Đo vẽ bản đồ địa chất tại khu vực thành phố Lạng Sơn - Pdf 21

Báo cáo thực tập địa chất cấu tạo
CHƯƠNG I
Lời mở đầu
Địa chất là môn khoa học chuyên nghiên cứu về trái đất, các vật liệu hình
thành trái đất, cấu trúc của những vật liệu đó và các quá trình hoạt động của
chúng, nó bao gồm các nghiên cứu về nguồn gốc sinh vật trên trái đất, địa chất
học là môn nghiên cứu về thành phần, nguồn gốc của quá trình, cấu trúc của
trái đất thay đổi theo thời gian. Để không ngừng củng cố thêm kiến thức đá
được học là làm quen với công việc địa chất sau này.
Nhằm mục đích đào tạo chuyên môn Địa chất cho sinh viên. Theo quyết định
số: 3968/QD.MĐC - ĐH. SDH của Bộ GD&ĐT Trường Đại học Mỏ Địa chất: ngày
14/11/2007 đã cho phép sinh viên lớp Địa Chất B - K50 đi thực tập môn học Địa
chất cấu tạo và đo vẽ bản đồ Địa chất tại khu vực thành phố Lạng Sơn từ ngày
31/12/2007 đến ngày 16/02/2008.
Thị xã Lạng Sơn là một vùng thực tập rất điển hình và đa dạng cho sinh viên địa
chất, đặc biệt là sv ngành địa chất TKTDKS đi thực tập. Với cấu trúc địa chất
phong phú, các hiện tượng địa chất nội ngoại sinh rất rõ ràng, nên đi Lạng Sơn
là rất phù hợp với mục đích của nhà trường và khoa địa chất đề ra.
Đợt thực tập ngoài thực địa nhằm mục đích củng cố các kiến thức đã học từ
giáo trình môn học; Địa chất Đại cương, Địa chất cấu tạo, Thạch Học, Lịch sử
địa chất… Qua việc vận dụng lý luận thực tế, tìm tòi sáng tạo trong thực tập và
làm tổng kết lý luận. Đợt thực tập giúp sinh viên làm quen với những công việc
sau này, giúp sinh viên hình dung và định hướng được công việc sẽ làm trong
tương lai.
Để đạt được mục đích và kết quả cao trong đợt thực tập sinh viên phải tuân
thủ những yêu cầu đặt ra trong đợt thực tập, phải đảm bảo thực tập đúng nội
dung, đúng quy chế thực tập do nhà trường đề ra như: Đảm bảo lộ trình, tuân
thủ quy định lao động, đảm bảo việc thu thập mẫu, ghi chép đầy đủ cá nhân,
bảo quản tài liệu thực tập và các nhu cầu sinh hoạt.
Yêu cầu chuyên môn có 3 phần lớn:
+ Phải nhận biết, nghiên cứu và xác định các cấu tạo địa chất theo các tuyến

địa chất, địa mạo, kiến tạo, vẽ mặt cắt địa chất và bảo vệ kết quả thực tập.
Lớp Địa Chất Thuỷ Văn K54 gồm 55 thành viên được chia ra làm 7 nhóm, mỗi
nhóm có 7 thành viên, trong đó chúng tôI thuộc nhóm 2 đội II và bao gồm các
thành viên sau:
1. NGUYỄN VĂN SÁNG (Nhóm trưởng)
2. NGUYỄN TIẾN VINH
3. HOÀNG VĂN TIỆP
Nhóm 2_Lớp ĐCTV-K54 Trang 2
Báo cáo thực tập địa chất cấu tạo
4. BÙI SỸ HOÀNG
5. THÁI KHẮC VIỆT
6. BÙI THẾ QUANG
7. ĐẶNG HỮU SÁNG
Dưới sự hướng dẫn tận tình của các thầy trong bộ môn địa chất đá giúp chúng
tôi trong đợt thực tập này.
1. PHẠM NGUYÊN PHƯƠNG
2. PGS-TS HẠ VĂN HẢI
3. Ths NGUYỄN QUỐC HƯNG
4. Ts TRẦN MỸ DŨNG
Với sự nỗ lực của từng thành viên trong nhóm, cùng với sự hướng dẫn nhiệt
tình của các thầy, chúng tôi đá hoàn thành báo cáo thực tập địa chất cấu tạo và
đo vẽ bản đồ địa chất vùng thánh phố Lạng Sơn.
Báo cáo gồm 10 chương:
Chương 1: Mở đầu: Giới thiệu mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ của đợt thực tập,
cơ cấu đoàn thực tập, quá trình thực tập và những điểm chúng nhất về báo cáo
của đợt thực tập này.
Chương 2: Đặc điểm địa lý - kinh tế - nhân văn vùng thành phố Lạng Sơn.
Giới thiệu khái quát về địa lý, kinh tế - nhân văn và các hoạt động khác của
vùng thực tập.
Chương 3: Lịch sử nghiên cứu địa chất vùng thành phố Lạng Sơn: Giới thiệu

