Câu hỏi:
Câu 1: phân tích các hệ quả pháp lý về mặt tài sản (trách nhiệm trả nợ
của các Doanh nghiệp, Hợp tác xã sau quyết định tuyên bố phá sản)?
Câu 2: phân tích trình tự ưu tiên thanh toán trong thủ tục thanh lý?
Hậu quả pháp lý khi tòa án có các quyết định sau:
Mở thủ tục phá sản: Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều 28 luật phá
sản thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản thì tòa án phải quyết định mở thủ tục phá sản khi có săn cứ chứng minh
rằng doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Hậu quả của
quyết định này là: Mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã
vẫn được tiến hành bình thường, tuy nhiên phải chịu sự giám sát, kiểm tra
của thẩm phán và tổ quản lý, thanh lý tài sản. Nếu xét thấy người quản lý
của doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng điều hành hoặc nếu tiếp tục
điều hành sẽ không có lợi cho việc bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp
tác xã thì theo đề nghị của hội đồng chủ nợ, thẩm phán ra quyết định cử
người khác quản lý và điều hành hoạt hợp động của doanh nghiệp, hợp tác
xã(điều 30-luật phá sản). điều này có nghĩa rằng mặc dù doanh nghiệp, hợp
tác xã đang lâm vào tình trạng phá sản nhưng pháp luật vẫn có những quy
định nhằm ổn định sự tồn tại của doanh nghiệp, hợp tác xã này, mặc dù điều
này rất mong manh. Thứ hai với sự kiểm tra giám sát của tổ chức cá nhân
thực hiện nhiệm vụ công quyền nhà nước muốn dự liệu khả năng tẩu tán tài
sản của doanh nghiệp hợp tác xã khi có quyết định mở thủ tục phá sản. Nói
chung doanh nghiệp hợp tác xã khi bị tuyên bố mở thủ tục phá sản cơ hội
duy trì sự ổn định và phát triển là rất khó và mong manh vì đối tác sẽ rất
thận trọng hoặc không dại gì lại hợp tác với một doanh nghiệp săp bị tuyên
bố phá sản. Mọi giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã này đều bị hạn chế
tới mức tối thiểu và hầu hết đều phải có sự đồng ý bằng văn bản của thẩm
phán phụ trách giám sát như cầm cố, thế chấp, vay tiền, chuyển đổi cổ phần
hoặc quyền sở hữu…(điều 31).
Áp dụng thủ tục phục hồi: Theo quy định tại điều 68 luật phá sản thì
thủ tục phục hồi được áp dụng khi hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua
điều lệ của công ty quy định hay nghị quyết của đại hội cổ đông, hoặc cổ
đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên liên tục
trong 6 tháng, thành viên hợp danh của công ty hợp danh mà người có nghĩa
vụ tham gia hội nghị chủ nợ không tham gia mà không có lý do chính đáng.
Nếu người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản rút đơn yêu cầu(trừ trường
hợp có nhiều người nộp đơn mà chỉ có một số người rút đơn thì tòa án vẫn
tiến hành thủ tục phá sản). Hậu quả pháp lý: khi đình chỉ thủ tục phá sản thì
thẩm phán có thể ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản. Quy định này
nhằm bắt buộc các chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có trách
nhiệm trong quyết định của mình. Nếu các chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản mà không đến tham dự hội nghị chủ nợ mà không có
lý do chính đáng còn phải chịu chế tài xử phạt hành chính theo quy định tại
điều 93 luật phá sản và điều 19 nghị định 10/2009NĐ-CP.
Đình chỉ thủ tục phục hồi: Thủ tục phục hồi bị đình chỉ khi doanh
nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện xong phương án phục hồi hoạt động kinh
doanh hoặc được quá nửa số phiếu của các chủ nợ không có bảo đảm đại
diện cho từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên chưa thanh
toán đồng ý đình chỉ(điều 76). Hậu quả của việc đình chỉ thủ tục phục hồi là
doanh nghiệp, hợp tác xã coi như không còn lâm vào tình trạng phá sản. Đối
với việc thi hành án dân sự hoặc việc giải quyết vụ án bị đình chỉ kể từ ngày
tòa án tuyên bố mở thủ tục phá sản chưa được thi hành hoặc chưa được giải
quyết thì ngay sau khi ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản việc thi hành
án dân sự hoặc giải quyết vụ án được tiếp tục. Tòa án ra quyết định đình chỉ
thủ tục phục hồi phải gửi trả lại hồ sơ vụ án cho tòa án có thẩm quyền để
giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Quy định này cho phép cơ
quan có thẩm quyền có thể ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi khi thấy
phương án phục hồi của doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện thành công
và khả năng thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp hợp tác xã đó có thể
thực hiện được thêm vào đó cũng quy định khi có trên một nửa số phiếu của
những thủ tục mang tính hình thức. Hậu quả của thủ tục tuyên bố phá sản là
quyết định chấm dứt sự tồn tại về mặt pháp lý của doanh nghiệp, hợp tác xã
này. Tòa án phải gửi quyết định cho cơ quan đăng kí kinh doanh để xóa tên
doanh nghiệp, hợp tác xã khỏi sổ đăng kí kinh doanh. Quyết định tuyên bố
phá sản là căn cứ chấm dứt mọi quan hệ thanh toán nợ đã được thanh toán
hay chưa? doanh nghiệp, hợp tác xã được giải phóng khỏi nghĩa vụ trả nợ.
Đối với doanh nghiệp là công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân thì không
miễn trừ nghĩa vụ tài sản đối với chủ doanh nghiệp tư nhân và các thành
viên hợp danh, trừ có các thỏa thuận khác. Đối với những người tại doanh
nghiệp hợp tác xã có thể sẽ phải chịu những chế tài như cấm đảm nhận chức
danh quản lý tương tự như các doanh nghiệp khác theo quy định của điều 94
luật phá sản.