Giao trinh xu ly su co may tinh cuc hay doc - Pdf 21

class="bi x0 y0 w1 h1"
Giáo Trình Xử Lý Sự Cố Máy Tính KTV: Lâm Văn Hậu
Email: Tel: 01688 795 090.
Biên Soạn: 17/08/2009
Mục Lục

Trang
* Thủ thuật cắt BAD ổ cứng 4
* Chẩn đoán bệnh qua tiếng bíp của BIOS 5
* Đảm bảo hoạt động cho máy in Laser 7
* Làm thế nào phát hiện lỗi bộ nhớ ? 8
* Giảm tiếng ồn cho máy tính 11
* Tổng hợp về những vấn đề liên quan đến ổ cứng! 15
* Laptop rơi xuống nước 22
* Màn hình bị hư ? 27
* Bảo vệ ổ đĩa cứng 28
* Bảo vệ và khôi phục dữ liệu trên bộ nhớ Flash 29
* 10 sự cố in ấn thường gặp và cách xử lý 35
* Tự bảo trì máy vi tính 37
* Tối ưu hình ảnh cho màn hình LCD 38
* Gỡ bỏ Windows XP SP 2 một cách an toàn 41
* Bộ công cụ chẩn đoán lỗi ổ cứng 42
* Quy trình bảo dưỡng PC 46
* Bốn thủ thuật kéo dài tuổi thọ PC 47
* Xử lý những sự cố máy tính xấu nhất 50
* Kinh Nghiệm Xử Lý Lỗi Khó Xác Định Nguyên Nhân 60
* Máy Tự Động Tắt Khi Chạy Nhiều Chương Trình 63
* Bí quyết phần cứng 63
* Máy In 67
* Đồ Họa 69
* Biến giao diện Windows XP thành Windows Vista 73

thông báo lỗi nào (đĩa cài đặt Windows vẫn còn tốt), mặc dù vẫn có thể dùng
Partition Magic phân vùng cho HDD một cách bình thường.
2. không Fdisk được: khi Fdisk báo lỗi no fixed disk present (đĩa cứng hiện tại
không thể phân chia) hoặc Fdisk được nhưng rất có thể máy sẽ bị treo trong
quá trình Fdisk.
3. không Format được HDD: khi tiến hành format đĩa cứng máy báo lỗi Bad
Track 0 – Disk Unsable.
4. khi đang format thì máy báo Trying to recover allocation unit xxxx. Lúc này
máy báo cho ta biết cluster xxxx bị hư và nó đang cố gắng phục hồi lại cluster
đó nhưng thông thường cái ta nhận được là một bad sector!
5. đang chạy bất kì ứng dụng nào, nhận được một câu thông báo như Error
reading data on dirver C:, Retry, Abort, Ignore, fail? Hoặc A serious error
occur when reading driver C:, Retry or Abort?
6. khi chạy Scandisk hay NDD (Norton Disk Doctor) hay bất kỳ phần mềm
kiểm tra bề mặt đĩa (surface scan) nào, ta sẽ gặp rất nhiều bad sector.
Cách khắc phục: (tất cả các chương trình giới thiệu dưới đây nằm gọn trong
đĩa Hiren’s Boot có bán ở các cửa hàng phần mềm tin học phiên bản 9.0 đến
9.9).
Cách 1: Dùng partition Magic cắt bỏ chỗ bad.
Thực hiện như sau:
Đầu tiên dùng chương trình NDD, khởi động từ đĩa Hiren’s Boot, ở menu của
chương trình chọn mục 6. Hard Disk Tools, chọn tiếp 6. Norton Utilities, chọn
1.Norton Disk Doctor.
Sau khi dùng NDD xác định được vị trí bị bad trên HDD, tiến hành chạy
chương trình Partition Magic cắt bỏ phần bị bad bằng cách đặt partition chứa
đoạn hỏng đó thành Hide Partition.
Ví dụ: khoảng bị bad từ 6.3GB đến 6.6GB, bạn chia lại partition, chọn partition
4
Giáo Trình Xử Lý Sự Cố Máy Tính KTV: Lâm Văn Hậu
Email: Tel: 01688 795 090.

