đăng ký giao dịch bảo đảm và thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm trong pháp luật việt nam - Pdf 21

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Một trong những vấn đề chủ yếu đặt ra đối với tất cả các hệ thống đăng ký
GDBĐ trên thế giới là pháp luật phải quy định chính xác, toàn diện và triệt để thứ
tự ưu tiên thanh toán giữa các chủ thể có quyền, lợi ích liên quan đến tài sản bảo
đảm vì sự rõ ràng, chính xác và công bằng về lợi ích giữa các chủ thể (bao gồm cả
Nhà nước) có ý nghĩa quan trọng, góp phần đảm bảo tính an toàn pháp lý cho các
giao dịch. Có như vậy, mới tạo điều kiện cho bên có quyền khắc phục những thiệt
hại một cách nhanh chóng và hiệu quả khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình. Và như thế, pháp luật về đăng ký GDBĐ
mới thực sự đi vào cuộc sống, làm lành mạnh hoá thị trường tài chính, tín dụng,
khuyến khích sự lưu thông nguồn vốn trong xã hội, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát
triển.
Thực tiễn xét xử tại Việt Nam trong thời gian gần đây cho thấy, các tranh
chấp về thứ tự ưu tiên thanh toán giữa những người cùng nhận bảo đảm bằng một
tài sản hoặc giữa những người có quyền, lợi ích liên quan đến tài sản bảo đảm phát
sinh ngày càng nhiều nhưng các cơ quan có thẩm quyền chưa hiểu hết những quy
định của pháp luật có liên quan khi giải quyết vụ việc hoặc trên thực tế chưa có đầy
đủ các quy định để giải quyết những tranh chấp này một cách “thấu tình, đạt lý”.
Đơn cử là Bản án sơ thẩm số 05/2010/KDTM-ST ngày 9/7/2010 của Toà án nhân
dân tỉnh Phú Yên đã không căn cứ vào thời điểm đăng ký GDBĐ để xác định thứ tự
ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm là máy móc thiết bị thuộc sở hữu của
Công ty trách nhiệm hữu hạn Phương Lan cùng được Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Bình Định và Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Phú Yên nhận thế chấp ( và đều
được đăng ký GDBĐ tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại TP. Đà Nẵng) mà
lại căn cứ vào việc “cầm, nắm giữ cơ sở pháp lý gốc của tài sản”[36].
Tại Việt Nam, hệ thống đăng ký GDBĐ được hình thành và đi vào hoạt
động từ năm 2001 đến nay đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế nhất định. Pháp luật
hiện hành còn thiếu thống nhất trong các quy định về căn cứ xác định thứ tự ưu tiên
giữa những người có quyền đối với động sản.
Về nguyên tắc trong pháp luật dân sự, quyền, nghĩa vụ dân sự được

vấn pháp luật, công chứng, thẩm định, đấu giá, đăng ký giao dịch ” [2].
Do vậy, để khắc phục những bất cập nêu trên, học viên đã thực hiện đề tài:
“Đăng ký giao dịch bảo đảm và thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo
đảm trong pháp luật Việt Nam” nhằm làm rõ những quy định của pháp luật Việt
Nam về đăng ký GDBĐ và việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi cơ quan có
thẩm quyền tiến hành xử lý tài sản bảo đảm để tìm ra những bất cập, hạn chế, từ đó
đề xuất những giải pháp để hoàn thiện những quy định của pháp luật trong lĩnh vực
này, hướng tới xây dựng một hệ thống đăng ký GDBĐ công khai, minh bạch, thân
thiện và hiệu quả.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta, đến thời điểm hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu chuyên
sâu nào về xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm, tuy nhiên,
có một số công trình nghiên cứu liên quan đến đăng ký GDBĐ như sau:
- Công trình nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, với tên đề tài là: "Đăng ký và
cung cấp thông tin về GDBĐ của Việt Nam - Thực trạng và giải pháp" của Cục
Đăng ký quốc gia GDBĐ - Bộ Tư pháp thực hiện năm 2002 nghiên cứu về thực
trạng đăng ký, cung cấp thông tin về GDBĐ của Việt Nam. Đây là một công trình
nghiên cứu có chất lượng, với sự tham gia của các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh
vực đăng ký GDBĐ của Bộ Tư pháp. Song, công trình này chưa đi sâu nghiên cứu
về thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam trong việc xác định thứ tự ưu
tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm.