CHƯƠNG II
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN - KINH TẾ - NHÂN VĂN VÙNG
THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
I. Đặc điểm địa lý tự nhiên
1. Vị trí
Vùng thực tập là thành phố Lạng Sơn, ở phía Đông Bắc nước ta. Trung tâm
thành phố cách Hà Nội khoảng 150 km theo đường thẳng. Khu vực thực tập có
diện tích 81km2, phía Bắc giáp với khu vực thị trấn Đồng Đăng, phía Tây giáp
với huyện Cao Lộc, phía Đông và Đông Nam giáp với huyện Lộ Bình. Vùng thực
tập có toạ độ:
- Từ 10604320 đến 10604718 kinh độ Đông
- Từ 2104300 đến 2104944 kinh độ Bắc.
2. Địa hình
Vùng thành phố Lạng Sơn thuộc địa hình miền núi có độ cao trung bình thấp
và ít phân cắt, độ cao tuyệt đối từ 250m đến 600m. Thành phố Lạng Sơn nằm
gọn trong một thung lũng có dạng hình thoi, kéo dài theo phương Tây Bắc-
Đông Nam. Với chiều dài khoảng 6km. Trung tâm thung lũng là khu vực Kỳ Lừa
được mở rộng 3 – 3,5 km, còn hai đầu thi hẹp lại chỉ còn 100 – 200m. Bề mặt
thung lũng tương đối bằng phẳng và hơi nghiêng về phía Đông Nam. Trong
thung lũng có các núi sót đá vôi phân bố phía Tây Kỳ Lừa như: Tam Thanh, Nhị
Thanh và nằm rải rác như : núi Chùa Tiên , Đông Kinh, Phai Vệ với độ cao tuyệt
đối thường trên 300m, vách dốc đứng, bề mặt phân cách hiểm trở. Trong các
núi đá vôi phát triển nhiều hang động karst với những kích thước khác nhau
tạo nên những danh lam thắng cảnh như Tam Thanh. Nhị Thanh, Chùa Tiên.
a, địa hinh núi thấp
Đồi núi chiếm một phần lớn trong địa hình nghiên cứu, phân bố xung quanh
khu vực thành phố Lặng Sơn. Đặc điểm địa hình ở đây là không có núi cao, hầu
hết là đồi núi thấp phân bố thành từng dải liên tục hoặc ở dạng các đồi núi
riêng biệt. Xa trung tâm thành phố là các dãy đồi núi thấp có độ cao từ 280 đến
450m, kéo dài theo phương gần Bắc Nam, đỉnh núi có độ cao lớn nhất là 578m.