Bài này, chỉ đề cập tới 2 loại BIOS tương đối phổ dụng là Phoenix và AMI. Rất
tiếc, Award BIOS hiện nay có rất nhiều phiên bản và do nhà sản xuất bo mạch
chủ hỗ trợ, do đó chúng bị thay đổi nhiều trước khi được tung ra thị trường. Vì
vậy, Award BIOS không được đề cập tới trong bài này.
(POST là quá trình kiểm tra nội bộ máy được tiến hành khi khởi động hoặc
khởi động lại máy tính. Là một bộ phận của BIOS, chương trình POST kiểm
tra bộ vi xử lý đầu tiên, bằng cách cho nó chạy thử một vài thao tác đơn giản.
Sau đó POST đọc bộ nhớ CMOS RAM, trong đó lưu trữ thông tin về dung
lượng bộ nhớ và kiểu loại các ổ đĩa dùng trong máy của bạn. Tiếp theo, POST
ghi vào rồi đọc ra một số mẫu dữ liệu khác nhau đối với từng byte bộ nhớ (bạn
có thể nhìn thấy các byte được đếm trên màn hình). Cuối cùng, POST tiến hành
thông tin với từng thiết bị; bạn sẽ nhìn thấy các đèn báo ở bàn phím và ổ đĩa
nhấp nháy và máy in được reset chẳng hạn. BIOS sẽ tiếp tục kiểm thử các phần
cứng rồi xét qua ổ đĩa A đối với DOS; nếu ổ đĩa A không tìm thấy, nó chuyển
qua xem xét ổ đĩa C).
5
Giáo Trình Xử Lý Sự Cố Máy Tính KTV: Lâm Văn Hậu
Email: Tel: 01688 795 090.
Mô tả mã lỗi chẩn đoán POST của BIOS AMI
1 tiếng bíp ngắn: Một tiếng bíp ngắn là test hệ thống đạt yêu cầu, do là khi bạn
thấy mọi dòng test hiển thị trên màn hình. Nếu bạn không thấy gì trên màn hình
thì phải kiểm tra lại monitor và card video trước tiên, xem đã cắm đúng chưa.
Nếu không thì một số chip trên bo mạch chủ của bạn có vấn đề. Xem lại RAM
và khởi động lại. Nếu vẫn gặp vấn đề thì có khả năng bo mạch chủ đã bị lỗi.
Bạn nên thay bo mạch.
2 tiếng bíp ngắn: Lỗi RAM. Tuy nhiên, trước tiên hãy kiểm tra card màn hình.
Nếu nó hoạt động tốt thì bạn hãy xem có thông báo lỗi trên màn hình không.
Nếu không có thì bộ nhớ của bạn có lỗi chẵn lẻ (parity error). Cắm lại RAM và
khởi động lại. Nếu vẫn có lỗi thì đảo khe cắm RAM.
3 tiếng bíp ngắn: Về cơ bản thì tương tự như phần 2 tiếng bíp ngắn.

1-3-3: Bạn cần phải thay bo mạch chủ.
1-3-4: Bo mạch chủ có vấn đề.
1-4-1: Bo mạch chủ có vấn đề.
6
Giáo Trình Xử Lý Sự Cố Máy Tính KTV: Lâm Văn Hậu
Email: Tel: 01688 795 090.
1-4-2: Xem lại RAM.
2-_-_: Tiếng bíp kéo dài sau 2 lần bíp có nghĩa rằng RAM của bạn có vần đề.
3-1-_: Một trong những chip gắn trên mainboard bị hỏng. Có khả năng phải
thay mainboard.
3-2-4: Chip kiểm tra bàn phím bị hỏng.
3-3-4: Máy tính của bạn không tìm thấy card màn hình. Thử cắm lại card màn
hình hoặc thử với card khác.
3-4-_: Card màn hình của bạn không hoạt động.
4-2-1: Một chip trên mainboard bị hỏng.
4-2-2: Trước tiên kiểm tra xem bàn phím có vấn đề gì không. Nếu không thì
mainboard có vấn đề.
4-2-3: Tương tự như 4-2-2.
4-2-4: Một trong những card bổ sung cắm trên bo mạch chủ bị hỏng. Bạn thử
rút từng cái ra để xác định thủ phạm. Nếu không tìm thấy được card bị hỏng
thì giải pháp cuối cùng là phải thay mainboard mới.
4-3-1: Lỗi bo mạch chủ.
4-3-2: Xem 4-3-1.
4-3-3: Xem 4-3-1.
4-3-4: Đồng hồ trên bo mạch bị hỏng. Thử vào Setup CMOS và kiểm tra ngày
giờ. Nếu đồng hồ không làm việc thì phải thay pin CMOS.
4-4-1: Có vấn đề với cổng nối tiếp. Bạn thử cắm lại cổng này vào bo mạch chủ
xem có được không. Nếu không, bạn phải tìm jumper để vô hiệu hoá cổng nối
tiếp này.
4-4-2: Xem 4-4-1 nhưng lần này là cổng song song.