- “Pháp luật Việt Nam về đăng ký GDBĐ ” – luận văn thạc sĩ luật học của Hồ
Quang Huy năm 2008 (Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa Luật). Đây là một công trình
nghiên cứu toàn diện pháp luật Việt Nam về đăng ký GDBĐ, tuy nhiên trong khuôn
khổ của một luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ nghiên cứu một cách tổng quát những quy
định của pháp luật tại thời điểm nghiên cứu (năm 2008 trở về trước). Cho đến nay,
các quy định của pháp luật về đăng ký GDBĐ đã có sự thay đổi (Nghị định số
83/2010/NĐ-CP về đăng ký GDBĐ mới được ban hành ngày 23/7/2010). Hơn nữa,
luận văn cũng chưa đi sâu nghiên cứu vấn đề lý luận cũng như thực tiễn của việc
xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm trong pháp luật Việt

nin.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, so sánh, tổng hợp cũng sẽ
được sử dụng ở mức độ phù hợp để hoàn thành mục tiêu của đề tài.
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích làm rõ cơ sở khoa học, lý luận và thực
tiễn của chế định đăng ký GDBĐ và thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo
đảm trong pháp luật Việt Nam dựa trên quan điểm xây dựng và hoàn thiện hệ thống
đăng ký GDBĐ của nước ta trong thời gian tới.
Với mục đích nêu trên, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài được xác định là:
Thứ nhất, hệ thống hóa các lý luận cơ bản về đăng ký GDBĐ và thứ tự ưu tiên
thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm để có căn cứ xem xét, đánh giá thực trạng pháp
luật.
Thứ hai, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về đăng ký GDBĐ
và thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm nhằm làm rõ những nhược
điểm và hạn chế của pháp luật.
Thứ ba, kiến nghị phương hướng và giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện các quy
định của pháp luật về đăng ký GDBĐ và thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản
bảo đảm.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Luận văn là công trình khoa học tập trung nghiên cứu chuyên sâu về đăng
ký GDBĐ và thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm. Đây chính là đóng
góp lớn nhất của luận văn.
Những vấn đề cụ thể về lý luận, cách nhìn nhận, đánh giá luật thực định và
thực tiễn, từ đó đưa ra hướng hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này sẽ là những
đóng góp có giá trị đối với công tác nghiên cứu khoa học, công tác lập pháp và áp
dụng pháp luật.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu gồm ba chương với nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về đăng ký giao dịch bảo đảm

Ở các nước theo trường phái pháp luật thành văn (civil law), tiêu biểu là
Pháp, Đức, Nhật Bản, không có khái niệm GDBĐ như nêu trên, mà GDBĐ được
hiểu là các biện pháp bảo đảm cụ thể như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh. Các quy định
này tập trung chủ yếu trong BLDS và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Thuật ngữ “GDBĐ" tồn tại trong hệ thống pháp luật của một số quốc gia như
Hoa Kỳ, New Zealand và đa số các bang của Canada. Trong đó, có sự phân biệt rõ
ràng giữa các GDBĐ bằng động sản và GDBĐ bằng BĐS. Tại Hoa Kỳ, các quy
định về GDBĐ bằng động sản tập trung vào Điều 9 của UCC (Uniform Commercial
Code - Bộ luật Thương mại thống nhất), được xem như một đạo luật riêng về
GDBĐ liên quan đến động sản. Bên cạnh đó là Đạo luật thống nhất về lợi ích bảo
đảm đối với đất đai và Đạo luật thống nhất về giao dịch đối với đất đai quy định về
các GDBĐ bằng BĐS. Bang New Brunswick của Canada có Luật về bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ bằng động sản và Luật về lợi ích bảo đảm liên quan đến đất đai. New
Zealand cũng xây dựng Đạo luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng động sản
(Personal Property Security Act).
