Lun vn thc s Lut hc Nguyn Th Ho
phần mở đầu
1.Tớnh cp thit ca ti
Gia ỡnh l t bo ca xó hi, l cỏi nụi nuụi dng con ngi, l mụi
trng quan trng hỡnh thnh v giỏo dc nhõn cỏch, gúp phn vo s nghip
xõy dng v bo v t quc. Gia ỡnh tt thỡ xó hi tt, xó hi tt thỡ gia ỡnh
cng tt (Li núi u - Lut Hụn nhõn v gia ỡnh 2000). Gia ỡnh c xõy
dng trờn c s cỏc quan h hụn nhõn, huyt thng v nuụi dng, trong ú
quan h hụn nhõn l nn tng. Mi gia ỡnh núi chung, mi cp v chng núi
riờng ngoi ngha v yờu thng, quý trng chm súc giỳp ln nhau, mỗi
bên cũn cú ngha v duy trỡ cuc sng và phỏt triển kinh tế chung ca gia
ỡnh. Thc hin tt chc nng kinh t ca gia ỡnh m ni dung l s tham gia
ca cỏc thnh viờn vo quỏ trỡnh sn xut, quỏ trỡnh tiờu dựng, gúp phn to
dng v phỏt trin c s vt cht, tinh thn nht nh cho gia ỡnh v xó hi.
Chớnh vỡ vy, iu chnh vn ti sn ca v chng luụn c nh lm lut
quan tõm. Tài sản của vợ chồng l mt trong nhng ch nh quan trng ca
phỏp lut hụn nhõn v gia ỡnh. c bit, trong bi cnh hi nhp kinh t quc
t hin nay v s tỏc ng ca nn kinh t th trng, v chng tham gia ngy
cng rng rói vo cỏc giao dch dõn s, thng mi lm cho cỏc quan h ti
sn trong gia đình ngy cng phc tp, c bit l nhng tranh chp v ti sn
của vợ chồng.
Hin phỏp 1992, cựng cỏc vn bn phỏp lut khỏc nh: Bộ lut dõn s
năm 2005, Lut doanh nghip năm 2005, Lut u t năm 2005 l c s
phỏp lý v chng tham gia vo cỏc quan h dõn s, kinh t vi t cỏch l
nhng ch th c lp. H cú th cựng nhau u t sn xut kinh doanh hoc
tin hnh sn xut kinh doanh riờng, cú th s dng ti sn chung hoc ti sn
riờng vỡ li ớch cỏ nhõn hay vỡ li ớch chung ca c gia ỡnh. Vỡ vy, vic xỏc
1
Luận văn thạc sĩ Luật học Nguyễn Thị Hoà
định lợi nhuận cũng như nghĩa vụ tài sản phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh
doanh thuộc quyền sở hữu của vợ hoặc chồng hay của chung vợ chồng là vấn
sn xut kinh doanh ti Vit Nam (Trn c Hoi, Lun vn thc s lut hc,
2006), Ti sn ca v chng trong hot ng sn xut kinh doanh (B mụn
Lut hụn nhõn v gia ỡnh - ti khoa hc cp trng, 2008), .
Tuy nhiờn vn cha cú mt bi vit, mt cụng trỡnh khoa hc no tp
trung nghiờn cu vn xỏc nh quyn s hu ti sn ca v chng trong
nn kinh t hin nay. õy thc s l mt ti mi m m cng rt phc tp,
nht l trong bi cnh nn kinh t nhiều thành phần hin nay.
3. Mc ớch, phm vi nghiờn cu ca ti
Trờn c s phõn tớch cỏc quy nh ca phỏp lut hin hnh v quyn s
hu ti sn ca v chng, lun vn đi sâu nghiên cứu nhằm xỏc nh ti sn
chung ca v chng và ti sn riờng ca v hoặc chng trong bi cnh của
nền kinh t th trng khi vợ chồng tham gia vào những hình thức sản xuất
kinh doanh khác nhau.