thứ này đều có ở trang web của hãng sản xuất. Để cài đặt driver mới trong
WinXP, bạn chọn Start.Printers and Faxes và chọn Add a Printer bên dưới
Printer Tasks trên thanh Explorer trong cửa sổ Printer and Faxes. Trong Win
2000/Me/98, bạn loại bỏ driver của máy in và cài đặt lại. Chọn
Start.Settings.Printers để mở cửa sổ Printers. Nhấn phải máy in này, chọn
Delete (chọn Yes nếu được hỏi xác nhận), mở lại cửa sổ Printers nếu nó bị
đóng, nhấn đúp Add Printer, và hoàn tất việc cài đặt lại.
Chấm dứt kẹt giấy: Tháo bỏ các tờ giấy bị kẹt bằng cách kéo chúng ra theo
chiều thuận như khi in. Nếu máy in bị kẹt thường xuyên, bạn ngắt điện khỏi
máy, để cho máy nguội, tháo cartridge mực ra ngoài, và kiểm tra xem có vật gì
gây cản trở bên trong không.
Kiểm tra đầu nối: Nếu máy in dùng đầu nối USB, bạn mở Device Manager và
tìm dấu X màu đỏ, hoặc dấu chấm than trong vòng tròn màu vàng nằm kề bên
những liệt kê thiết bị USB. (Trong Win XP/2000/Me, bạn nhấn Start, nhấn phải
My Computer, và chọn Properties.Hardware.Device Manager. Trong Win98,
bạn nhấn phải My Computer và chọn Properties.Devices Manager). Những
biểu tượng này có thể là dấu hiệu của trục trặc trong kết nối máy in với PC.
Nếu máy in ngưng hoạt động khi hệ thống ra khỏi chế độ hibernate hay chế độ
chờ (suspend), bạn nhấn đúp lên từng Root Hub bên dưới mục USB, chọn
Power Management, và bỏ chọn đối với Allow the computer to turn off this
device to save power. Trường hợp đang dùng hub USB, bạn thử nối trực tiếp
máy in với cổng USB trên PC xem có giải quyết được trục trặc không.
* Làm thế nào phát hiện lỗi bộ nhớ ?
Bạn gặp phải trục trặc hệ thống với nhiều lỗi hệ thống kì lạ và nghi ngờ
liệu có phải do những thanh nhớ RAM chất lượng kém ? Bài viết này sẽ giúp
bạn lần theo dấu vết và xác định nguồn gốc những lỗi đó.
Chiếc máy tính chạy hệ điều hành Windows của bạn gặp lỗi mà không có lý do
nào cả ? Chuyện này cũng bình thường thôi, với hàng triệu dòng lệnh cho
Windows và các phần mềm, sai sót là điều khó tránh khỏi. Thế nhưng nếu nó
có lặp lại nhiều lần vào những thời điểm lộn xộn lại là một vấn đề khác. Trong

cắm lỗi cũng trở nên bất ổn mặc dù chúng không phải như vậy.
Thật may mắn khi bộ nhớ máy tính hiện đại được sản xuất công nghiệp với số
lượng lớn đồng loạt nên có rất ít lỗi từ phía nhà sản xuất so với các sản phẩm
linh kiện còn lại. Đại đa số nơi bán đều cung cấp chế độ bảo hành lên tới vài
năm. Thậm chí những nhà sản xuất như Corsair, Crucial hay Kingston còn bảo
hành trọn đời cho các thanh RAM của họ. Tất nhiên người dùng phải trực tiếp
gửi về tận hãng sau thời hạn bảo hành do đại lý đặt ra.
II – Dấu hiệu nhận biết bộ nhớ bị lỗi:
Có hàng trăm, thậm chí hàng ngàn dấu hiệu để người dùng xác định bộ nhớ gặp
trục trặc, tuy nhiên chúng ta hãy bắt đầu với nhưng thứ thông dụng nhất:
1. Màn hình xanh BSOD (Blue Screen of Death) trong khi bạn đang cài hệ điều
hành Windows 2000/XP. Đây là dấu hiệu rõ ràng nhất của việc bộ nhớ hoạt
động bất bình thường.
2. Trong khi chạy Windows 2000/XP, hệ thống thỉnh thoảng phát sinh lỗi gây
sụp ngẫu nhiên hoặc tự nhảy ra BSOD. Chi tiết này đôi khi còn là do quá tải
nhiệt nên bạn cần kiểm tra kĩ lưỡng thêm trước khi kết luận.
3. Lỗi trong khi bạn đang sử dụng những ứng dụng đòi hỏi nhiều RAM ví dụ
như game 3D, các phép thử nghiệm, dịch mã, photoshop…
4. Hình ảnh trên màn hình bị vỡ, xé… lỗi này đôi khi còn do card đồ họa, bạn
nên kiểm tra thêm.
5. Máy tính không khởi động được. Dấu hiệu này đôi khi còn đi kèm thông báo
của BIOS về lỗi bộ nhớ với những tiếp bíp dài lặp lại liên tục. Đối với trường
hợp này, bạn không thể sử dụng các ứng dụng kiểm tra mà nên yêu cầu có thiết
9
Giáo Trình Xử Lý Sự Cố Máy Tính KTV: Lâm Văn Hậu
Email: Tel: 01688 795 090.
bị chuyên dụng hoặc gửi trả RAM về nơi mua để nhận được chế độ bảo hành
thích hợp.
III – Thủ thuật kiểm tra lỗi bộ nhớ:
Trước khi tiến hành chạy bất cứ chương trình kiểm tra nào được nêu ra dưới

