu loại trừ yếu tố tăng đột biến từ nguồn thu dầu thô (khoảng 32.100 tỷ đồng), thì
nộp ngân sách năm 2008 chỉ tăng 40% so với thực hiện năm 2007.
- Năm 2009, nộp ngân sách nhà nước của các tập đoàn, tổng công ty là 189.991 tỷ
đồng, giảm 15 % so với thực hiện năm 2008 (do biến động của giá dầu trên thế giới, nên nguồn
thu từ dầu giảm);
GVHD: ThS. Nguyễn Việt Khoa Page 16
- Năm 2010, nộp ngân sách nhà nước của các tập đoàn, tổng công ty là 231.526 tỷ
đồng, tăng 21 % so với thực hiện năm 2009.
Hoạt động của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước được nâng cao dần qua các năm,
tạo sự tăng trưởng về doanh thu, lợi nhuận, làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, góp
phần cân đối nguồn thu để thực hiện đầu tư cơ sở hạ tầng, đảm bảo an sinh xã hội. Trong đó,
nhiều tập đoàn, tổng công ty liên tục có lãi nên số nộp ngân sách nhà nước lớn như: Tập đoàn
Dầu khí Quốc gia Việt Nam; Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam; Tập đoàn Viễn thông
Quân đội; Tập đoàn Công nghiệp Than – khoáng sản Việt Nam; Tập đoàn Cao su Việt Nam;
Tổng công ty Lương thực miền Bắc; Tổng công ty Lương thực miền Nam; Tập đoàn Hoá chất
Việt Nam; Tập đoàn Công nghiệp xây dựng Việt Nam; Tổng công ty Thương mại Sài Gòn; Tổng
công ty Công nghiệp Sài Gòn; Tổng công ty Khánh Việt…
Tuy vậy, hiệu quả đầu tư và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước nói
chung và các tập đoàn, tổng công ty nhà nước nói riêng còn chưa tương xứng với vị trí, vai
trò, tiềm năng của doanh nghiệp.
o Về đầu tư vào một số lĩnh vực ngoài ngành kinh doanh chính
Giá trị các khoản đầu tư vào chứng khoán, bảo hiểm, bất động sản, quỹ đầu tư, ngân hàng là:
Năm 2006 (6.114 tỷ đồng); Năm 2007 (14.441 tỷ đồng); Năm 2008 (19.840 tỷ đồng); Năm 2009
(14.991 tỷ đồng); Năm 2010 (21.814 tỷ đồng). Trong đó:

nhà nước dừng và rút vốn đầu tư vào các lĩnh vực nêu trên (Điều 12 Quy chế quản lý tài chính
của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp khác ban hành kèm theo
Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 5/02/2009 của Chính phủ; công văn số 3780/VPCP-ĐMDN
ngày 5/02/2008 và công văn số 6207/VPCP-KTTH ngày 01/9/2010 của Văn phòng Chính phủ).
GVHD: ThS. Nguyễn Việt Khoa Page 18
Trường hợp đặc biệt có nhu cầu đầu tư vượt quy định phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem
xét, quyết định.
Trong năm 2009 và 2010 phần vốn đầu tư của một số tập đoàn, tổng công ty vào các lĩnh vực
nêu trên tăng so với năm trước là do tình hình kinh tế thế giới và trong nước suy giảm, lạm phát
cao; các công ty cổ phần (thuộc các lĩnh vực nêu trên) do áp lực về vốn đã thực hiện tăng vốn
điều lệ. Tuy nhiên, do các nhà đầu tư khó khăn về tài chính, mặt khác công ty cổ phần cũng khó
khăn về vốn để duy trì hoạt động và đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, nên nhiều doanh nghiệp đã
tăng vốn điều lệ theo hình thức: chia cổ tức bằng cổ phiếu, thưởng cổ phiếu và cho các cổ đông
hiện hữu quyền mua cổ phần phát hành thêm, nên cơ bản giá trị đầu tư của các tập đoàn, tổng
công ty tăng nhưng tỷ lệ vốn góp không thay đổi hoặc không vượt mức quy định của Chính phủ.
Đối với việc thực hiện quyền mua cổ phần phát hành thêm cho cổ đông hiện hữu, các tập đoàn,
tổng công ty đã báo cáo và được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận như: Tập đoàn Viettel; Tổng
công ty Tân cảng Sài Gòn; Tập đoàn Hoá chất Việt Nam; Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt
Nam , nhưng cũng có những tập đoàn, tổng công ty do khả năng tài chính hoặc nếu tiếp tục đầu
tư vào các lĩnh vực nêu trên sẽ vượt mức quy định, nên Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo không
cho phép tiếp tục đầu tư mua thêm cổ phần ở những lĩnh vực này như: Tổng công ty Thành An;
Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam.
