tiểu luận công cụ dự trữ bắt buộc và việc điều hành chính sách tiền tệ của nhnn việt nam - Pdf 13

1

Tiểu luận

Công cụ dự trữ bắt buộc
và việc điều hành chính sách tiền tệ của
NHNN Việt Nam
2 I. Công cụ dự trữ bắt buộc
1. Khái niệm
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các NHTM phải duy trì trên tài khoản tiền gửi tại NHTW, được
xác định bằng tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ % tính trên tổng số dư tiền gửi các loại mà các NHTM
phải dự trữ dưới dạng tiền mặt hoặc tiền gửi tại NHTW. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc được quy định
khác nhau cho các thời hạn tiền gửi, quy mô và tính chất hoạt động của NHTW. Đây là một
trong những công cụ của NHTW nhằm thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách làm thay đổi số
nhân tiền tệ.

2. Nguyên tắc dự trữ bắt buộc:
Các TCTD phải duy trì đầy đủ dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng Nhà nước trong kỳ duy trì dự trữ
bắt buộc theo nguyên tắc sau:
 Số dư bình quân tài khoản tiền gửi thanh toán của tổ chức tín dụng tại Ngân hàng Nhà
nước không thấp hơn tiền dự trữ bắt buộc trong kỳ.
 Số dư tài khoản tiền gửi thanh toán của tổ chức tín dụng tại Ngân hàng Nhà nước hàng
ngày trong kỳ duy trì dự trữ bắt buộc có thể thấp hơn hoặc cao hơn tiền dự trữ bắt buộc
của kỳ đó.


các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng.
 NHTW có thể tác động nhanh và mạnh đến lượng tiền cung ứng thông qua việc thay đổi
tỷ lệ dự trữ bắt buộc
 NHTW có thể sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc để tạo ra mối quan hệ phụ thuộc về vốn
giữa NHTW với các ngân hàng thương mại, từ đó tăng khả năng quản lý, kiểm soát đối
với hoạt động của ngân hàng thương mại.
 Đặc biệt, nó có thể giúp tình trạng đôla hóa trong nền kinh tế giảm thiểu, bởi người dân
không còn cảm thấy quá hấp dẫn khi giữ ngoại tệ.
 Ưu điểm lớn nhất: Là công cụ mang tính chất đầy quyền lực vì nó mang nặng tính chất
hành chính và nó tác động như nhau đối với ngân hàng. Vì nó phản ánh được tính chất
4

quyền lực của ngân hàng nhà nước, đảm bảo cho ngân hàng nhà nước thực thi được các
chính sách tiền tệ một cách công bằng, nhanh và mạnh.

 Nhược điểm.
 Công cụ này tỏ ra thiếu tính linh hoạt, vì một sự thay đổi nhỏ trong tỷ lệ dự trữ bắt buộc
sẽ gây ra sự bất ổn đến hoạt động của các ngân hàng, đặc biệt là những ngân hàng có dự
trữ thứ cấp thấp
 Dự trữ bắt buộc giống như một hình thức thuế thu nhập vô hình đối với các ngân hàng vì
các ngân hàng phải giữ lại một phần tiền gửi không được sử dụng vào mục đích sinh lời
theo yêu cầu trong khi đó vẫn phải trả lãi tiền gửi cho khách hàng gửi tiền.
 Làm tăng chi phí đầu vào cho ngân hàng do đó không thể tăng dự trữ bắt buộc lên quá
cao vì nó sẽ làm gia tăng gánh nặng chi phí cho ngân hàng và đẩy lãi suất cho vay lên cao
hơn nhiều.
 Do việc tính toán và trích lập dự trữ bắt buộc là khá phức tạp khi thực thi, không thể thực
hiện thường xuyên hàng ngày, do vậy, nếu liên tục thay đổi dự trữ bắt buộc sẽ rất có thể
gây nên tình trạng bất ổn định cho các ngân hàng và làm khó khăn cho công tác quản trị
thanh khoản của ngân hàng.
 Khi thay đổi một tỷ lệ nhỏ trong dự trữ bắt buộc có thể gây nên sự thay đổi đáng kể của

giảm, điều này đi ngược lại mục tiêu hoạt động vì lợi nhuận của TCTD; Bên cạnh đó, sự phát
triển của công nghệ ngân hàng luôn cho phép Các TCTD có thể sử dụng đa dạng các hình thức
bảo hiểm rủi ro mà không cần phụ thuộc quá nhiều vào dự trữ tiền mặt. Chính vì vậy hiện nay
các nước thường duy trì một tỷ lệ dự trữ bắt buộc thấp. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi
bằng đồng Việt Nam của Các TCTD là 2% - 4% , đối với tiền gửi bằng ngoại tệ là 3% - 8% trên
tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc. Quyết định số 1209/QĐ-NHNN ngày 01/6/2011 của
Thống đốc NHNN
 NHTW của một số quốc gia như các nước thuộc Anh, Thuỵ Sỹ, đã không còn áp dụng
công cụ này