Docmem là một tiện ích của Simmtester và nó đã có mặt trên thị trường từ rất
lâu, tuy nhiên đa số được sử dụng trong các cửa hàng máy tính hoặc trung tâm
bảo hành. Mặc dù được phân phối miễn phí nhưng để tải Docmem về máy tính
của mình, bạn phải thực hiện việc đăng kí tài khoản trên website của hãng tại
(www.simmtester.com/PAGE /products/doc/docinfo.asp)
Tương tự như với Memtest, bạn phải cài đặt Docmem lên một đĩa mềm rồi
dùng nó để khởi động hệ thống. Chương trình sẽ tiến hành kiểm tra bộ nhớ ở
hai chế độ nhanh (Quick Test) hoặc kéo dài thử độ bền (Burn-In), chế độ này
chỉ ngừng lại khi có lệnh của bạn. Bất cứ lỗi nhớ nào được phát hiện sẽ hiện lên
phía dưới màn hình.
- Windows Memory Diagnostic:
10
Giáo Trình Xử Lý Sự Cố Máy Tính KTV: Lâm Văn Hậu
Email: Tel: 01688 795 090.
Đây là một công cụ miễn phí của Microsoft với chức năng hoạt động tương tự
như Memtest. Nó có hai phiên bản đĩa mềm và đĩa CD ROM, cách cài đặt hoàn
toàn giống như Memtest. Tính năng của Windows Memory Diagnostic có phần
đơn giản hơn so với hai công cụ trên nhưng vẫn đầy đủ những phép thử cơ bản
và nâng cao. Thậm chí đôi khi nó còn có thể báo với bạn chính xác thanh RAM
nào bị lỗi (Rất tuyệt phải không nào). Sau khi kích hoạt thành công chương
trình, các phép thử sẽ lần lượt được tiến hành. Mỗi khi muốn dừng lại, bạn
nhấn phím X. Những lỗi phát sinh sẽ xuất hiện phía dưới màn hình.
IV – Những bước cơ bản khắc phục lỗi:
Một khi bạn đã xác định được rằng hệ thống của mình đang phát sinh lỗi khi
kiểm tra bằng những chương trình thử nghiệm ở trên, bước tiếp theo chính là
vấn đề phải định vị được nguồn gốc lỗi. Trong trường hợp lỗi nằm ở bộ nhớ,
bạn chắc chắn sẽ phải cần tới dịch vụ bảo hành và thay thế nên việc phải xác
định đúng thanh nhớ lỗi rất quan trọng.
Nếu chỉ có một thanh RAM trong máy, mọi việc sẽ đơn giản hơn rất nhiều, bạn
chỉ cần chạy thêm một hoặc đủ ba ứng dụng đã nêu trên, nếu tất cả chúng đều

Email: Tel: 01688 795 090.
hạn hẹp, những bước như đã nêu có lẽ vấn là sự lựa chọn hàng đầu để phát hiện
lỗi bộ nhớ trên máy tính PC.
* Giảm tiếng ồn cho máy tính
Bạn có nghĩ những hệ thống máy tính hiện nay tạo ra quá nhiều tiếng ồn
không? Dù chúng ta đã bỏ không ít tiền để trang bị những bộ loa chất lượng
cao nhằm thưởng thức âm nhạc hay hơn, nhưng âm thanh từ loa cộng với tiếng
ồn phát ra từ máy tính làm cho gian phòng trở nên ầm ĩ và hỗn loạn.
Nói chung, máy tính làm việc càng êm ái thì chúng ta càng dễ chịu. Làm cho
tiếng ồn của máy tính giảm đến mức chấp nhận được là chuyện dễ dàng và
không mấy tốn kém. Bạn không nhất thiết phải làm cho máy tính trở nên hoàn
toàn “câm lặng” (thực tế là không có bất kỳ biện pháp nào để thực hiện điều
đó), mà chỉ cần làm cho hệ thống vận hành trong im lặng ở mức gọi là “tạm
đủ". Bài viết sẽ giúp bạn xác định và di dời các bộ phận là thủ phạm chính gây
ra những tiếng ồn khó chịu trong máy tính.
Tiếng ồn và nhiệt độ
Bộ phận phát ra nhiều tiếng ồn nhất trong hệ thống là quạt làm mát và hầu hết
mọi máy tính đều được trang bị cùng lúc nhiều thiết bị này. Ví dụ, máy tính
Pentium 4 được PC World Mỹ thử nghiệm khi thực hiện bài viết này được
trang bị đến bốn quạt làm mát: bộ nguồn cấp điện, CPU, card đồ họa và ở mặt
sau thùng máy.
Dĩ nhiên, những chiếc quạt này có chức năng làm mát cho các mạch điện mỏng
manh bên trong thùng máy và đó là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Tuy
nhiên với những thiết bị phù hợp, bạn có thể vừa bảo vệ máy tính để nhiệt độ
không quá nóng vừa vận hành êm ái hơn.
Trước hết bạn cần mua quạt làm mát mới. Loại quạt làm mát với tốc độ quay
chậm tuy phát ra ít tiếng ồn nhưng không thể cung cấp nhiều khí mát cho CPU
và các bộ phận trong thùng máy. Những loại quạt có kích thước lớn hơn có thể
quay chậm hơn nữa nhưng chúng thổi được nhiều không khí mát vào bên trong
hơn. Tuy nhiên vì cánh quạt quá to nên có thể không vừa với thùng máy. Một