Một số tập đoàn, tổng công ty khi thực hiện quyền mua cổ phần phát hành thêm hoặc tiếp tục
góp vốn vào các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán nhưng không báo cáo Thủ tướng
Chính phủ như: Tập đoàn Công nghiệp Than - khoáng sản Việt Nam; Tổng công ty Giấy Việt
Nam; Tập đoàn Cao su Việt Nam; Tổng công ty Lương thực miền Nam.
Tỷ lệ đầu tư vốn vào các lĩnh vực ngoài ngành kinh doanh chính nói trên của các tập đoàn, tổng
công ty đều trong các giới hạn quy định. Tuy nhiên cũng đã làm phân tán nguồn lực, nhất là vào
các lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, bất động sản, chứng khoán vẫn chứa đựng nhiều rủi ro. Đồng
thời phần nào làm méo mó nền kinh tế, phát sinh các tiêu cực, gian lận như Công ty cho thuê tài

công cụ quản lý nhà nước như chính sách thuế, tín dụng, tiền lương để điều tiết, định hướng phát
triển doanh nghiệp; kiểm tra, giám sát việc chấp hành các chính sách pháp luật chủ trương định
hướng của nhà nước đối với doanh nghiệp.
- Đa số các tập đoàn, tổng công ty kinh doanh có hiệu quả, đóng góp số thu cho ngân sách nhà
nước. Nhiều tập đoàn, tổng công ty thực hiện nhiệm vụ của Chính phủ giao trong việc bảo đảm
việc sản xuất, cung ứng các sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ thiết yếu của nền kinh tế đối với một
số lĩnh vực như: khai thác và cung cấp than cho cả nước; cung ứng nhu cầu tiêu thụ điện của toàn
xã hội; kinh doanh xăng dầu phục vụ tiêu dùng; sản xuất xi măng; sản xuất và cung ứng nhu cầu
thép; thực hiện xuất khẩu và điều tiết giá lúa gạo, thu mua lúa, gạo, cà phê cho người nông dân
- Các tập đoàn, tổng công ty đóng vai trò quan trọng trong việc bình ổn giá cả, kiềm chế lạm
phát, đảm bảo ổn định xã hội, ngăn ngừa sự suy giảm kinh tế, duy trì việc làm cho người lao
động, không để xảy ra đình công và bảo đảm thu nhập cho người lao động; đầu tư các dự án phát
triển cơ sở hạ tầng, thực hiện các nhiệm vụ công ích ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó
khăn, hỗ trợ các địa phương nghèo.
- Các tập đoàn, tổng công ty thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao đầu tư những dự án trọng điểm,
quan trọng phục vụ chiến lược phát triển kinh tế xã hội dài hạn của đất nước, những dự án lớn
hoặc hiệu quả về kinh tế thấp nhưng ý nghĩa chính trị và hiệu quả về xã hội lại rất lớn mà các
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không có đủ khả năng làm hoặc không tham gia,
đặc biệt những dự án có ý nghĩa quan trọng trong việc thay đổi cơ cấu kinh tế vùng miền theo
hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước như: Thủy điện Sơn La; Nhà máy Lọc dầu Dung
Quất; hệ thống thông tin liên lạc; mạng lưới điện tại các vùng sâu, vùng xa
 Những bất cập, khó khăn
GVHD: ThS. Nguyễn Việt Khoa Page 20
- Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2010, các Nghị
định của Chính phủ về quản lý tài chính đối với công ty nhà nước cũng hết hiệu lực thi hành. Để
các công ty nhà nước chuyển sang hoạt động chung theo Luật Doanh nghiệp với các loại hình
doanh nghiệp khác, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2010/NĐ-CP ngày 19/3/2010 về
việc chuyển công ty nhà nước thành công ty TNHH một thành viên và tổ chức quản lý công ty
TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.
- Chức năng đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước còn chồng chéo, chưa quy định

GVHD: ThS. Nguyễn Việt Khoa Page 21
- Việc tuân thủ các quy định của Nhà nước trong công tác quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà
nước tại nhiều tập đoàn, tổng công ty chưa cao, chế độ báo cáo thường xuyên, định kỳ chưa đầy
đủ, không đúng thời gian quy định, chất lượng báo cáo không đảm bảo yêu cầu, thiếu số liệu để
so sánh, đánh giá việc sử dụng vốn, tài sản. Thậm chí một số trường hợp báo cáo thiếu trung
thực.