Ở Hoa Kỳ, New Zealand, một số bang của Canada, khái niệm GDBĐ không
bao gồm các quan hệ bảo đảm đối nhân mà chỉ áp dụng đối với các quan hệ nhận
bảo đảm bằng tài sản (bảo đảm mang tính đối vật theo sự phân loại của hệ thống
pháp luật dân sự). Trong hệ thống pháp luật của các quốc gia nêu trên, quan hệ bảo
đảm mang tính đối nhân được coi là sự ghép nối giữa hai lợi ích bảo đảm (secured
interest): lợi ích bảo đảm giữa chủ nợ với con nợ và lợi ích bảo đảm giữa con nợ với
bên bảo lãnh cho con nợ. Vì vậy, pháp luật sẽ điều chỉnh quan hệ bảo đảm mang
tính đối nhân theo từng lợi ích bảo đảm.
Ngoài ra, khái niệm GDBĐ tại các quốc gia theo hệ thống common law như
Hoa Kỳ, New Zealand và một số bang của Canada thường không được sử dụng khi
đề cập đến các quan hệ nhận bảo đảm bằng BĐS. Đối với BĐS, việc nhận bảo đảm
luôn được áp dụng biện pháp thế chấp.
Tại Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm giao dịch được ghi nhận tại Điều 130
BLDS 1995. Tất cả những thoả thuận của hai hay nhiều bên nhằm làm phát sinh,
thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ tài sản đều là giao dịch. Tuy nhiên, trong BLDS

các căn cứ pháp lý khác như trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Từ những phân tích trên có thể khái quát về giao dịch bảo đảm như sau:
Giao dịch bảo đảm là sự thoả thuận giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm,
theo đó bên bảo đảm phải dùng tài sản của mình để bảo đảm cho việc thực hiện
nghĩa vụ (tài sản này được gọi là tài sản bảo đảm). Trường hợp bên có nghĩa vụ
trong quan hệ chính không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thỏa thuận, thì bên
có quyền sẽ được xử lý tài sản bảo đảm để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ.
1.1.1.2. Đặc điểm của giao dịch bảo đảm
- Giao dịch bảo đảm là một hợp đồng phụ bảo đảm cho các nghĩa vụ
chính nhưng hiệu lực không phụ thuộc vào nghĩa vụ chính (hợp đồng chính)
Thông thường các bên tham gia một quan hệ nghĩa vụ, bên có nghĩa vụ
sẽ tự giác thực hiện nghĩa vụ của mình đáp ứng yêu cầu của bên có quyền. Tuy
nhiên, trong các quan hệ hợp đồng, những người tham gia không quen biết nhau
hoặc có mối quan hệ làm ăn lâu năm với nhau và trong kinh doanh có nhiều rủi ro
mà bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ nên sẽ gây thiệt hại cho bên
có quyền. Vì thế, để phòng ngừa bên có nghĩa vụ trong trường hợp không thực hiện
được nghĩa vụ do nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan, bên có quyền yêu cầu
bên có nghĩa vụ phải dùng một biện pháp phù hợp để bảo đảm lợi ích của bên có
quyền, cho nên các bên sẽ giao kết một hợp đồng thứ hai để bảo đảm cho nghĩa vụ
chính được thực hiện.