Để xác định nguồn gốc tiếng ồn, bạn dùng ống thử Cardboard Tube Test thông
dụng. Bằng cách đặt một đầu của ống có gắn loa giấy vào tai, đầu kia đặt gần ổ
đĩa, quạt làm mát và các thiết bị khác trong thùng máy, bạn có thể xác dịnh đâu
là bộ phận ồn nhất.
Nếu ống thử này không đủ tin cậy, bạn có thể dùng biện pháp Elimination Test:
tắt và mở lần lượt các quạt làm mát và ổ đĩa cứng để xem thử thiết bị nào gây
ồn nhất (không có gì nguy hiểm khi máy tính với thùng máy được mở hoạt
động không có quạt trong vài giây). Để làm “câm” một chiếc quạt làm mát hay
một đĩa cứng (bộ phận gây ồn chủ yếu ngoài quạt), bạn hãy tháo điện cung cấp
cho thiết bị đó (phải bảo đảm máy tính đã được ngắt điện trước đó). Quạt làm
mát thường được nối điện qua một chân cắm nhỏ (ba lỗ) trên bo mạch chủ; ổ
cứng thì dùng đầu nối lớn có bốn chân từ bộ nguồn máy tính. Cắm lại cáp điện
của máy tính vào ổ cắm, bật máy lên và chú ý lắng nghe mà không dùng đến
ống Cardboard.
Đương nhiên, phương pháp này không thể thực hiện được đối với quạt trên bộ
nguồn vì bạn không thể ngắt điện cung cấp cho thiết bị này. Nếu máy tính đã
tắt điện nhưng vẫn cắm cáp điện vào ổ cắm, bạn hãy cài một que tăm nhỏ vào
giữa các cánh quạt và giữ nó ở đó trong khi bật điện máy tính; nếu máy tính trở
nên yên tĩnh thì bạn đã tìm ra thủ phạm.
Bộ nguồn cấp điện thường là thiết bị đầu tiên mà bạn muốn thay, vì quạt làm
mát bên trong thiết bị này thường gây ồn nhất trong thùng máy. Hãy tìm một
bộ nguồn thay thế mới có công suất ít nhất cũng phải bằng công suất của bộ
13
Giáo Trình Xử Lý Sự Cố Máy Tính KTV: Lâm Văn Hậu
Email: Tel: 01688 795 090.
nguồn đang sử dụng. Tuy nhiên, bạn cần nhớ bộ nguồn công suất lớn có khả
năng dự phòng cho việc nâng cấp thiết bị trong tương lai thường có giá cao hơn
và phát ra nhiều tiếng ồn hơn so với những bộ nguồn công suất nhỏ.
Bạn có thể dùng bộ nguồn S12-330 của Saesonic có công suất 330 watt (find.
pcworld.com/48562; xem hình 2) được bán trên mạng với giá khoảng 60 USD.

đã làm việc tốt trong hệ thống thử nghiệm của PC World Mỹ. Chỉ còn một bận
tâm nhỏ: chương trình theo dõi các thông số trên bo mạch chủ cho thấy quạt
này chỉ quay bằng nửa tốc độ của quạt cũ. Tuy nhiên, tốc độ này không làm
cho nhiệt độ của máy tính tăng lên.
Hầu hết các ổ đĩa cứng đều không có quạt làm mát nhưng chúng vẫn gây ra
14
Giáo Trình Xử Lý Sự Cố Máy Tính KTV: Lâm Văn Hậu
Email: Tel: 01688 795 090.
nhiều tiếng ồn trong quá trình hoạt động. Tuy nhiên, có nhiều model mới ít gây
tiếng ồn vì chúng dùng trục dạng lưu chất thay cho trục bi. Cho nên, nếu bạn
cần máy tính hoạt động “êm ái” hơn thì đây là cơ hội tốt để nâng cấp đĩa cứng.
Bọc kín đĩa cứng
Một biện pháp khác, bạn có thể đặt đĩa cứng đang dùng vào trong hộp cách âm
lắp vừa vào khoang 5,25 inch (dùng cho ổ CD hoặc DVD) như loại Nexus
Drive-A-Way có giá khoảng 60 USD (find.pcworld.com/48568). Nhóm thử
nghiệm đã tiến hành lắp đặt thiết bị này với vài trục trặc nhỏ trước khi đọc
được hướng dẫn được ghi dưới đáy hộp. Drive-Way đã hoàn toàn triệt tiêu
tiếng ồn của đĩa cứng trên máy tính thử nghiệm.
Bộ phận làm mát CPU hiệu quả nhất là phiến tản nhiệt nhỏ cùng với một quạt
rẻ tiền nhưng nhiều tiếng ồn. Thêm một ít tiền, bạn có thể mua được loại tốt
hơn. Tuy nhiên, việc thay bộ phận làm mát cho CPU không thể thực hiện dễ
dàng. Một phần của khó khăn này là kích thước phải tuyệt đối chính xác. Bộ
phận làm mát CPU không gây ồn có thể khá kềnh càng, với phiến tản nhiệt
giống như các ngôi nhà cao tầng thu nhỏ, được gắn với quạt có kích thước bằng
máy nghe đĩa xách tay. Bạn phải bảo đảm bộ làm mát mới này lắp vừa trên bo
mạch chủ và đế cắm CPU (socket). Có thể bạn biết rõ mình có loại bộ vi xử lý
nào, nhưng một số CPU có khả năng phù hợp với nhiều loại đế cắm. Hãy tham
khảo tài liệu kỹ thuật đi kèm của máy hoặc bo mạch chủ (hay website của hãng
sản xuất).
Khi đã tìm được bộ làm mát cần thiết, bạn phải tiến hành lắp đặt. Trước hết