- Chưa kiên quyết xử lý những doanh nghiệp không báo cáo đầy đủ, kịp thời hoặc nhiều năm liên
tục có sai sót trong công tác quản lý, điều hành, bị xếp loại doanh nghiệp không hoàn thành
nhiệm vụ, làm giảm hiệu lực pháp lý của các chế tài đã được Nhà nước quy định. Một số tổng
công ty kinh doanh thua lỗ liên tục, kéo dài nhưng Hội đồng quản trị (nay là Hội đồng thành
viên) hoặc Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc không bị xử lý trách nhiệm.
- Một số vướng mắc dưới góc độ pháp lý:
Các văn bản dưới luật về tập đoàn kinh tế đã bị “quá tải”
Về khung pháp lý của tập đoàn kinh tế nói chung, căn cứ pháp lý cao nhất của Tập đoàn kinh tế
đến thời điểm hiện nay được quy định tại chương VII về nhóm công ty tại Luật doanh nghiệp
năm 2005 mà trực tiếp nhất là Điều 149 về Tập đoàn kinh tế. Trong đó luật chỉ quy định: “Tập
đoàn kinh tế là nhóm công ty có quy mô lớn. Chính phủ quy định hướng dẫn tiêu chí, tổ chức
quản lý và hoạt động của tập đoàn kinh tế”. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành các văn bản
quy phạm pháp luật để quy định về tổ chức và hoạt động của các tập đoàn kinh tế. Do đó, khung
pháp lý để tập đoàn kinh tế hoạt động được trong thực tế mới đang dừng lại ở tầm nghị định của
Chính phủ. Thực trạng này có thể lý giải được vì tập đoàn kinh tế đang trong giai đoạn thử
nghiệm, cần phải có quá trình thí điểm trong thực tế để rút kinh nghiệm từ đó mới quy định ở cấp
độ văn bản luật để đảm bảo sự ổn định của hệ thống pháp luật. Thế nhưng, thay vì thí điểm thực
hiện ở một số ngành lĩnh vực để tổng kết rút kinh nghiệm, mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước lại
được thành lập ở hầu hết các ngành, lĩnh vực mang tính chất “xương sống” của nền kinh tế. Rõ
ràng ở đây đang có sự bất cân xứng giữa việc áp dụng và triển khai một hoạt động kinh tế quan
trọng và sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật để điều chỉnh lĩnh vực ấy. Hiện tại cấp độ nghị
định đã bị “quá tải” trong việc gánh vác sứ mệnh quá lớn là việc điều chỉnh sao cho hiệu quả mô
hình kinh tế tập đoàn, là mô hình kinh tế hoàn toàn lạ lẫm đối với Việt Nam. Kết quả là việc duy
trì sự bất cân xứng nêu trên đang ẩn chứa nhiều rủi ro cho nền kinh tế. Chúng ta hoàn toàn không

09/2009/NĐ-CP ngày 05 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ) đã khẳng định: “ Tập đoàn kinh tế
nhà nước là nhóm công ty có tư cách pháp nhân độc lập, đáp ứng các điều kiện theo quy định của
pháp luật và Tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân độc lập”. Mặc dù đã được quy định rõ
ràng như vậy, nhưng quá trình triển khai thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước, chuyển đổi mô
hình hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo Luật doanh nghiệp năm
2005 đã có sự thiếu nhất quán về cấu trúc của tập đoàn kinh tế, trong đó đang tồn tại quan niệm
đánh đồng giữa công ty mẹ của tập đoàn kinh tế với tập đoàn kinh tế nhà nước. Do đó, cuối cùng
các tập đoàn kinh tế lại có tư cách pháp nhân. Cụ thể, tại khoản 2 điều 4 Nghị định
101/2009/NĐ- CP về Tập đoàn kinh tế nhà nước đã quy định rõ: ”Tập đoàn kinh tế nhà nước bao
gồm:
a) Công ty mẹ (gọi tắt là doanh nghiệp cấp I) là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn
điều lệ hoặc giữ quyền chi phối theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
b) Công ty con của doanh nghiệp cấp I (gọi tắt là doanh nghiệp cấp II) là các doanh nghiệp do
doanh nghiệp cấp I giữ quyền chi phối; được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công ty
trách nhiệm hữu hạn một hoặc hai thành viên trở lên, tổng công ty theo hình thức công ty mẹ -
công ty con, công ty liên doanh (trong trường hợp chưa đăng ký lại theo Luật Doanh nghiệp),
