tiểu luận tìm hiểu về công cụ dự trữ bắt buộc và việc điều hành chính sách tiền tệ của ngân nhà nước việt nam thông qua công cụ dữ trữ bắt buộc trong thời gian qua - Pdf 13

1
TIỂU LUẬN
TÌM HIỂU VỀ CÔNG CỤ DỰ TRỮ BẮT BUỘC VÀ VIỆC ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH
TIỀN TỆ CỦA NGÂN NHÀ NƯỚC VIỆT NAM THÔNG QUA CÔNG CỤ DỮ TRỮ BẮT
BUỘC TRONG THỜI GIAN QUA GVHD: Nguyễn Thị Hai Hằng
Sinh viên: Ngô Thị Hoàng Chi
MSSV: K094040519
Lớp: K09404A
TP. Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 11 năm 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA TÀI CHÍNH – NH


Bảng 02: Tỷ lệ DTBB đối với các TCTD ở Mỹ tháng 12/2010 9
Bảng 03: Tỷ lệ DTBB theo QĐ 379/QĐ-NHNN ngày 24/2/2009 và QĐ 1925/QĐ-NHNN ngày
26/8/2011 10
5

CÔNG CỤ DỰ TRỮ BẮT BUỘC:
I.1) Khái niệm:
Dự trữ bắt buộc, hay tỷ lệ DTBB là một quy định của NHTW về tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền
gửi mà các NHTM bắt buộc phải tuân thủ để đảm bảo tính thanh khoản. Các NH có thể giữ tiền
mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ
này. Nếu thiếu hụt tiền mặt các NHTM phải vay thêm tiền mặt, thường là từ NHTW để đảm bảo
tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Đây là một trong những công cụ của NHTW nhằm thực hiện chính sách
tiền tệ bằng cách làm thay đổi số nhân tiền tệ.
Việc bắt buộc các NHTM phải để dự trữ tối thiểu cần thiết lần đầu tiên được sử dụng ở Mỹ
vào năm 1913, với mục đích là nhằm đảm bảo khả năng thanh toán của các NHTM. Vào những
năm 30 của thế kỷ 20, sau những cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài, tỷ lệ DTBB dần được sử
dụng phổ biến ở các nước khác. Và lúc này, người ta nhìn nhận DTBB trong một vai trò khác -
DTBB là công cụ để NHTW các nước sử dụng để điều tiết tiền tệ trong nền kinh tế. Nói cách
khác, DTBB làm tăng khả năng kiểm soát của NHTW đối với quá trình cung ứng tiền. Thông
qua việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, NHTW có thể tác động vào nguồn dự trữ, thay đổi vốn
khả dụng của các NH để làm thay đổi tiềm năng tín dụng của các NH - nhưng NHTW không
phải là người quyết định việc sử dụng các tiềm năng ấy.
Mặc dù lịch sử ra đời của DTBB là từ những năm đầu của thế kỷ 20, song ở Việt Nam, hệ
thống NH Việt Nam mới chỉ làm quen với khái niệm này vào năm 1990. Tháng 5/1990, sau khi
“Pháp lệnh NH Nhà nước (NHNN) Việt Nam”, “Pháp lệnh NH , các hợp tác xã tín dụng và
công ty tài chính” được ban hành thì các NHTM Việt Nam mới bắt đầu thực hiện các quy định
về dự trữ bắt buộc.

I.2) Cơ chế tác động của DTBB:
I.2.1) DTBB và tiềm năng tín dụng của các NH

Hệ số tạo tiền =
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Có thể nói sự tác động của tỷ lệ DTBB đối với khối lượng tiền trong nền kinh tế là khá
toàn diện, nó tác động rất mạnh mẽ không chỉ đến quy mô, khối lượng tín dụng mà cả đối với lãi
suất tín dụng. Mức độ tác động không đơn giản chỉ làm tăng hay giảm đơn thuần mà làm thay
đổi theo số lần về tiền trong lưu thông.
I.3) C s xác đnh d tr bt buc:
NHTW các nước thường sử dụng tỷ lệ DTBB trong vai trò là công cụ điều hành chính
sách tiền tệ, giúp NHTW kiểm soát hệ số nhân tiền và trên cơ sở đó kiểm soát khối lượng tiền
cung ứng, do đó, tùy vào mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ mà tỷ lệ DTBB được
quy định khác nhau. Điều này được chứng minh rất rõ ở nước ta trong thời gian qua:

7

Bảng 01: Tỷ lệ DTBB đối với các TCTD Việt Nam từ tháng 01/2008- 01/2011

Tỷ lệ dự trữ bắt bụôc (VND) Văn bản
11%
1
- 5%
2
187/QĐ-NHNN ngày 16/1/2008
10%
1
- 4%
2
2560/QĐ-NHNN ngày 03/11/2008
8%
1