Logical Disk Manager: Volume size too big.
Như vậy nếu bạn có một đĩa cứng từ 40GB trở lên bạn nên chia thành nhiều
phân vùng, mỗi phân vùng có kích thước tối đa là 32GB, nếu bạn quyết định sử
dụng hệ thống tập tin FAT32.
Thiếu sót vùng đĩa trống (Free Space Flaw) của FAT32
Hiện tượng Free Space Flaw (Thiếu sót vùng đĩa trống) là một sơ sót nhỏ đối
với hệ thống FAT32, nó làm cho Windows thỉnh thoảng không báo đúng dung
lượng đĩa còn trống (ví dụ nó báo chỉ còn vài chục MB đĩa trống, trong khi
thực tế là hơn 500 MB), đặc biệt là khi máy tính của bạn bị “treo” hay tắt máy
“không đúng thủ tục” (do cúp điện chẳng hạn).
Tình trạng này không có gì nguy hiểm và tất cả những gì bạn cần làm để sửa
chữa là chạy tiện ích Scandisk (scandskw.exe trong Windows, scandisk.exe
trong DOS). Nên nhớ rằng Scandisk chỉ giải quyết nhất thời, vấn đề này vẫn có
thể xảy ra sau đó mỗi khi máy của bạn bị “treo” hay bạn tắt máy không đúng
cách.
Lưu ý:
* Windows 95 OSR 2.x và các Windows 9x sau này được cài đặt chế độ tự
động chạy Scandisk mỗi khi hệ thống của Bạn bị tắt không đúng “thủ tục”.
* Thiếu sót này chỉ ảnh hưởng đến vùng đĩa trống do Windows tính toán chứ
không phải là nguồn gốc của việc mất dữ liệu.
DMA
Tương tự như ổ CD (xem bài DMA và những vấn đề liên quan đến ổ CD và
CD R/W ở báo e-Chip số 4), khi thiết lập đặc tính hỗ trợ DMA cho ổ đĩa cứng
bạn có thể làm cho hệ thống của bạn chạy nhanh hơn nếu hệ thống của bạn đáp
ứng được đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật (loại chipset trên bo mạch chủ hỗ trợ
Bus Mastering DMA, trình điều khiển thiết bị thích hợp, ổ cứng hổ trợ DMA).
Ngược lại, bạn cũng có thể gặp nhiều rắc rối với nó. Có một điều lạc quan là
hiện nay hết các bo mạch chủ và ổ cứng có mặt trên thị trường trong thời gian
gần đây đều hỗ trợ UDMA.
Ổ đĩa cứng quá nóng

thiện
POWER MANAGEMENT FOR GREEN PC Tiêu thụ ít năng lượng
SELF DIAGNOSTICS Xác nhận chất lượng và độ tin cậy của ổ đĩa
SHOCK & VIBRATION Đã kiểm tra hoạt động dưới những điều kiện bất
thường (như va đập hay rung động)
HIGHER RPM MOTOR Tăng hiệu suất chung của ổ đĩa
DATA TRANSFER RATE Luồng lưu thông dữ liệu nhanh hơn
AUTO PARKING & LOAD Giảm thiểu nguy cơ làm hỏng đĩa cứng
AUTO REASSIGN DEFECTIVE SECTOR Tính toàn vẹn dữ liệu được nâng cao
BUFFER Tốc độ truyền dẫn dữ liệu được nâng cao
VARIETY OF HIGH CAPACITY DRIVES Cần thiết cho nhiều đối tượng sử
dụng cũng như nhiều ứng dụng khác nhau
FORMATTED CAPACITY Ổ đĩa cung cấp thêm nhiều vùng lưu trữ
ENHANCED IDE COMPLIANT/FAST ATA Có khả năng tương thích hoàn toàn
Tối ưu hóa hoạt động của đĩa cứng
Khi các máy vi tính trở nên mạnh mẽ hơn, với các bộ vi xử lý lên đến hàng
gigahertz (GHz) và giá RAM giảm nhanh, bạn sẽ nhận thấy rằng hệ thống của
bạn vẫn còn bị “ùn tắc” (tức hiệu ứng “nghẹt cổ chai”) ngay ở việc truy xuất
đĩa cứng. Mặc dù bạn không đủ giàu như Bill Gate để sắm một dãy đĩa SCSI
cao tốc (high-speed SCSI disk arrays) cho máy của bạn, nhưng bạn vẫn có cách
tối ưu hóa hoạt động của đĩa cứng, nhờ đó làm tăng khả năng hoạt động của
17
Giáo Trình Xử Lý Sự Cố Máy Tính KTV: Lâm Văn Hậu
Email: Tel: 01688 795 090.
toàn bộ hệ thống. Trong bài này, chúng ta sẽ cùng khảo sát một số cách có thể
làm cho ổ cứng đạt được hiệu suất tối đa mà nó có thể cung cấp được.
Các hệ thống tập tin và tính hiệu quả
Windows 2000 hổ trợ các hệ thống tập tin FAT16 (FAT), FAT32 và NTFS. Có
nhiều lý do thuyết phục để sử dụng NTFS trên tất cả các phân vùng đĩa cứng
của bạn. Việc mã hoá tập tin (File encryption), nén tập tin, cấp hạn ngạch đĩa