công ty con ở nước ngoài;
c) Công ty con của doanh nghiệp cấp II và các cấp tiếp theo; ”. Trong khi đó, tại các quyết định
của Thủ tướng Chính phủ trong thời gian gần đây (nửa năm đầu 2010), khi chuyển đổi các công
ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước thành các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoạt
GVHD: ThS. Nguyễn Việt Khoa Page 23
động theo luật doanh nghiệp năm 2005 thì lại có quan niệm khác về tập đoàn kinh tế so với các
quy định trên của Nghị định 101/2009/NĐ-CP, trong đó, hầu hết các Nghị định về chuyển đổi mô
hình này đều đánh đồng giữa công ty mẹ của tập đoàn với Tập đoàn kinh tế. Ví dụ: Quyết định
984/QĐ-TTg ngày 25/6/2010 về Chuyển công ty mẹ - Tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam
thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu. Trong quyết
định này, Công ty mẹ của Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam sau khi chuyển đổi có tên
chính là ”Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam”. Tại khoản 3 điều 1 Quyết định trên còn
khẳng định ”Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt
Nam, ”. Các quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chuyển đổi các công ty mẹ của các Tập

tại thì Nghị định 101/2009/NĐ-CP vẫn đang có giá trị pháp lý. Với căn cứ pháp lý là Nghị định
25/2010/NĐ-CP, hàng loạt các quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển đổi các công
GVHD: ThS. Nguyễn Việt Khoa Page 24
ty mẹ các tập đoàn kinh tế nhà nước thành các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do
nhà nước làm chủ sở hữu quy định các chức danh lãnh đạo như: Chủ tịch Tập đoàn, các thành
viên Hội đồng quản trị là Chủ tịch và thành viên Hội đồng thành viên của các tập đoàn. Trong
khi đó, chưa hề có một văn bản quy phạm pháp luật nào bãi bỏ giá trị pháp lý của Nghị định
101/2009/NĐ-CP.
 Đề xuất
- Phải nhanh chóng thiết lập được khung pháp lý đồng bộ thể hiện quan niệm thống nhất về
tập đoàn kinh tế bằng việc nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có giá trị
pháp lý cao và ổn định hơn so với cấp độ nghị định. Nếu cần có thể sửa đổi Luật doanh
nghiệp năm 2005, trong đó có quy định cụ thể về địa vị pháp lý của tập đoàn kinh tế để
có được một văn bản luật về doanh nghiệp thống nhất nhằm tạo môi trường kinh doanh
bình đẳng giữa các thành phần kinh tế khác nhau về việc thành lập và vận hành các mô
hình kinh doanh dưới dạng các tập đoàn kinh tế. Vấn đề này không thể tiến hành chậm trễ
vì hiện tại mô hình tập đoàn kinh tế đã được triển khai ở hầu hết các ngành, lĩnh vực
trọng yếu của quốc gia nên phải có cơ chế pháp lý đủ mạnh thì mới mong nâng cao được
hiệu quả quản lý các tập đoàn và qua đó góp phần hạn chế các rủi ro cho nền kinh tế quốc
dân cũng như tạo điều kiện về khuôn khổ pháp luật cho các tập đoàn hoạt động hiệu quả
và linh hoạt hơn.
- Vấn đề tổ chức quản lý, các quy định về đầu tư kinh doanh cùng chế độ trách nhiệm của
hội đồng quản trị và tổng giám đốc trong các tập đoàn cần phải được xem xét hoàn thiện
để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh. Cần nhấn mạnh rằng, không có bằng chứng lý
thuyết nào khẳng định doanh nghiệp nhà nước là không hiệu quả dù trên thực tế nhiều
doanh nghiệp nhà nước rất kém hiệu quả. Nhưng cũng có những doanh nghiệp hiệu quả.
Vấn đề là nằm ở khâu quản trị doanh nghiệp và cơ chế quản lý quá trình quản trị đó.
- Theo các chuyên gia kinh tế, trong số vấn đề cần thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp nhà nước, hay cụ thể hơn là các tập đoàn và tổng công ty nhà
nước, trước tiên, cần xác định lại mục tiêu thành lập tập đoàn và các quy định về đầu tư.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status