Lun vn tp trung nghiờn cu vn xỏc nh quyn s hu ti sn
ca v chng khi vợ, chồng tham gia mt s lnh vc ch yu trong nn kinh
t hin nay nh thị trờng chng khoỏn, kinh doanh bt ng sn, thành lập các
loi hỡnh doanh nghip T ú tỡm ra nhng im khiếm khuyết, bất cập của
pháp luật hiện hành v xut nhng phng ỏn b sung hon thin phỏp lut
nhằm iu chnh vn ny.
4. Phng phỏp nghiờn cu ca ti
3
Lun vn thc s Lut hc Nguyn Th Ho
Các phơng pháp chủ yếu đợc sử dụng để thực hiện đề tài là phng
phỏp phõn tớch, tng hp v so sỏnh luật. Ngoài ra, phơng pháp thống kê và
khảo sát thực tế cũng đợc sử dụng hon thnh ti.
5. Nhng úng gúp mi ca Lun vn
- Xỏc nh rừ c s lý lun v thc tin ca vic xỏc nh quyn s hu
ti sn ca v chng trong nn kinh t Vit Nam hin nay;
- Nờu ý ngha phỏp lý v thc tin ca vic xỏc nh quyn s hu ti
sn ca v chng trong nn kinh t Vit Nam hin nay;
bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay thì vấn đề tài sản, quyền sở hữu tài
sản của vợ chồng ngày càng trở thành vấn đề cần nhận được sự quan tâm của
nhà làm luật hơn nữa. Trong mỗi giai đoạn phát triển của đất nước, Đảng và
Nhà nước ta luôn đề ra những chủ trương, định hướng kịp thời và phù hợp.
Bản chất của chế độ xã hội, cùng với các yêu cầu khách quan của nền kinh tế
thị trường là cơ sở lý luận và thực tiễn để xác định quyền sở hữu tài sản của
vợ chồng trong nền kinh tế hiện nay ở Việt Nam.
1.1.1. Cơ sở lý luận:
Xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và
vì dân nên mục tiêu của chế độ kinh tế cũng là vì lợi ích của nhân dân. Qua
các Nghị quyết của Đại hội Đảng về Đường lối phát triển kinh tế, có thể thấy
5
Luận văn thạc sĩ Luật học Nguyễn Thị Hoà
quan điểm cách mạng và nhân dân của Đảng Cộng Sản Việt Nam là “Tất cả
do con người, tất cả vì hạnh phúc con người”. Phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm bảo đảm yêu cầu: Tăng trưởng kinh tế
phải gắn chặt với những tiến bộ và công bằng xã hội, thực hiện mục tiêu "mọi
lợi ích đều vì dân", giải phóng con người, con người phát triển toàn diện. Con
người là nhân tố quyết định, là động lực to lớn, là chủ thể sáng tạo mọi nguồn
của cải vật chất và tinh thần của xã hội. Vì hạnh phúc con người là mục tiêu
phấn đấu cao nhất của chúng ta.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là kiểu tổ
chức nền kinh tế - xã hội vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh
tế thị trường, vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã
hội.
Có thể nói nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta vừa mang những đặc trưng chung của kinh tế thị trường, vừa mang tính đặc
thù, đó là định hướng xã hội chủ nghĩa. Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của
nền kinh tế thị trường không phủ nhận các quy luật kinh tế thị trường, mà là
cơ sở để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường ở nước ta với các nước
công lao động xã hội phát triển, mở rộng ngành nghề, tạo việc làm cho người
lao động. Áp dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật mới vào sản xuất nhằm tăng
năng suất lao động xã hội, tăng số lượng, chủng loại và chất lượng hàng hóa,
dịch vụ. Thúc đẩy tích tụ, tập trung sản xuất, mở rộng giao lưu kinh tế giữa
các địa phương, các vùng lãnh thổ, với các nước trên thế giới. Động viên mọi
nguồn lực trong nước và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài. Phát huy tinh
thần năng động, sáng tạo của mỗi người lao động, mỗi đơn vị kinh tế, tạo ra
sự phát triển năng động, hiệu quả cao của nền kinh tế, tạo ra tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao và bền vững. Đưa nước ta thoát khỏi tình trạng một nước
nghèo và kém phát triển, thực hiện được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh.