Thung lũng lớn nhất là thung lũng thành phố Lạng Sơn, ngoài ra còn xuất hiện
thung lũng ở khu vực Mai Pha, dọc suối Na Sa, suối Ki Ket và thung lũng Nà
Chuông. Do địa hình bằng phẳng nên ở trung tâm thành phố giao thông khá
thuận tiện, là nơi tập trung dân cư, kinh tế phát triển.
Nhóm 2_Lớp ĐCTV-K54 Trang 6
Báo cáo thực tập địa chất cấu tạo
d, sông suối
Các sông suối phân bố ở phần phía Nam thành phố Lạng Sơn và một số nơi
khác trong vùng. Sông Kỳ Cùng chảy qua thành phố theo hướng từ Đông sang
Tây.
Sông Kỳ Cùng bắt nguồn từ dãy núi Mẫu Sơn ở phía Đông, chảy theo hướng
Đông Nam - Tây Bắc đến vùng nghiên cứu sông uốn lượn rồi chảy theo các
phương khác nhau đến Thất Khê, sông chảy vào sông Bằng Giang (Trung Quốc).
Trong phạm vi vùng nghiên cứu Sông Kỳ Cùng có chiều dài khoảng 15 km, chảy
qua các đất đá và các địa tầng khác nhau, chịu ảnh hưởng của các cấu trúc khe
nứt, đứt gãy, nên hướng dòng chảy thay đổi, chiều rộng và chiều sâu lòng sông
khác nhau. Đoạn chảy qua thành phố Lạng Sơn với địa hình tương đối bằng
phẳng, phân bố đá hoà tan nên dòng được mở rộng khoảng 60-80m, có nơi
đến gần 100m. Dòng sông uốn khúc, nước chảy chậm, bờ sông là nơi tích tụ
phù sa của sông Kỳ Cùng, có nơi là đá vôi hoặc đá trầm tích lục nguyên. Lưu
lượng của sông thay đổi từ 4,48m3/s về mùa khô, đến 7396m3/s về mùa mưa.
Trong vùng nghiên cứu có ba con suối là các suối Na Sa, suối Lau Li và suối Ki
Ket. Các suối có chiều rộng từ 1m đến 20m. Suối có nhiều nước vào mùa mưa
và ít nước và mùa khô.
3. Khí hậu
Vùng thành phố Lạng Sơn nằm trong phạm vi của đới khí hậu nhiệt đới gió
mùa. Một năm có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa kéo dài từ
tháng 5 đến tháng 9, lượng mưa trung bình thay đổi từ 1700 mm đến
1800mm. Trong mùa mưa xuất hiện những trận lũ bất thương làm cho nhân
dân thành phố và công tác nghiên cứu địa chất gặp không ít khó khăn. Mùa khô

3. Nông nghiệp
Nông nghiệp của vùng phát triển chưa cao, một phần do điều kiện địa hình
khí hậu không thuận lợi cho khai trồn các loại cây công nghiệp và phần cơ bản
khác là phương thức canh tác còn lạc hậu. Tuy nhiên, địa hình khí hậu thuận lợi
cho việc trồng cây hoa màu và rau có chất lượng cao. Sản phẩm rau quả ở đây
được ưa chuộng tại địa phương và các vùng xung quanh. Trong những năm gần
đây nông nghiệp và lâm nghiệp đã được chú ý hơn nên diện tích đồi núi trọc đã
giảm đáng kể đồng thời nạn phá rừng đã cơ bản được hạn chế.
Nhóm 2_Lớp ĐCTV-K54 Trang 8
Báo cáo thực tập địa chất cấu tạo
4. Thương nghiệp
Trong những năm gần đây chính sách mở cửa Nhà nước đã tạo điều kiện
thuận lợi cho việc phát triển kinh tế thương nghiệp. Giao lưu hàng hóa giữa
Lạng Sơn với Trung Quốc lưu thông hàng hóa tập trung tại các khu vực Kỳ Lừa,
Đông Kinh, Tân Thanh, Đồng Đăng. Hàng năm lưu lượng hàng hóa qua biên giới
là rất lớn.
Tuy nhiên, ở khu vực này buôn lậu hàng hóa qua biên giới rất khó khăn được
giải quyết gây không ít khó khăn cho đời sống, kinh tế ở nơi này.
5. Dân số
Thành phố Lạng Sơn là trung tâm kinh tế, văn hoá giáo dục của tỉnh Lạng Sơn.
Hiện tại thành phố có hơn 5 vạn dân, chủ yếu là người Kinh, bên cạnh đó là
người Tày, người Dao, người Nùng. Tuy có nhiều dân tộc khác nhau cư trú trên
cùng địa bàn, nhưng hầu hết đồng bào có tính đoàn kết xây dựng. Điều này đã
được chứng minh qua những năm chiến tranh và xây dựng đất nước.
6. Văn hoá
Phần lớn trình độ văn hóa của người dân thành phố Lạng Sơn và vùng lân cận
ở mức trung bình. Tuy nhiên trong vùng có khá nhiều trẻ em thất học đặc biệt
là con em dân tộc ít người.
Vùng nghiên cứu là một trong những khu vực có nhiều danh lam thắng cảnh
nổi tiếng như: Thành Nhà Mạc - Động Tam Thanh, Nhị Thanh, chù Tam Thanh,