Trước đây trong BLDS 1995, qui định các GDBĐ là hợp đồng phụ, vì
vậy hiệu lực của hợp đồng phụ phụ thuộc vào hợp đồng chính. Khoản 4 Điều 405
BLDS 1995 qui định: “ Hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực phụ thuộc hợp
đồng chính”. Qui định này phù hợp với lý luận chung, bởi lẽ nếu không có nghĩa vụ
chính như hợp đồng mua bán, cho vay thì sẽ không có biện pháp đặt cọc và thế
chấp ; đây là một mối liên hệ biện chứng thể hiện cái phụ phụ thuộc vào cái chính
và ngược lại cái chính tồn tại độc lập. Tuy nhiên, trong cơ chế thị trường có những
cá nhân, doanh nghiệp làm ăn mang tính “chụp giật” lừa đảo đối tác dẫn đến gây
thiệt thại cho người ngay tình, vì vậy BLDS 2005 qui định chế tài nghiêm khắc đối
với những cá nhân, tổ chức vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho người khác. Tại

thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm.
Thứ ba, bên bảo đảm được thực thi các quyền của mình đối với tài sản
bảo đảm khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
- Hợp đồng bảo đảm đã có hiệu lực pháp luật;
- Bên bảo đảm đã có quyền sở hữu đối với tài sản bảo đảm;
- Nghĩa vụ được bảo đảm đã xác lập và chưa chấm dứt.
Như vậy, pháp luật qui định cho bên nhận bảo đảm luôn có quyền áp
dụng những biện pháp cần thiết để bảo đảm quyền của mình khi bị vi phạm. Vì đối
tượng của nghĩa vụ là tài sản hoặc một công việc và khi vi phạm nghĩa vụ thực hiện
công việc hoặc không thực hiện công việc sẽ gây thiệt hại bằng tiền, nên đối tượng
của nghĩa vụ luôn thể hiện trị giá bằng một số tiền.
1.1.1.3. Phân loại giao dịch bảo đảm
Để phân loại giao dịch thì có nhiều tiêu chí, như dựa vào đối tượng, chủ thể,
hình thức, thời điểm có hiệu lực Tuy nhiên, mỗi cách phân loại có một ý nghĩa
nhất định. Đối với các GDBĐ, việc phân loại có ý nghĩa trong xác định thứ tự ưu
tiên khi xử lý tài sản bảo đảm. Vì thế luận văn dựa vào đối tượng và tính chất bảo
đảm để phân loại GDBĐ.
+ Căn cứ vào vào đối tượng: Các giao dịch bảo đảm đối vật và đối nhân
- Các giao dịch bảo đảm đối vật được hiểu là quyền được xác lập trực tiếp
trên một vật cụ thể nhằm bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Nó có
đối tượng là tài sản của người có nghĩa vụ hoặc của người thứ ba và người có quyền
được yêu cầu xử lý tài sản đó theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận để
thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm. Trong số các biện pháp bảo đảm đối vật, cầm cố,
thế chấp là hai biện pháp chủ yếu thường áp dụng trong các quan hệ cho vay của
các tổ chức tín dụng và của cá nhân, hộ gia đình
- Các giao dịch bảo đảm đối nhân được hiểu là người thứ ba cam kết với
người có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ thay cho người có nghĩa vụ khi đến hạn
mà người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ hoặc có thực hiện nghĩa vụ, nhưng
không đúng thỏa thuận. Biện pháp bảo đảm đối nhân có tính chất tiêu biểu là bảo
lãnh. Khác với biện pháp bảo đảm đối vật, tài sản bảo đảm trong biện pháp bảo đảm

GDBĐ là điều kiện có hiệu lực của giao dịch. Nếu GDBĐ không đăng ký theo qui
định thì không có hiệu lực, cho nên không có giá trị bảo đảm.
- Giao dịch bảo đảm đăng ký tự nguyện
Ngoài GDBĐ bắt buộc đăng ký, pháp luật qui định tự nguyện theo yêu cầu
của các bên. Việc đăng ký nhằm mục đích công khai hoá các quyền của bên nhận
bảo đảm, trên cơ sở đó những người liên quan biết về những hạn chế quyền của chủ
sở hữu tài sản sẽ không tham gia giao dịch liên quan đến tài sản bảo đảm, hạn chế
rủi ro xảy ra cho các bên. Trường hợp có tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm
thì quyền lợi của bên nhận bảo đảm sẽ được pháp luật bảo hộ.