7
Luận văn thạc sĩ Luật học Nguyễn Thị Hoà
Bởi vậy, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
có ba điểm rất cơ bản là: Lấy chế độ công hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu
làm nền tảng và kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo nền kinh tế quốc dân;
kết hợp nhiều hình thức phân phối, thực hiện tốt các chính sách xã hội; Nhà
nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước của dân, do dân, vì dân thực hiện chức
năng quản lý nền kinh tế thị trường dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam.
Ngay từ Hiến pháp năm 1959, Nhà nước ta đã xác định mục đích chính
sách kinh tế của Việt Nam là: Không ngừng phát triển mức sản xuất nhằm
nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân (Điều 9). Tiếp đó, Hiến
pháp năm 1980 khẳng định: Thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và
văn hoá ngày càng tăng của xã hội (Điều 15). Trên cơ sở kế thừa và phát huy
những điểm tiến bộ của các bản Hiến pháp cũ, Hiến pháp năm 1992 tiếp tục
khẳng định mục tiêu phát triển kinh tế của nhà nước ta là làm cho dân giàu,
nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân
dân (Điều 16).
Để đạt được mục tiêu kinh tế đã đề ra, Nhà nước ta chủ trương xây
nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác” (Điều 58 Hiến pháp năm 1992).
Đặc biệt, thành tựu lập pháp cao nhất trong lĩnh vực sở hữu đó là các quy định
về tài sản và quyền sở hữu tại Phần thứ hai Bộ luật dân sự. Các quy định
tương đối đầy đủ và hoàn thiện về sở hữu là những chuẩn mực pháp lý ổn
định, tạo hành lang pháp lý vững chắc để giải quyết những tranh chấp về tài
sản và quyền sở hữu tài sản.
Trên cơ sở Hiến pháp và Bộ luật dân sự về quyền sở hữu tài sản, quyền
tự do tham gia lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh của cá nhân, Luật
Hôn nhân và gia đình quy định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng. Luật Hôn
9
Luận văn thạc sĩ Luật học Nguyễn Thị Hoà
nhân và gia đình đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đã quy định vợ chồng có quyền ngang
nhau đối với tài sản mỗi bên có trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân.
Do tính chất lịch sử của giai đoạn này mà nhà làm luật lúc bấy giờ chưa công
nhận quyền sở hữu riêng của vợ, chồng. Đạo luật hôn nhân và gia đình tiếp
theo là Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, bên cạnh công nhận sở hữu
chung giữa vợ và chồng, nhà làm luật còn công nhận vợ, chồng có quyền có
tài sản riêng. Kế thừa hai đạo luật trước đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 quy định: Vợ chồng có quyền sở hữu chung đối với thu nhập hợp pháp
do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp
khác của mỗi bên vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản mà vợ chồng
được tặng cho chung hoặc được thừa kế chung (Điều 27). Bên cạnh đó, Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng khẳng định quyền sở hữu của vợ hoặc
chồng đối với thu nhập hợp pháp của mỗi bên trước khi kết hôn hoặc tài sản
mà mỗi bên được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân
(Điều 32). Các quy định trên là cơ sở pháp lý cho việc xác định quyền sở hữu
tài sản của vợ chồng trong suốt thời kỳ hôn nhân, bao gồm cả khi vợ chồng
tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh. Như vậy, Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2000 là cơ sở pháp lý quan trọng để xác định quyền sở hữu tài
kinh tế sang can thiệp gián tiếp thông qua hệ thống pháp luật, kế hoạch, cơ
chế, chính sách và các công cụ điều tiết vĩ mô khác.