1:500.000.
Năm 1965 A.E.Dopjicop cùng các nhà Địa chất Việt Nam đã phân chia các đá
vùng thành phố Lạng Sơn thành các phân vị địa tầng sau:
- Điệp Lạng Sơn (Tiils)
- Điệp Sông Hiến (T2ash)
- Hệ tầng Mẫu Sơn (T3cms).
Năm 1962, Bùi Phú Mỹ, Gazenco và một số nhà Địa chất đã xếp Bauxit
vùng Đồng Đăng vào tuổi Trias. Trong công trình nghiên cứu trùng lỗ Paleozoi
thượng của Nguyễn Văn Liêm năm 1966, ông đã xếp Bauxit ở khu vực này vào
Điệp Đồng Đăng (P
3 đđ
) và xếp đá vôi khu vực Tam Thanh, Nhị Thanh vào hệ tầng
Bắc Sơn (C-P
2 bs
).
Năm 1972 Trần Văn Trị và một số nhà Địa chất khác đã thành lập bản đồ địa
chất miền Bắc Việt Nam với tỷ lệ 1: 1.000.000. Trong đó đá phun trào ryolit ở
khu vực thành phố Lạng Sơn được xếp vào bậc Anizi, trầm tích có hóa đá chân
Nhóm 2_Lớp ĐCTV-K54 Trang 10
Báo cáo thực tập địa chất cấu tạo
rìu, chân đầu nằm trên đá phun trào xếp vào bậc Lađini.
Từ đầu năm 1969 đến nay các thầy giáo và sinh viên Trường Đại học Mỏ -
Địa chất đã khảo sát khu vực này với mục đích đào tạo và nghiên cứu khoa học,
phục vụ đời sống kinh tế quốc phòng đã làm rõ cấu trúc địa chất khu vực cùng
những vấn đề liên quan, trong đó có địa chất được phân chia từ trẻ đến già
như sau:
Giới Kainozoi (KZ)
- Đệ Tứ (Q)
- Hệ Neogen hệ tầng Na Dương (N
1c-ms

BẢN ĐỒ ĐỊA CHẤT
Nghiên cứu cấu trúc địa chất và đo vẽ bản đồ địa chất là công việc nhìn
thấy toàn diện chính của địa chất cấu tạo và đo vẽ bản đồ địa chất cấu tạo giúp
cho sinh viên có cái nhìn khái quát về cấu trúc địa chất, kiến tạo, khoáng sản và
các vấn đề khác, và từ đó thực hiện công việc một cách chi tiết hơn. Do những
mục đích trên các phương pháp tiến hành thực hiện theo quy trình khoa học kỹ
thuật nhằm đặt hiệu quả tốt nhất.
A. Tổng hợp các tài liệu
I.Chuẩn bị các tài liệu có trước
Đây là bước công tác quan trọng để thu nhập tài liệu địa hình, địa chất,
môi trường có trước với vùng công tác.
II.Chuẩn bị tài liệu mới
Như tài liệu ảnh chụp vệ tinh, từ máy bay, từ xa, các tài liệu địa chất vật
lý, khoan thăm dò, phân tích mẫu.
III.Xây dựng tài liệu tổng hợp
Trên cơ sở các tài liệu nói trên tổng hợp như: tài liệu địa hình, địa chất
môi trường, kiến tạo, khoáng sản, địa chất công trình , địa chất thuỷ văn.
B. Triển khai thực địa
I. Trình trình bao quát vùng
Tiến hành lộ trình nhằm bao quát toàn vùng, nhằm tạo cơ sở dữ liệu lập
các lộ trình thực địa.
II. Vạch các hành trình thực địa
Từ các tài liệu tổng hợp, tài liệu lộ trình bao quát, tài liệu điều kiện địa lý
tự nhiên vạch các lộ trình thực địa theo các chuyên môn
1. Lộ trình mặt cắt, lộ trình toả tia.
2. Lộ trình diện tích.
3. Lộ trình xác định ranh giới địa chất.
4. Lộ trình chuyên đề.
5. Lộ trình tổng hợp.
III. Lộ trình thực địa