Tổng số dư tiền gửi 15 ngày kỳ trước
Số dư tiền gửi bình quân =
15
8

Các loại tiền gửi và có tính chất tiền gửi sau đây là căn cứ để tính DTBB:
- Tiền gửi kho bạc Nhà nước.
- Tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn đến 12 tháng.
(Kể cả tiền gửi của công ty Vàng bạc và Đá quý).
- Tiền gửi vốn chuyên dùng.
- Tiền gửi của các tổ chức và người nước ngoài.
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn đến 12 tháng.
- Tiền gửi tiết kiệm khác.
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, phát hành kỳ phiếu, phát hành trái phiếu các loại có kỳ hạn đến
12 tháng.
- Tiền quản lý và giữ hộ.
Cụ thể gồm các tài khoản: 2121, 3611, 3612, 3613, 3614, 3711, 3712, 3719, 441, 442, 449, 381.
Ngày nay, khi sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc, nghĩa là, NHTW đang muốn điều chỉnh
hệ số nhân tiền, mặc dù vậy nhưng mục tiêu đảm bảo khả năng thanh khoản cho NH của DTBB
vẫn không bị mất đi ý nghĩa của nó, không những thế, nó còn là cơ sở để xác định tỷ lệ dự trữ
bắt buộc.
Những căn cứ cụ thể sau thường được sử dụng để đưa ra yêu cầu về tỷ lệ dự trữ bắt buộc:
- Tính chất kỳ hạn của mỗi loại tiền gửi - tùy vào tính chất kỳ hạn của tiền gửi mà nghĩa
vụ DTBB khác nhau; thông thường kỳ hạn càng dài thì mức độ ổn định càng cao và độ rủi ro
thanh khoản càng thấp và vì thế, tỷ lệ DTBB đối với loại tiền gửi này thường thấp hơn so với
loại tiền gửi có kỳ hạn ngắn hơn.
- Mức độ của các khoản nợ - quy mô của các nguồn tiền gửi. Thông thường quy mô của
các nguồn tiền gửi càng cao thì khả năng rủi ro càng cao và vì thế, tỷ lệ DTBB sẽ tỷ lệ thuận với
quy mô nguồn tiền gửi. Về điều này, ta có thể tham khảo yêu cầu tỷ lệ DTBB của FED.
- Loại tiền gửi khác nhau cũng chứa đựng khả năng an toàn thanh khoản khác nhau nên

Eurocurrency nợ 0 27/12/2010
Nguồn: http://www.federalreserve.gov
10

Bảng 03: Tỷ lệ DTBB theo QĐ 379/QĐ-NHNN ngày 24/2/2009 và QĐ 1925/QĐ-NHNN
ngày 26/8/2011
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng VND áp dụng theo QĐ 379/QĐ-NHNN ngày
24/2/2009 (áp dụng từ kỳ dự trữ tháng 3/2009), tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng
USD áp dụng theo QĐ 1925/QĐ-NHNN ngày 26/8/2011(áp dụng từ kỳ dự trữ tháng 9/2011)
Loại TCTD
Ti
ền gửi VND

Ti
ền gửi ngoại tệ

Không k

hạn và dư
ới
12 tháng
T
ừ 12 tháng
trở lên
Không k

hạn v
à

ới 12


7%

5%
NHTMCP nông thôn, ngân hàng h
ợp
tác, Qu
ỹ tín dụng nhân dân Trung
ương

1%

1%

7%

5%
TCTD có số dư ti
ền gửi phải tính dự
trữ bắt buộc dư
ới 500 triệu đồng,
QTĐN cơ sở, Ngân h
àng Chính sách
xã hội

0%

0%

0%

Ưu điểm Nhược điểm
Là công cụ có thể áp dụng một cách
bắt buộc đối với các NHTM.
Ảnh hưởng mạnh đến lượng tiền cung
ứng. Chỉ một thay đổi nhỏ với tỷ lệ
DTBB có thể dẫn đến lượng tiền lớn bị
ảnh hưởng.
Thiếu linh hoạt.
Đối với các NH có dự trữ vượt mức
quá thấp, tăng DTBB sẽ gây ra
nguy cơ mất khả năng thanh toán.
Việc thay đổi liên tục tỷ lệ DTBB
sẽ gây ra tình trạng bất ổn cho hoạt
động của các NH, quản lý khả năng
thanh khoản của các NH bị khó
khăn.