Bốn là, đạt được những kết quả tích cực trong hội nhập kinh tế khu vực
và thế giới. Vượt ra khỏi chính sách bao vây cấm vận của Mỹ và các lực
lượng thù địch nước ngoài, Việt Nam đã tham gia hợp tác, liên kết kinh tế
quốc tế trên các cấp độ và trong các lĩnh vực kinh tế then chốt (như thương
11
Luận văn thạc sĩ Luật học Nguyễn Thị Hoà
mại dịch vụ, lao động, đầu tư, khoa học và công nghệ ). Đặc biệt là, nước ta
đã tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ngày 28-7-1995,
đã không ngừng mở rộng các quan hệ kinh tế song phương, tiểu vùng, vùng,
liên vùng và tiến tới tham gia liên kết kinh tế toàn cầu. Ngày 7- 11- 2006 Việt
Nam chính thức gia nhập WTO đem lại những thuận lợi và cả những thách
thức mới cho nền kinh tế, tạo hành lang pháp lý để thu hút vốn đầu tư nước
ngoài, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp trong nước đầu tư ra nước
ngoài.
Trong bối cảnh nền kinh tế đất nước phát triển năng động, sự tham gia
của vợ chồng vào các giao dịch dân sự, thương mại ngày càng rộng rãi đã nảy
sinh nhiều vấn đề cần phải giải quyết, nhất là các vấn đề liên quan đến tài sản
vợ chồng ngày càng phức tạp. Các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng, giữa
vợ chồng và người thứ ba ngày càng nhiều và đây cũng là những tranh chấp
chủ yếu.
Chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, khuyến khích mọi tổ
chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt đông sản xuất kinh
doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm đã tận dụng và phát
huy được sức mạnh tổng thể của nguồn lực trong nước vào sự nghiệp xây
dựng và phát triển kinh tế.
Từ thực tiễn phát triển kinh tế ở Việt Nam trong những năm qua, cùng
với các quy định của pháp luật đã tạo cơ sở khuyến khích vợ chồng tham gia
trọng trong quy định về quan hệ pháp luật giữa vợ chồng. Theo Luật Hôn nhân
và gia đình hiện hành, giữa vợ chồng có hai hình thức sở hữu về tài sản, đó là
sở hữu chung hợp nhất và sở hữu riêng. Thc tin ỏp dng ch ti sn ca
v chng nhng nm qua gúp phn vo s n nh cỏc quan h hụn nhõn v
13
Luận văn thạc sĩ Luật học Nguyễn Thị Hoà
gia đình, tạo cơ sở pháp lý thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ
chồng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được của pháp luật điều
chỉnh vấn đề tài sản của vợ chồng, quá trình thực hiện và áp dụng Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2000 về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng cho thấy
còn khá nhiều bất cập và vướng mắc. Mặc dù đã có khá nhiều văn bản của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền qui định, hướng dẫn áp dụng về quyền sở
hữu tài sản của vợ chồng, nhưng do tính chất phức tạp và rất "nhạy cảm" từ
các quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung, những tranh chấp về tài sản giữa
vợ và chồng nói riêng nên khi áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành
vào thực tiễn vẫn nảy sinh những vấn đề mới mà pháp luật hiện hành chưa
đáp ứng được. Thực tiễn áp dụng đã có nhiều quan điểm, nhận thức, đánh giá
khác nhau, chưa có sự thống nhất từ phía các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền và cá nhân thực thi pháp luật liên quan đến quyền sở hữu tài sản của vợ
chồng. Trong báo cáo tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử của ngành Tòa
án hàng năm, hầu như đều có các vấn đề về xác định tài sản chung, tài sản
riêng của vợ chồng và nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng. Điều đó
cho thấy các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng luôn là loại việc phức tạp,
thường gặp nhiều khó khăn, vướng mắc khi áp dụng, hạn chế và có nhiều bất
cập trong công tác thi hành án liên quan đến quyền sở hữu tài sản của vợ
chồng. Nguyên nhân có nhiều, trong đó phải kể đến một số qui định của Luật
Hôn nhân và gia đình về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng mới chỉ dừng lại
ở tính chất định khung, nguyên tắc chung. Các văn bản qui định chi tiết thi
hành và hướng dẫn áp dụng quyền sở hữu tài sản của vợ chồng còn thiếu,
chưa cụ thể, chưa theo kịp với sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội.