8. Các công thức tính: (phần này máy tính g bị hư nên ko tổng hợp dc)
K
M
=
M
1
=K
M
. H
c: C/D –tỉ lệ tiền mặt ngoài ngân hàng
d: R/D- tỉ lệ dự trữ của ngân hàng
D: tiền ngân hàng
C: tiền mặt ngoài ngân hàng
H (tiền mạnh):C + D
6

M
1
= C + D
Mức dự trữ bắt buộc = Tỷ lệ dự trữ bắt buộc × số dư bình quân tài khoản thuộc đối tượng dự trữ bắt buộc


9. Cơ sở quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc:
 Căn cứ vào loại tiền gửi: loại tiền gửi có tính ổn định cao, nhu cầu rút tiền của khách
hang ít thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc thấp.
 Yêu cầu của chính sách tiền tệ mỗi thời kỳ
- NHTW sẽ quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao hơn khi thực hiện chính sách tiền tệ thắt
chặt.
- NHTW sẽ quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc thấp hơn khi thực hiện chính sách tiền tệ mở
rộng.
 Chi phí phải trả của các tổ chức tín dụng, đặc biệt là các NHTM khi huy động vốn.

10. Phương pháp quản lý: (cần làm rõ hơn)
Phương pháo quản lý nối tiếp.
Phương pháp trùng một phần.
Phương pháp trùng hoàn toàn.

11. Vai trò và ý nghĩa:
- Là công cụ khá hiệu nghiệm trong việc kiểm soát lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế.
- Giúp điều tiết vốn cho thị trường chứng khoán.
- Khi sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc nghĩa là NHTW đang muốn điều chỉnh hệ số nhân tiền Dự
trữ bắt buộc chỉ là yếu tố quyết định hệ số nhân tiền tệ trong dự báo, tuy nhiên dự trữ thực của
các NHTM mới thực sự quyết định hệ số nhân tiền trong thực tế.
- Dự trữ bắt buộc là công cụ để NHTW các nước sử dụng để điều tiết tiền tệ trong nền kinh tế.
- Đảm bảo khả năng thanh toán của các tổ chức tín dụng trước nhu cầu rút tiền của khách hàng
và sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
8 12. Xác định và xử lý thừa, thiếu dự trữ bắt buộc
 Xác định thừa, thiếu dự trữ bắt buộc:

Nam, hệ thống ngân hàng Việt Nam mới chỉ làm quen với khái niệm này vào năm 1990. Ngày
23/5/1990, sau khi “Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”, “Pháp lệnh Ngân hàng, các hợp
tác xã tín dụng và công ty tài chính” được ban hành thì các NHTM Việt Nam mới bắt đầu thực
hiện các quy định về dự trữ bắt buộc. Ngân hàng Nhà nước quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc ít nhất
ở mức 10% và nhiều nhất ở 30% trên toàn bộ tiền gửi ở tổ chức tín dụng được quy định tại điều
45 của Pháp lệnh Ngân hang Nhà nước.
Luật Ngân hàng Nhà nước bổ sung và sửa đổi năm 2003 quy định tại điều 20 như sau:
Ngân hàng Nhà nước quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình tổ chức tín dụng và
từng loại tiền gửi với mức từ 0% đến 20% tổng số dư tiền gửi tại mỗi tổ chức tín dụng trong từng
thời kỳ.

TỶ LỆ DTBB TIỀN GỬI VIỆT NAM ĐỒNG
Lo

i hình

Không kì h

n và dư

i 12 tháng

T


12 tháng tr


lên


đô thị, chi nhánh
NH nước ngoài,
NH liên doanh,
cty tài chính, cty
cho thuê tài chính
Ngân
hàng
Nông
nghiệp và
Phát triển
nông thôn
NHTMCP nông
thôn, ngân hàng
hợp tác, Quỹ tín
dụng nhân dân
Trung ương
06/ 01/2007

10%

8%

4%

4%

4%

4%


6%

3%

1%

2%

1%

1%

05/11/ 2008

10%

7%

3%

4%

3%

3%

01/01/2009

3%


1%

1%

1%

1%

10

01/02/ 2010

4%

3%

3%

2%

1%

1%

01/05/ 2011

3%

1%


1%

1%

1%TCTD có số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc dưới 500 triệu đồng, QTĐN cơ sở, Ngân hàng Chính
sách xã hội : 0%