12

II) CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHNN THÔNG QUA CÔNG CỤ DTBB THỜI GIAN
QUA:
Trong năm 2011, đi cũng với khó khăn huy động vốn là vấn đề thanh khoản của hệ thống
NH của VN. Theo bộ kế hoạch và đầu tư, “tình trạng thiếu thanh khoản, nguy cơ mất khả năng
thanh toán không chỉ xảy ra đối với các NH nhỏ mà cả các NH lớn”. Chính vì thế NHNN đã
phải nhiều lần can thiệp để tăng cung tiền cho các NH. Có ba cách, thứ nhất là thông qua tỷ lệ
DTBB, thứ hai là lãi suất chiết khấu, thứ ba là nghiệp vụ thị trường mở. Ở đây sẽ tập trung phân
tích cách thức tỷ lệ DTBB. Thêm một điểm đáng lưu ý nữa trong năm 2011, ở góc độ tín dung
huy động và cho vay, nên kinh tế đang có sự phân hóa rõ rệt giữa hai kênh nội tệ và ngoại tệ. Cụ
thể là giao dịch ngoại tệ tăng hơn nhiều so với nội tệ. Đây là kết quả của tình hình lạm phát cao
mà chênh lệch lãi suất quá lớn của hai loại vốn. Có nghĩa là lãi cho vay của đồng nội tệ cao và

số nhân tiền dự báo và như vậy, khối lượng tiền cung ứng thực tế thấp hơn so với mức mong
muốn.

DTBB chỉ là yếu tố quyết định hệ số nhân tiền tệ trong dự báo, dự trữ thực của các
NHTM mới thực sự quyết định hệ số nhân tiền trong thực tế.
Trong tác động của DTBB đối với khối lượng tiền cung ứng có thể dễ dàng nhận ra rằng việc
giới hạn cụ thể lượng tiền mỗi NH muốn đưa vào lưu thông không phải là việc khó, bởi vì mỗi
NH đơn lẻ chỉ có thể cho vay trong phạm vi dự trữ của nó mà thôi. Trong khi đó, đối với cả hệ
thống NH thì việc tôn trọng giới hạn trên trở nên bấp bênh, cho dù NHTW có thể thực hiện tốt
vai trò phát hành nhưng lại khó có thể kiểm soát được một cách chính xác mức độ tạo tiền của
toàn hệ thống, bởi lẽ, ngoài tỷ lệ DTBB ra thì khả năng tạo tiền còn phụ thuộc vào một số yếu tố
khác. Mỗi NH có nhiều lý do để duy trì dự trữ của mình ở mức độ cao hay thấp, đó là: đáp ứng
nhu cầu rút tiền của khách hàng trong từng thời kỳ; lý do về sự an toàn cần phải cân nhắc mỗi
khi quyết định cho vay; lý do quản lý nợ lành mạnh Ngoài những giới hạn xuất phát từ chính
bản thân NH thì những ràng buộc bên ngoài tác động đến quá trình tạo tiền cũng rất đáng kể
như: nhu cầu tín dụng của khách hàng có khả năng hoàn trả; nhu cầu giao dịch bằng tiền mặt
trong nền kinh tê Một trong những biểu hiện của vấn đề này là sự vượt trội quá mức về dự trữ
ở các NH so với dự trữ bắt buộc, với tình trạng này sẽ gần như vô hiệu hóa khả năng chi phối
quá trình cung ứng tiền của NHTW . Và ngược lại, trong trường hợp nền kinh tế có xu hướng
tăng trưởng, cầu về vốn có xu hướng tăng, các NH thỏa mãn nhu cầu này bằng cách giảm mức
dự trữ hiện hữu và vì thế, khối cung tiền tệ được mở rộng nằm ngoài dự kiến của NHTW. Vì
khả năng gây ảnh hưởng của DTBB là rất lớn cho nên, một mặt, cần quan tâm đến những nhân
tố tác động đến quá trình tạo tiền để có những ứng xử kịp thời và hiệu quả, bên cạnh đó, cũng
cần quan tâm và tìm ra phương pháp thích hợp để quản lý dự trữ nói chung của các NHTM.

DTBB - công cụ khá hiệu nghiệm trong việc kiểm soát lạm phát. Dĩ nhiên là các công cụ
dù là lãi suất, tỷ giá, thị trường mở hay tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì việc sử dụng chúng đều nhằm
đạt được mục tiêu của chính sách tiền tệ, song mỗi công cụ có đặc điểm riêng và vì thế, nó có
những mặt mạnh và mặt yếu riêng. Khác với các công cụ khác, DTBB là công cụ luôn được
14

15

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/1539781?p
ers_id=2177092&item_id=44756272&p_details=1
2. http://luatkhaiphong.com/Luat-Ngan-hang/Quyet-dinh-so-
1209/QD-NHNN-ngay-1/6/2011-ve-ty-le-du-tru-bat-buoc-
bang-ngoai-te-2554.html
3. http://timtailieu.vn/tai-lieu/do-an-cac-cong-cu-cua-chinh-sach-
tien-te-o-viet-nam-thuc-trang-va-giai-phap-hoan-thien-1458/
4. www.sbv.gov.vn
5. Bài phân tích Dự trữ bắt buộc - Từ lý thuyết đến thực tiễn,
PGS.,TS.Nguyễn Thị Nhung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status