đình, cùng chung sức và ý chí xây dựng cơ sở vật chất cho cuộc sống gia
15
Luận văn thạc sĩ Luật học Nguyễn Thị Hoà
đình. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định chế độ tài sản của vợ
chồng là chế độ cộng đồng tạo sản, trong đó đồng thời tồn tại sở hữu chung
hợp nhất của vợ chồng và sở hữu riêng của mỗi bên. Vợ chồng có quyền và
nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để đảm bảo nhu cầu của gia đình,
thực hiện các nghĩa vụ chung của gia đình (Khoản 1,2 Điều 28 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000). Quy định trên là hoàn toàn hợp lý vì tính cộng đồng
của quan hệ hôn nhân dẫn đến vợ chồng cùng chung sức trong việc tạo lập
khối tài sản chung, cùng chung trách nhiệm trong việc gánh vác các công việc
gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. Vì vậy, vợ chồng có quyền
và nghĩa vụ ngang nhau trong việc quản lý tài sản chung của vợ chồng. Mặc
dù trên thực tế sự đóng góp công sức của vợ, chồng vào khối tài sản chung là
khác nhau, có thể một bên không có thu nhập riêng, phải làm công việc nhà
nhưng quyền đối với tài sản chung không vì thế mà kém hơn bên kia. Đây là
cơ sở, là nền tảng để có một gia đình dân chủ, hạnh phúc và bền vững. Chỉ
khi vợ chồng bình đẳng trong việc quản lý tài sản chung mới có thể dẫn đến
bình đẳng trong các mối quan hệ khác trong gia đình.
- Quyền sở hữu là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống
kinh tế - xã hội cũng như trong pháp luật dân sự. Nó là một trong những tiền
đề vật chất cho sự phát triển kinh tế. Xác định quyền sở hữu tài sản của vợ
chồng không chỉ giúp cho các cặp vợ chồng thực hiện tốt vai trò của người
vợ, người chồng trong gia đình mà còn thực hiện vai trò công dân, thành viên
của xã hội. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định cụ thể chế độ sở
hữu tài sản chung, chế độ sở hữu tài sản riêng của vợ chồng. Quy định này
vừa bảo đảm lợi ích chung của gia đình vừa đảm bảo sự bình đẳng và tính độc
lập tương đối trong việc quản lý tài sản, tạo cơ sở pháp lý để vợ chồng chủ
động tham gia vào các giao dịch dân sự, thương mại vì lợi ích gia đình cũng
Luận văn thạc sĩ Luật học Nguyễn Thị Hoà
bên vợ chồng trong việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản. Qua đó giúp
minh bạch hoá các giao dịch dân sự mà một bên chủ thể là vợ, chồng, giúp
người có quyền xác định được nghĩa vụ mà vợ chồng phải thực hiện được bảo
đảm thực hiện bằng tài sản chung hay tài sản riêng. Vì vậy, quyền và lợi ích
của người thứ ba, của cộng đồng và xã hội vì thế cũng được đảm bảo. Như
vậy, xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng không chỉ bảo vệ quyền và
lợi ích của vợ chồng, của người thứ ba mà còn là căn cứ pháp lý cho cơ quan
có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp có liên quan đến tài sản của vợ
chồng. Đồng thời, xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng còn tạo điều
kiện để vợ chồng chủ động tham gia vào các quan hệ xã hội nhằm phát triển
kinh tế gia đình, xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền
vững và thực hiện tốt các mục tiêu xã hội.
1.2.1. Ý nghĩa của việc xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng
trong nền kinh tế hiện nay:
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, đặc biệt là sự kiện Việt Nam
gia nhập WTO, giao lưu quốc tế ngày càng rộng rãi dẫn đến các quan hệ hôn
nhân ngày càng phức tạp. Quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ngày càng
gia tăng như: Kết hôn với người nước ngoài, một bên vợ, chồng sinh sống,
học tập tại nước ngoài, vợ chồng có tài sản tại nước ngoài… Xác định quyền
sở hữu tài sản của vợ chồng trong trường hợp này là hết sức khó khăn. Nhất là
trong trường hợp một bên cố tình giấu giếm tài sản, giấu giếm thu nhập hợp
pháp trong thời kỳ hôn nhân, trốn tránh trách nhiệm với gia đình… Vì không
thể kiểm soát được thu nhập thực tế của vợ, chồng nên không thể xác định
được khối tài sản chung của vợ chồng để thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ
chồng như đáp ứng nhu cầu chung của gia đình hay các nghĩa vụ chung khác.