TỶ LỆ DTBB TIỀN GỬI NGOẠI TỆ
Lo

i hình

Không kì h

n và dư

i 12 tháng

T


12 tháng tr


lên


NHNo& PT NT), NH
TMCP đô thị, chi nhánh
NH nước ngoài, NH
liên doanh, cty tài
chính, cty cho thuê tài
chính
Ngân hàng
Nông nghiệp
và Phát triển
nông thôn
NHTMCP
nông thôn,
ngân hàng hợp
tác, Quỹ tín
dụng nhân dân
Trung ương
06/ 01/2007

10%

10%

10%

4%

4%



12/05/ 2008

7%

6%

6%

3%

2%

2%

05/11/ 2008

9%

8%

8%

3%

2%

2%

01/01/2009


6%

6%

3%

2%

2%

01/02/ 2010

7%

6%

6%

3%

2%

2%

01/05/ 2011

6%

5%


7%

6%

5%

5%

TCTD có số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc dưới 500 triệu đồng, QTĐN cơ sở, Ngân hàng Chính
sách xã hội : 0%

Nhận xét:
Nhìn chung, dự trữ bắt buộc là công cụ được NHNN sử dụng thường xuyên, đặc biệt trong
những thời kì mà nền kinh tế có nhiều biến động như năm 2008, 2009, 2011.
Điều chỉnh nhiều nhất là tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với ngoại tệ
Cụ thể
+ Từ năm 2007 đến đầu năm 2008, điều chỉnh tăng 1% dự trữ VNĐ và ngoại tệ trong cả hai kì
hạn đối với NHTM Nhà nước (trừ NHNo& PTNT), NH TMCP đô thị, chi nhánh NH nước
ngoài, NH liên doanh, cty tài chính, cty cho thuê tài chính.
+ Trong năm 2008 có 4 lần điều chỉnh DTBB với 3 lần điều chỉnh giảm và 1 lần điều chỉnh tăng
vào cuối năm.
+ Trong năm 2009, DTBB đối với ngoại tệ biến động mạnh với 3 lần điều chỉnh liên tiếp trong
quý I.
+ Năm 2011, điều chỉnh tăng 3 lần liên tiếp đối với tiền gửi ngoại tệ.

Đánh giá: (khác với số liệu)
Nguyên nhân:
+ Năm 2007- 2008, tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động, đáng chú ý là khủng hoảng tài
chính toàn cầu năm 2008, cầu tài sản tăng vọt, nới lỏng cung tiền tệ làm cho lạm phát tăng cao=>

Dự trữ bắt buộc giúp ổn định tính thanh khoản cho cả hệ thống ngân hàng khi xảy ra sự cố.
Là công cụ tác động nhanh và hiệu quả đối với toàn bộ thị trường tiền tệ. sử dụng công cụ dự trữ
bắt buộc để giảm áp lực về thanh khoản có thể thực hiện nhanh chóng, dễ dàng hơn.
Việc phân chia tỷ lệ dự trữ bắt buộc khác nhau đối với tiền gửi Việt Nam đồng và ngoại tệ tạo ra
lợi thế cho VNĐ, làm hạn chế tình trạng đô la hóa cũng như tâm lí e ngại nội tệ của người dân.
Điều này chỉ có công cụ DTBB mới thực hiện được hiệu quả nhất.

13

2. Giải thích tại sao các nước khác đã không còn sử dụng công cụ này mà Việt Nam vẫn sử
dụng?
Hiện nay các nước phát triển không còn áp dụng phổ biến công cụ DTBB là vì:
 Trước đây, DTBB nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho TCTD trước nhu cầu rút tiền
mặt của khách hàng và do đó hạn chế rủi ro thanh khoản cho cả hệ thống. Tuy nhiên, theo
thời gian ý nghĩa này giảm dần vì cho dù TCTD có duy trì một mức DTBB lớn bao nhiêu
thì khi rủi ro thanh khoản xảy ra, mức dự trữ này cũng không thể giúp TCTD chống đỡ
được nguy cơ phá sản.
 TCTD không thể duy trì một mức DTBB quá lớn vì đặc điểm của DTBB là không sinh
lời, DTBB càng cao thì lợi nhuận của TCTD càng giảm, điều này đi ngược lại mục tiêu
hoạt động vì lợi nhuận của TCTD.
 Sự phát triển của công nghệ ngân hàng luôn cho phép TCTD có thể sử dụng đa dạng các
hình thức bảo hiểm rủi ro mà không cần phụ thuộc quá nhiều vào dự trữ tiền mặt.
 Công cụ DTBB quá nhạy cảm, chỉ một thay đổi nhỏ trong tỷ lệ DTBB đã làm cho khối
lượng tiền tăng lên rất lớn khó kiểm soát.
 Khi sử dụng công cụ DTBB để kiểm soát cung ứng tiền tệ như việc tăng DTBB có thể
gây nên vấn đề khả năng thanh khoản ngay đối với một ngân hàng có dự trữ vượt mức
quá thấp.
 Thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc không ngừng cũng gây nên tình trạng không ổn định cho
các ngân hàng.
 Chính vì vậy, sử dụng công cụ DTBB để kiểm soát cung tiền tệ qua đó kiểm soát lạm