trực tiếp đối với Registry.
Lời khuyên
Trên các phân vùng NTFS nhỏ thì ảnh hưởng về hiệu suất do việc tự động cập
nhật ngày/giờ truy cập gần đây nhất có thể không đáng kể nhưng trên các phân
vùng lớn thì khá đáng kể.
Từ lệnh Run trên trình đơn Start, đánh Regedit hay Regedt32 và truy xuất khóa
dưới đây (xem Hình A):
HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\FileSystem
18
Giáo Trình Xử Lý Sự Cố Máy Tính KTV: Lâm Văn Hậu
Email: Tel: 01688 795 090.
Bạn có thể nâng cao hiệu suất hoạt động của đĩa cứng bằng cách điều chỉnh
Registry để vô hiệu hóa các đặc tính NTFS không cần thiết.
Để vô hiệu hóa các tên tập tin ngắn, thay đổi trị của
NtfsDisable8dot3NameCreation thành 1. Để vô hiệu hóa việc cập nhật nhãn
thời gian truy cập gần đây nhất, thay đổi trị của NtfsDisableLastAccessUpdate
thành 1. Nếu mục kiện chưa có sẳn, bạn sẽ phải tạo nó.
Các đĩa động (Dynamic disks)
Windows 2000 hổ trợ việc tạo một kiểu đĩa mới (cách thức truyền thống để tổ
chức các đĩa là chia chúng thành các phân vùng, được gọi là một đĩa cơ bản –
basic disk), kiểu đĩa mới này, có tên gọi là các đĩa động (dynamic disks), hổ trợ
các cấp RAID phần mềm 0, 1, và 5. Các cấp RAID này cung cấp khả năng chịu
đựng sai sót (fault tolerance) và cũng có thể làm tăng hiệu suất. Các cấp RAID
chịu đựng sai sót (1 và 5) chỉ có sẳn trên Windows 2000 Server, nhưng
Windows 2000 Professional cho phép bạn tạo striped volumes trên các đĩa
động.
Lời khuyên
Mặc nhiên, các đia được cấu hình như là các đĩa cơ bản. Để chuyển đổi một đĩa
cơ bản thành đĩa động, mở Disk Manager (bấm nút phải con chuột trên My
Computer, chọn Manage, và chọn Storage | Disk Management trong khung cửa

thể làm tăng tốc độ truy cập đĩa đáng kể.
Bạn nên phân tích đĩa thường xuyên và “đoàn tụ” khi cần.
Kết luận
Hiện tượng thắt cổ chai ở đĩa cứng là “kẻ tội đồ” đáng nghi nhất khi máy chạy
Windows 2000 Professional (kể cả bất kỳ hệ điều hành nào) bị chậm lại. Ta cần
phải thực hiện một số thao tác để tối ưu hóa hiệu suất đĩa cứng và tăng tốc độ
chung cho cả hệ thống trước khi móc “hầu bao” cho việc nâng cấp phần cứng.
“Bắt mạch đĩa cứng” dùm bạn Hỏi: Máy của tôi gần đây chạy chậm và hay
bị treo máy. Tôi cho chạy ScanDisk với kiểu kiểm tra (Type of test) là
Thorough và chọn Automatically fix errors (tự động sửa lỗi) nhưng chỉ chạy
được khoảng 10% thì máy bị đứng. Có cách nào để khắc phục không?
Đáp: Khi chạy ScanDisk, chọn kiểu kiểm tra là Throrough và bấm chọn nút
Options Khi xuất hiện khung thoại “Surface Scan Options”, chọn “Data area
only” và “Do not perform write-testing” (xem hình), rồi bấm OK, bấm Start để
bắt đầu kiểm tra đĩa. Nếu đĩa cứng không gặp vấn đề gì quá nghiêm trọng thì
hy vọng bạn vượt qua được “cửa ải” này. Nếu kiểm tra thành công, Bạn có thể
chạy lại ScanDisk nhưng lần này chọn “System area only” (tất nhiên vẫn chọn
“Do not perform write-testing”). Nếu việc kiểm tra lần thứ hai diễn ra suôn sẽ
thì bạn thử cho chạy lại ScanDisk lần thứ ba nhưng lần này chọn “System and
data areas” và không chọn “Do not perform write-testing”.
- Nếu lần kiểm tra thứ ba máy bị treo thì đĩa cứng của bạn có thể gặp vấn đề
khi ghi lên đĩa. Có nhiều nguyên nhân như: đĩa cứng có “lỗi” về phần cứng,
máy bị virus, trình điều khiển thiết bị đĩa cứng bị hư, có tranh chấp giữa các
phần mềm không tương thích, đĩa cứng quá nóng Trước khi “cầu cứu”
chuyên gia, bạn thử thực hiện các bước dưới đây:
- Tắt máy, chờ cho máy nguội khoảng 30 phút.
- Kiểm tra các cáp nguồn và cáp dữ liệu nối với đĩa cứng xem có bị lỏng
không. Nếu có thì gắn lại cho chặc.
- Bật máy lại. Nếu máy khởi động vào Windows bình thường, lưu lại tất cả
những dữ liệu cần thiết (phòng khi đĩa sắp bị hư thật sự). Đây là bước quan