Trách nhiệm của họ đối với gia đình hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện
của họ. Đặc biệt, khi ly hôn hoặc xảy ra tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng
18
Luận văn thạc sĩ Luật học Nguyễn Thị Hoà
riờng. Vỡ vy, khi tham gia vo hot ng sn xut, kinh doanh v, chng cú
th s dng ti sn chung hoc ti sn riờng, vỡ nhu cu chung ca gia ỡnh
hay vỡ li ớch cỏ nhõn. Khi v, chng tham gia vo cỏc hot ng kinh t vic
xỏc nh quyn, trỏch nhim ca h nh th no l vụ cựng quan trng. iu
ny khụng ch nh hng ti quyn v li ớch hp phỏp ca mt bờn v hoc
chng, quyn v li ớch hp phỏp ca cỏc thnh viờn khỏc trong gia ỡnh m
cũn nh hng n quyn v li ớch hp phỏp ca cỏc t chc, cỏ nhõn khỏc
cú quyn li v ngha v liờn quan. Xỏc nh quyn s hu ti sn ca v
chng trong nn kinh t hin nay nhằm điều chỉnh có hiệu quả quan hệ giữa
vợ và chồng với nhau và vợ hoặc chồng với ngi th ba (l cỏ nhõn hoc
phỏp nhõn) nhằm đảm bảo lợi ích của vợ chồng và của ngời thứ ba.
Trong iu kin nn kinh t Vit Nam hin nay, ngun thu nhp ca
cỏc cỏ nhõn rt a dng, phong phỳ: Thu nhp do lao ng (tin cụng, tin
lng), thu nhp do hot ng sn xut kinh doanh, ti sn do c tha k,
c tng cho v cỏc thu nhp hp phỏp khỏc (nh hoa li, li tc phỏt sinh
t ti sn chung hoc t ti sn riờng ca v chng, tin thng, ti sn c
xỏc lp quyn s hu theo quy nh ca B lut dõn s). Theo quy nh ca
phỏp lut hin hnh, tài sản có nguồn gốc là hoa lợi, lợi tức phát sinh trong
thời kỳ hôn nhân của vợ chồng là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên,
trong thời kỳ hôn nhân, tài sản này có thể đợc hình thành từ tài sản chung
hoặc có thể từ tài sản riêng, nguồn của tài sản gốc cũng rất phong phú, do đó
việc phân định tài sản là hoa lợi, lợi tức thuộc tài sản riêng hay tài sản chung
của vợ chồng cũng gặp nhiều vớng mắc. Hiện nay, vợ, chồng tham gia ngày
càng nhiều vào các giao dịch dân sự, thơng mại với t cách là những chủ thể
độc lập, họ có thể dùng tài chung hoặc tài sản riêng, vì lợi ích chung của cả
gia đình hoặc vì nhu cầu, lợi ích của cá nhân. Vì vậy, việc xác định tài sản
20
Luận văn thạc sĩ Luật học Nguyễn Thị Hoà
chung, tµi s¶n riªng gÆp nhiÒu khã kh¨n. Hơn nữa, vấn đề tài sản của vợ
chồng không chỉ có dừng lại đối với những tài sản phát sinh mà còn bao gồm
được tham gia vào các hành vi sử dụng tài sản. Đối với các hành vi như mua
bán, cầm cố điền sản (ruộng đất) thì trong văn tự phải có chứ ký của cả hai vợ
chồng. Trong Hoàng Việt luật lệ, người vợ phụ thuộc và hoàn toàn đặt dưới
quyền của người chồng. Tất cả tài sản trong gia đình hợp thành một khối duy
nhất thuộc quyền sử dụng của người chồng. Người vợ được coi là vô năng lực
về mặt pháp lý nên không có một chút quyền hành nào về tài sản trong gia
đình. Quy định này đã đi ngược với quan điểm pháp luật của triều Lê.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, các quy định của pháp luật hôn nhân và gia
đình nói chung và các quy định về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng nói
riêng mang những nét đặc trưng của chế độ thuộc địa và chịu ảnh hưởng sâu
sắc của pháp luật Pháp. Trong bộ Dân luật giản yếu ở Nam kỳ không có các