Cacbon đến Đệ Tứ. Các thành tạo này được xếp vào các phân vị địa tầng địa
phương.
- Giới Paleozoi (PZ)
+ hệ cacbon- hệ pecmi thống dưới-hệ Bắc Sơn( C-P
2 BS
)
+ hệ pecmi thống trên - hệ tầng Đồng Đăng ( P
3 ĐĐ
)
- Giới mezozoi (MZ)
+ hệ triat thống dưới - bậc indi - hệ tầng Lạng Sơn ( T
1i
LS)
+ hệ triat thống giữa – bâc anizi -hệ tầng Khôn Làng ( T
2a Kl
)
+ hệ thống giữa- bậc ladini- hệ tầng Nà Khuất ( T
2l-nk
)
+ hệ triat thống trên- bậc Kacni- hệ tầng Mẫu Sơn ( T
3cms
)
- Giới kainozo( KZ)
+ hệ neogen thống mioxen, hệ tầng Nà Dương
+ hệ neogen muộn
Sự phân bố của hệ tầng thành phố Lạng Sơn có quy luật khá rõ. Phân
trung tâm là hệ tầng Bắc Sơn. Sau đó xa dần là hệ tầng Đồng Đăng, Lạng Sơn,
Kỳ Cùng, Khôn Làng, Nà Khuất, Mẫu Sơn.
I. Giới Palaozoi
1. Hệ cacbon-pecmi thống dưới- hệ tầng Bắc Sơn (P

năm 1962 một số nhà địa chất như Gazenco, Trepotaricop, Bùi Phúc Mỹ
đã nghiên cứu đá trầm tích lục nguyên siclic, bauxit, đá vôi ở Lạng Sơn và
chúng vào triat sớm.
Năm 1966 Nguyễn Văn Liêm đã nghiên cứu trầm tích silic, bauxit,
đá vôi nối trên và xếp chúng vào hệ tầng Đồng Đăng tuồi pecmi muộn
(P
3ĐĐ
).
Từ 1969 đến nay, các giáo viên của bộ môn địa chất trường đại học
Mỏ Địa Chất Hà Nội đã nghiên cứu các trầm tích Đồng Đăng. Phục vụ cho
giảng dạy, nghiên cứu khoa học, đã nhất trí xếp chúng vào hệ tầng Đồng
Đăng tuổi P
3ĐĐ
như hiện nay.
Nhóm 2_Lớp ĐCTV-K54 Trang 15
Báo cáo thực tập địa chất cấu tạo
Ở khu vực thành phố Lạng Sơn trầm tích của hệ tầng Đồng Đăng
mở rộng ở khu vực chùa Tiên, rộng vài trăm mét.
Một số nơi khác, trầm tích này nằm độc lập, xung quanh là trầm
tích trẻ hơn như khu vực quán long.
Mặt cắt hệ tầng Đồng Đăng quan sát tốt ở khu vực Quán Lóng,
Phai Lây hệ tầng Đồng Đăng từ dưới lên trên gồm các phần:
- Phần dưới gồm cuội sỏi kết, cát kết, bột kết, sét kết, đá silic chứa hoá
đá fusullina…. Các lớp cấu tạo phân lớp mỏng đến vừa. Các trầm tích
này thường đóng vai trò phân nếp lồi như: Quán long, Chùa Tiên…
- Phần giữa chủ yếu là đá vôi màu xám sáng, xám đen, đen, đá vôi dăm
kết, vôi silic. Phần lớn chúng có cấu tạo phân lớp dày, cấu tạo khối.
Trong các lớp đá vôi ở Quán Long có hoá đá tay cuộn, san hô, trùng
lỗ.
Phần trên là đá vôi phân lớp mỏng, nhiều tập chất sét, sét kết,đá silic dạng