1.2. KHÁI NIỆM ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm, mục đích, ý nghĩa của đăng ký giao dịch bảo
đảm
1.2.1.1. Khái niệm
Đăng ký GDBĐ là một trong những cơ chế điều tiết việc bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ, với mục tiêu công bố công khai quyền của bên nhận bảo đảm đối với tài
sản bảo đảm. Qua đó, các cá nhân, tổ chức có nguồn thông tin để tìm hiểu trước khi
xem xét, quyết định giao kết hợp đồng, cho vay vốn. Với vai trò bảo vệ nhà đầu tư,
tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn trong hoạt động tín dụng, thương mại,
đăng ký GDBĐ còn làm căn cứ để xác định chính xác thứ tự ưu tiên thanh toán khi
xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp một tài sản được bảo đảm để thực hiện cho
nhiều nghĩa vụ theo thứ tự thời gian công khai hóa, nó tồn tại như một yếu tố tự
nhiên trong nền kinh tế thị trường.
Tại Việt Nam, xuất phát từ thực tiễn kinh tế - xã hội trong hơn hai thập kỷ vừa
qua, vấn đề xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về đăng ký GDBĐ đã và đang
được thực hiện có ý nghĩa quan trọng góp phần tạo lập đồng bộ các yếu tố thị
trường, thực hiện những cải cách về chính sách và thể chế nhằm phát huy tối đa mọi
nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Mặc dù đã có những phát triển đáng kể trong vài năm trở lại đây, song cho đến
thời điểm hiện nay, trong khoa học pháp lý Việt Nam vẫn chưa có một khái niệm

chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo đảm đối với tài
sản bảo đảm và là căn cứ để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản
bảo đảm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
1.2.1.2. Đặc điểm của đăng ký giao dịch bảo đảm
- Đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện theo một trình tự, thủ tục do
pháp luật qui định
Trình tự, thủ tục về đăng ký GDBĐ bằng động sản và BĐS là khác nhau theo
quy định của pháp luật, tuy nhiên, mục tiêu chung của việc đăng ký, đó là công khai
hóa quyền của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm của con nợ. Đăng ký
GDBĐ không ghi nhận toàn bộ nội dung của GDBĐ mà chỉ ghi nhận những thông
tin để làm rõ ai là bên có quyền, ai là bên có nghĩa vụ và tài sản bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ là gì.
Ngoài ra, đăng ký GDBĐ còn là một trong những cách thức làm phát sinh hiệu
lực pháp lý đối với người thứ ba.
Ở phần lớn các nước có pháp luật về GDBĐ hiện đại, một quyền lợi bảo đảm
có giá trị và có thể thực thi không gắn kèm theo nó vị thế ưu tiên nào đối với các
bên thứ ba trừ phi nó được “hoàn thiện” (perfect) bằng một trong hai cách: đăng
ký thông báo tại cơ quan đăng ký GDBĐ, hoặc trực tiếp chiếm hữu, kiểm soát
tài sản bảo đảm [41, tr. 11].
Việc hoàn thiện lợi ích bảo đảm (perfection of security interest) được hiểu là
việc công bố công khai sự tồn tại của lợi ích bảo đảm cho người thứ ba được
biết. Việc hoàn thiện lợi ích bảo đảm cũng là căn cứ để xác định thứ tự ưu tiên
của lợi ích bảo đảm so với các quyền, lợi ích khác liên quan đến tài sản bảo
đảm. Trong trường hợp có hai hay nhiều lợi ích bảo đảm liên quan đến tài sản
bảo đảm, thì lợi ích bảo đảm nào được hoàn thiện trước sẽ được ưu tiên thực
hiện [31, tr 19 ].