quy định cụ thể nhưng căn cứ vào án lệ ta thấy: Người vợ không có tài sản
riêng. Trong thời kỳ hôn nhân cũng như sau khi người vợ chết, toàn bộ tài sản
trong gia đình đều thuộc quyền quản lý của người chồng. Quyền sở hữu duy
nhất của người chồng còn bao hàm tất cả các tài sản do hai vợ chồng hay do
một mình người vợ làm ra. Trong bộ Dân luật Bắc kỳ (năm 1931) và Dân luật
Trung kỳ (năm 1936), quyền của người vợ được đảm bảo tốt hơn mặc dù vẫn
phản ảnh sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng. Tại Điều 109 bộ Dân luật Bắc
kỳ và Điều 107 bộ Dân luật Trung kỳ, người chồng có quyền sử dụng các
động sản, thực hiện các giao dịch liên quan đến bất động sản mà không cần có
sự đồng ý của người vợ, miễn là việc sử dụng đó đem lại lợi ích cho gia đình.
Đối với các giao dịch dân sự mà pháp luật quy định phải có sự ưng thuận của
vợ chồng thì việc ưng thuận của người chồng phải được thể hiện bằng văn
22
Luận văn thạc sĩ Luật học Nguyễn Thị Hoà
bản và có chữ ký của người chồng, còn sự ưng thuận của người vợ không cần
phải thể hiện bằng văn bản. Như vậy, trong thời kỳ Pháp thuộc, các quy định
của pháp luật về chế định tài sản của vợ chồng rất bất công đối với người vợ,
đặc biệt ở Nam Kỳ khi pháp luật không quy định quyền sở hữu tài sản của
người vợ.
Chương 2
XÁC ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ THEO
PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
2.1. XÁC ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
TRONG TRUỜNG HỢP VỢ CHỒNG THAM GIA VÀO THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN:
2.1.1. Vài nét về thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay:
Thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu hoạt động kể từ năm 2000,
khi đó thị trường chỉ được giao dịch tại Trung tâm giao dịch chứng khoán
Thành phố Hồ Chí Minh, biểu thị của thị trường là chỉ số VNIndex. Khi trung
tâm giao dịch mở phiên đầu tiên chỉ có hai cổ phiếu REE và SAM được niêm
yết. Bước sang năm 2006, số lượng công ty niêm yết tăng lên nhanh chóng,
đặc biệt là cuối năm 2006 (khi Việt Nam gia nhập WTO) thị trường thực sự
bùng nổ. Cho đến nay thị trường chứng khoán Việt Nam đã phát huy vai trò
quan trọng. Đối với các công ty, thị trường chứng khoán được xem là nơi huy
động vốn hiệu quả nhất. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi mà nền kinh tế
luôn có tốc độ tăng trưởng và phát triển cao thì nhu cầu về vốn dài hạn dành
cho đầu tư và phát triển rất lớn. Trong khi nguồn lực của các tổ chức tín dụng
hiện tại hầu như không đáp ứng kịp thì sự ra đời của thị trường chứng khoán
như là một cứu cánh cho các công ty trong việc đáp ứng nhu cầu huy động
vốn dài hạn. Thị trường chứng khoán vừa huy động được nguồn vốn nhàn dỗi
trong dân, vừa tạo ra được các cơ hội đầu tư cho các cá nhân, tổ chức trong và
ngoài nước. Tuy một số ngành nghề có ý nghĩa quan trọng đối với kinh tế
quốc gia chưa được công khai niêm yết hoặc niêm yết hạn chế như hàng
không, bưu chính… nhưng với những công ty đã niêm yết trên thị trường hiện
25