chứng minh điều đó.
Xác minh được đúng quan hệ này là điều mấu chốt để giải quyết vấn đề
cấu trúc vùng TP Lạng Sơn.
A.E. Dopficop trong loạt bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam tỷ lệ
1:500,000 do ông chủ biên đã xác định các đá vôi vùng Bắc Sơn thành phố Lạng
Sơn có tuổi cacbon trong – pecmi sớm (C-P
2 bs
) năm 1977, Trần Văn Trì và một
số tác giả xếp các đá vôi nói trên vào loạt cacbon-pecmi ( C-P
2 bs
). Trên bản đồ
địa chất vùng này, hệ tầng Bắc Sơn có diện tích phân bố khá rộng, diện tích này
chiếm toàn bộ thành phố Lạng Sơn, có đạng quả trám phình to ở giữa, thu hẹp
và thắt chặt hẳn ở hai đầu Tây Bắc và Đông Nam.
Nghiên cứu mặt cặt hệ tầng Bắc Sơn từ Đôgn Kinh qua Nhị Thanh, Tam
Thanh, khu vực Cò Lèng và một số nơi lân cận địa tầng giữa hai phần.
Phần dưới là đá vôi dạng khối màu xám xanh, xám sáng kết tinh yếu khá
đông nhất.
Phần trên là đá vôi màu xám sáng, xám đen, cấu tạo lớp vừa đến dày
trong đá vôi có nhiều hoá đá trùng lỗ, san hô, các hoá đá điển hình là
Verbeekina misellina, compretsa….
Về dạng nằm và cấu trúc, các đá của hệ tầng Bắc Sơn nằm ở phần dưới
cùng trong cột địa tầng. Vùng nghiên cứu chưa thấy đá nào già hơn. Các lớp đá
vôi ở đây thường nằm nghiêng trong cấu tạo uốn nếp thoải dạng vung, chảo,
uốn nếp ngắn với góc dốc hay gặp từ 20
0
– 40
0.
Nhóm 2_Lớp ĐCTV-K54 Trang 17
Báo cáo thực tập địa chất cấu tạo

Cấu trúc của khu vực mang tính cấu trúc vùng rift - địa hào cạnh khu vực
hoạt động mạnh như Lai Châu - Sơn La - Ninh Bình và liên quan với đột biến
chảy vỏ phun trào magma có nguyên nhân là các vụ va chạm hành tinh vào cuối
Pecmi muộn đầu Trias sớm. Trên cơ sở khoa học đã nêu phân tích cấu trúc và
lịch sử hình thành cấu trúc vùng thành phố Lạng Sơn và sát thực tế hơn.
Theo các tài liệu của thế giới và Việt Nam, thì khu vực thực tế ở Đông Nam
của mảnh Đông á. Một số tác giả xếp khu vực này vào phần Nam của mảng
Dương tử hoặc mảng Việt Trung. Một vài tác giả phân chia ra rìa thụ động, rìa
tích cực….
Trên cơ sở phân tích các tài liệu đã có căn cứ vào tài liệu thực địa và tổng
Nhóm 2_Lớp ĐCTV-K54 Trang 19
Báo cáo thực tập địa chất cấu tạo
hợp chúng tôi sắp xếp chương kiến tạo gồm ba phần:
- Các đới kiến tạo
- Các nếp uốn
- Các đứt gãy và khe nứt.
1. Các đới kiến tạo
Trên bình đồ cấu trúc hiện đại, nước Việt Nam nằm trong mảng Đông á.
Trong thời gian Paleozoi muộn phần Đông Bắc Việt Nam trong đó có vùng Lạng
Sơn là phần mảng lục địa đã nêu.
Cuối Pecmi đầu Trias có sự va chạm của mảng Đông Dương với mảng Đông á
với các hoạt động tách giãn, phun trào bazan khá mạnh mẽ dọc tuyến sông Đà-
Thanh Hoá-Ninh Bình. Hiện tượng nói trên đã tác động mạnh đến khu vực Hà
Giang - Cao Bằng - Lạng Sơn - Quảng Ninh - Bắc Giang - Thái Nguyên và các
vùng lân cận. Kết quả đầu tiên là hình thành các đới đứt gãy sâu các địa hào mà
khu vực thành phố Lạng Sơn là nơi giao nhau cảu chúng với các phương chính
là Tây Bắc - Đông Nam và á kinh tuyến tạo nên cấu trúc lớn dạng chữ nhân hoặc
chặc ba.
Với cấu trúc đã nêu, phân chia các đơn vị kiến tạo từ lớn đến nhỏ như sau:
+ Mảng Đông á


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status