Như vậy, theo thông lệ quốc tế, để phát sinh hiệu lực pháp lý với người thứ ba,
bên nhận bảo đảm có thể thông qua cơ chế chiếm hữu, kiểm soát trực tiếp tài sản
bảo đảm hoặc đăng ký GDBĐ. Chính việc trực tiếp chiếm hữu, kiểm soát tài sản
bảo đảm đã giúp bên nhận bảo đảm công khai hóa quyền lợi bảo đảm với người thứ

biển- Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản thuộc Cục Đăng ký quốc gia GDBĐ.
- Đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện một cách bắt buộc hoặc tự
nguyện tùy theo quy định của pháp luật
Trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia đều quy định những trường hợp bắt
buộc phải đăng ký GDBĐ hoặc đăng ký theo yêu cầu tự nguyện của một trong các
bên tham gia giao dịch (ví dụ: Hàn Quốc, Pháp, Trung Quốc, Nga quy định đăng ký
thế chấp bất động sản là nghĩa vụ bắt buộc, Đức, Mỹ, New Zealand, Canada quy
định đăng ký thế chấp bất động sản không phải là nghĩa vụ bắt buộc, mà do các bên
tự nguyện) [31, tr. 5].
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì các trường hợp phải đăng
ký GDBĐ bao gồm: thế chấp quyền sử dụng đất, thế chấp quyền sử dụng rừng,
quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, thế chấp tàu bay, tàu biển. Đối với các
GDBĐ không thuộc các trường hợp nêu trên, thì việc đăng ký được thực hiện theo
yêu cầu của tổ chức, cá nhân.
1.2.1.3. Mục đích của đăng ký giao dịch bảo đảm
- Đăng ký giao dịch bảo đảm nhằm công khai hoá các thông tin về tài sản
bảo đảm, thông tin về hạn chế các quyền của bên bảo đảm
Thông tin về các GDBĐ cũng như quyền của bên nhận bảo đảm đối với tài
sản của con nợ (tài sản bảo đảm) được công khai hoá cho mọi cá nhân, tổ chức có
nhu cầu tìm hiểu, qua đó giúp họ có các thông tin chính xác, tin cậy trước khi quyết
định xác lập các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại, đặc biệt quan trọng đối với
hoạt động đầu tư vốn trong và ngoài nước để phát triển sản xuất, kinh doanh.
Thông tin về GDBĐ đã đăng ký được cung cấp cho mọi tổ chức, cá nhân có nhu
cầu tìm hiểu và đây cũng là chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của bên
nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm và là căn cứ để xác định thứ tự ưu tiên thanh
toán khi xử lý tài sản bảo đảm.
Quan niệm về công khai thông tin là cốt lõi của bất cứ hệ thống GDBĐ hiện đại
nào trên thế giới, bởi vì giá trị của nó là ở chỗ nó giúp cho các chủ nợ đánh giá và
phòng ngừa rủi ro. Nó cho biết về sự tồn tại hoặc tiềm năng hiện hữu của các quyền
đối với tài sản đang được quan tâm, mà người cần biết ở đây chính là người có ý

với nhau, không kể giao dịch bảo đảm đó được xác lập ở thời điểm nào.