khó khăn xã hội.
Vì vậy nên cuối năm 2008 đến nay, Việt Nam đã điều chỉnh giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Tác động của việc điều chỉnh giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với nền kinh tế Việt Nam từ cuối
2008 đầu 2009 đến nay:
Tích cực:
- Việc điều chỉnh này của NHNN, một mặt, nhằm đưa ra tín hiệu nới lỏng tiền tệ
- Thông qua việc nâng cao hệ số nhân tiền chính thức mở rộng khả năng cho vay, kích thích các
ngân hàng thương mại đẩy mạnh hoạt động tín dụng, tích cực cung ứng vốn cho nền kinh tế.
Tiêu cực:
- Sau một thời gian dài liên tục đạt được nhịp độ trưởng kinh tế với tốc độ cao, môi trường kinh
tế vĩ mô ổn định, bắt đầu từ cuối năm 2007 và những tháng đầu năm 2008, nền kinh tế nước ta đã
rơi vào tình trạng lạm phát tăng cao ngoài mức dự báo.
15

- Nhìn nhận lại tình hình của nền kinh tế trong thời gian vừa qua chúng ta có thể thấy rằng, trong
điều kiện lạm phát cao, các cơn “bão giá”, “bão lãi suất” diễn ra đã làm cho tình hình thị trường
tài chính, tiền tệ trong nước bất ổn, gây những ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động kinh tế
nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng. Viễn cảnh khủng hoảng tiền tệ, nguy cơ đổ vỡ đối
với hệ thống ngân hàng không thể không lường tính trước, nếu như các cơ quan quản lý không
có các chính sách kinh tế vĩ mô đúng đắn và hữu hiệu, các ngân hàng thương mại (NHTM)
không có các giải pháp chống đỡ phù hợp, hiệu quả.
- Do tâm lý lo sợ trước tình hình lạm phát tăng cao, đồng tiền mất giá nên người dân có xu
hướng tìm đến các kênh đầu tư an toàn hơn như mua vàng và ngoại tệ, thay vì gửi tiền nhàn rỗi
vào Ngân hàng như trước đây, từ đó làm giảm khả năng huy động vốn của các Ngân hàng.
- Khi lạm phát tăng cao, mặc dù mặt bằng lãi suất huy động của các Ngân hàng cũng đã tăng
theo nhưng nếu vẫn chưa thể ngang bằng với tốc độ trượt giá, thì người gửi tiền vào Ngân hàng
phải chịu thiệt hại do lãi suất thực âm, từ đó không khuyến khích các dòng vốn chảy vào Ngân
hàng.

III. Câu hỏi đặt ra cho nhóm thuyết trình: Lợi, hại khi tăng dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ

TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC

Bất kỳ một chính sách nào bên cạnh các tác động tích cực thì chúng ta buộc phải chấp nhận
những tác động tiêu cực.
- Gây sức ép cho lãi suất: Lãi suất bằng tiền đồng hiện nay đang ở mức rất cao và cũng rất khó
vay. Không ít doanh nghiệp tìm lối thoát bằng cách vay ngoại tệ với lãi suất thấp hơn và dễ dàng
hơn. Nguồn vốn từ ngoại tệ đã giải quyết được nhiều nhu cầu cấp bách của các doanh nghiệp. .
- Ảnh hưởng đến kinh doanh của ngân hàng: Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc ngoại tệ và khống chế lãi
suất tiền gửi USD sẽ ảnh hướng đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Những ngân hàng
có tỷ lệ tín dụng bằng ngoại tệ chiếm tỷ lệ lớn sẽ bị ảnh hưởng mạnh bởi chi phí vốn tăng. Ngoài
ra, tín dụng cho vay ngoại tệ giảm cũng ảnh hưởng đến lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của
họ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status