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong giao dịch bảo đảm
Để bảo vệ và phát huy được những quyền của các bên tham gia giao dịch bảo
đảm đối với tài sản bảo đảm thì việc dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
không được ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của bên bảo
đảm. Như vậy là, bên bảo đảm vẫn giữ tài sản bảo đảm và tiếp tục khai thác, sử dụng
tài sản nhằm phục vụ mục đích sản xuất, kinh doanh của mình. Điều này có ý nghĩa vô
cùng quan trọng trong hoạt động phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, vì thương
gia buộc phải có hàng trong tay thì mới có thể giới thiệu, tiếp thị hàng được, nhà thầu
phải sử dụng thiết bị hiện có mới có thể thực hiện hợp đồng và người nông dân phải
có máy móc để gieo trồng và thu hoạch mùa màng Thông qua cơ chế đăng ký
giao dịch bảo đảm, bên bảo đảm vừa đạt được mục đích dùng tài sản để bảo đảm
việc thực hiện nghĩa vụ, vừa duy trì được hoạt động sản xuất - kinh doanh của
mình. Chính nguồn lợi thu được từ việc khai thác tài sản bảo đảm sẽ giúp bên nhận
bảo đảm từng bước thu hồi vốn, tái đầu tư và thanh toán được nợ cho bên nhận bảo
đảm. Do vậy, nếu phải giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm hoặc người thứ
ba giữ, thì mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh của bên bảo đảm bị ngưng trệ. Điều
này đi ngược lại với mục đích của giao dịch bảo đảm hiện đại, đó là vừa giúp các
giao dịch được an toàn, bảo vệ được quyền lợi của bên nhận bảo đảm, vừa giúp bên
bảo đảm khai thác được công dụng của tài sản bảo đảm, thúc đẩy kinh tế - xã hội
phát triển.
- Góp phần thúc đẩy thị trường tài chính, tín dụng phát triển nhanh và bền
vững
Thực tế phát triển kinh tế - xã hội của các nước phát triển trên thế giới đã chứng
minh rằng hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm đóng vai trò quan trọng đối với sự
phát triển của thị trường tài chính, tín dụng. Khi giao dịch bảo đảm được đăng ký
chính xác, thuận lợi với chi phí đăng ký hợp lý thì chi phí giao dịch (gồm chi phí về
thời gian, công sức, tiền của ) trong xã hội sẽ ở mức thấp, nhờ đó, tính cạnh tranh
của nền kinh tế sẽ tăng cao. Mặt khác, nếu giao dịch bảo đảm được đăng ký và công
khai hoá, thì sẽ hạn chế được những tranh chấp phát sinh trong cuộc sống do các tổ

bảo đảm. Như vậy, đăng ký giao dịch bảo đảm là một cơ chế hữu hiệu góp phần làm
cho thị trường BĐS được công khai, minh bạch, bảo đảm cho người mua BĐS tránh
được việc mua phải những BĐS đang được thế chấp để vay vốn, từ đó, thúc đẩy thị
trường BĐS phát triển nhanh, an toàn và bền vững, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát
triển.
1.2.2. Nguyên tắc đăng ký giao dịch bảo đảm
- Nguyên tắc đăng ký thông báo
Theo nguyên tắc đăng ký này, thì việc đăng ký được thực hiện trên cơ sở
Đơn yêu cầu đăng ký, không kèm theo giấy tờ chứng minh quyền lợi bảo đảm và
chứng minh cho các nội dung được kê khai trong đơn. Nhiệm vụ của Cơ quan đăng
ký là đăng ký đúng, đủ các nội dung được kê khai trong đơn yêu cầu đăng ký. Tiêu
biểu cho nguyên tắc này là mô hình đăng ký thông báo của Mỹ và Canada. Hệ
thống đăng ký thông báo có lợi thế cơ bản đó là: đơn giản hóa thủ tục, hồ sơ đăng
ký; việc thiết lập đăng ký nhanh chóng, tiết kiệm chi phí cho các bên tham gia giao
dịch; bộ máy cơ quan đăng ký cũng như hệ thống lưu trữ thông tin, tài liệu đăng ký
gọn nhẹ. Đối với Việt Nam đăng ký GDBĐ tự nguyện theo nguyên tắc thông báo.
- Nguyên tắc đăng ký xác minh (hay còn gọi là đăng ký kèm theo giấy tờ
chứng minh quyền lợi bảo đảm)
Với nguyên tắc đăng ký xác minh, thì việc đăng ký được thực hiện trên cơ
sở Đơn yêu cầu đăng ký và tùy từng trường hợp cụ thể còn kèm theo một số loại
giấy tờ như: giấy tờ sở hữu, hồ sơ kỹ thuật, hợp đồng cầm cố, thế chấp. Quy trình
đăng ký theo nguyên tắc này đòi hỏi sự kiểm tra của cán bộ đăng ký đối với các hồ
sơ đăng ký. Lợi thế khi áp dụng nguyên tắc đăng ký xác minh là các thông tin có
tính xác thực cao, đáng tin cậy. Tuy nhiên, hạn chế của nó đã được nhiều công trình
nghiên cứu chỉ rõ: tốn kém thời gian, chi phí liên quan đến việc đăng ký, bộ máy cơ
quan đăng ký cồng kềnh.
Việc áp dụng nguyên tắc đăng ký nào thường mang tính lịch sử và phụ thuộc
vào chính sách lập pháp của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, có một điểm chung là nhiều
nước áp dụng nguyên tắc đăng ký xác minh đối với đăng ký các GDBĐ bằng BĐS
và chỉ trong một số trường hợp đối với động sản như tàu bay, tàu biển…Nguyên tắc

cho thấy việc đăng ký GDBĐ có thể làm phát sinh một trong hai loại hiệu lực sau
đây của GDBĐ.
- Thứ nhất, đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực
Tại các quốc gia theo hệ thống civil law, hình thức của GDBĐ đối với động
sản phổ biến là cầm cố (chuyển giao tài sản). Do đó, không đặt ra vấn đề đăng ký
GDBĐ đối với động sản, bởi bản thân việc chuyển giao đã xác lập hiệu lực đối
kháng với bên thứ ba. Việc đăng ký GDBĐ chỉ đặt ra đối với việc thế chấp BĐS.
Hiệu lực của việc đăng ký GDBĐ bằng BĐS tại các quốc gia thuộc hệ thống
này không giống nhau. Theo pháp luật của Pháp và Nhật Bản thì việc đăng ký làm
phát sinh hiệu lực đối với bên thứ ba, còn theo pháp luật của Đức thì việc đăng ký là
điều kiện xác lập quyền. Về nghĩa vụ đăng ký thì pháp luật của Pháp quy định bắt
buộc phải đăng ký còn pháp luật của Đức và Nhật Bản lại quy định không bắt buộc
phải đăng ký.
- Thứ hai, đăng ký là điều kiện để vật quyền hay giao dịch bảo đảm có
hiệu lực đối kháng đối với người thứ ba
Đối với biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ liên quan đến BĐS, phương
thức để GDBĐ có hiệu lực đối kháng với người thứ ba là thực hiện đăng ký GDBĐ
tại cơ quan đăng ký có thẩm quyền. Điều 2134 BLDS Pháp quy định: “Giữa những
người có quyền, việc thế chấp, dù là thế chấp theo luật định, theo bản án hay theo
thỏa thuận chỉ được xếp thứ tự căn cứ vào ngày tháng người có quyền tiến hành
đăng ký tại cơ quan đăng ký GDBĐ theo thể thức do pháp luật quy định. Nếu nhiều
đăng ký thế chấp được thực hiện cùng một ngày đối với một BĐS, thì căn cứ vào
ngày tháng của chứng thư đăng ký, đăng ký thế chấp nào sớm hơn sẽ được xếp ở
hàng trước dù thứ tự trong sổ đăng ký quy định tại Điều 2200 như thế nào”.
Tại các quốc gia như Mỹ, New Zealand, Canada …, bên cạnh việc đăng ký
thế chấp BĐS còn tồn tại việc đăng ký GDBĐ bằng động sản. Việc đăng ký GDBĐ

Trích đoạn Một số mâu thuẫn khác trong các quy định của pháp luật Pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm phải phù hợp với pháp luật Việt Nam và phải gắn với mục tiêu cải cách hành chính, cải cách tư pháp Giải pháp trong thời gian trước mắt Giải pháp lâu dà
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status