tiếp tục xuất hiện và máy cũng không quá nóng thì đĩa cứng của bạn có trục
trặc về vật lý, bạn cần liên hệ với nhà cung cấp nếu còn thời gian bảo hành.
Hỏi: Tại sao hệ thống của tôi (chạy Windows 2000) bị treo và hiển thị lỗi
0x00000054 trên một màn hình xanh?
Đáp: Bạn có thể nhận được thông báo lỗi này khi bạn gán một ký tự ổ đĩa cho
một phân vùng (partition) đĩa chưa được định dạng. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào
cấu hình, máy có thể tự động khởi động lại trước khi bạn có thể phát hiện được
vấn đề. Cho dù máy của bạn có khởi động lại hay không, bạn có thể thấy trong
bản ghi nhật ký sự cố (event log), phần thông tin về lỗi như sau:
Event Type: Information
Event Source: Save Dump
Event Category: None
Event ID: 1001
Description: The computer has rebooted from a bugcheck.
The bugcheck was: 0x00000054 (0x003612ca, 0xf2688d00, 0x00000000,
0x00000000).
Để giải quyết lỗi này, Bạn thực hiện một trong các động tác sau:
* Sử dụng thành phần Disk Management của Computer Management Microsoft
Management Console (MMC) của Windows 2000 để xóa phân vùng chưa được
định dạng.
* Sử dụng thành phần Disk Management của Computer Management MMC
của Win2K để định dạng phân vùng.
* Sử dụng thành phần Disk Management của Computer Management MMC
của Win2K để gỡ bỏ ký tự ổ đĩa.
Để chạy thành phần Disk management của MMC trong Win2K Professional,
Bạn dùng chuột bấm chọn các mục theo trình tự như sau (tất nhiên với điều
kiện là Bạn phải đăng ký vào máy bằng tài khoản người dùng có quyền hạn của
một local Administrator)
Start \Settings \Control Panel \Administrative Tools \Computer
Management \Disk management.

chung, những bo mạch chủ này không hỗ trợ UDMA 100 mà các đĩa cứng có
đặc trưng kỹ thuật ATA/100 yêu cầu (những bo mạch chủ này thường chỉ hỗ
trợ UDMA 33 hay UDMA 33/66). Rõ ràng là ổ đĩa không báo cho hệ thống
biết về khả năng tương thích lùi (backward compatibility), và vì quá trình cài
đặt Win2K lại chú ý rất kỹ về phần cứng, hệ thống bị treo ở điểm này
Có thể thực hiện 1 trong hai giải pháp sau để khắc phục:
* Nâng cấp BIOS của bạn, nếu việc làm đó sẽ cho phép hệ thống của bạn hỗ trợ
ATA/100 (UDMA 100).
* Thực hiện những thay đổi sau đây đối với BIOS của bạn:
1. Vào BIOS và vô hiệu hóa (tắt) UDMA trên kênh IDE nối với đĩa cứng của
Bạn (chẳng hạn kênh Primary IDE).
2. Vẫn ở trong BIOS, thiết lập chế độ programmed input/output (PIO) ở Mode
4 thay vì để auto.
3. Cài đặt Win2K. Việc cài đặt sẽ tiếp tục mà không gặp rắc rối gì.
4. Khôi phục lại hai thay đổi đối với BIOS mà bạn đã thực hiện ở bước 1 và 2
trở lại các trị đã có trước đó và xem thử Win2K có còn chạy ổn định không.
5. Nếu Win2K không ổn định, có lẽ cần sẽ cần phải giữ lại 2 thay đổi mà bạn
đã thực hiện đối với BIOS nếu như Bạn vẫn sử dụng ổ đĩa đó.
Bạn nên sử dụng ổ đĩa cứng ATA/100 với một bo mạch chủ cũng hỗ trợ
22
Giáo Trình Xử Lý Sự Cố Máy Tính KTV: Lâm Văn Hậu
Email: Tel: 01688 795 090.
ATA/100.
Hỏi: Khi cài đặt Windows 2000 tôi gặp phải lỗi "Windows 2000 could not
locate your hard disk". Tại sao xảy ra chuyện này?
Đáp: Có nhiều khả năng Bạn cần phải cài đặt các trình điều khiển thiết bị lưu
trữ đệ tam nhân (third party mass storage device drivers) vào lúc bắt đầu quá
trình cài đặt bằng cách nhấn phím F6. Bước này sẽ cho phép Bạn mô tả và cài
đặt các trình điều khiển SCSI hay UDMA 100/66 do hãng sản xuất cung cấp.
Hỏi: Tôi có một hệ thống dual-boot gồm Windows 98SE và Windows 2000

Khi trong máy có tới hai HDD, bạn phải cẩn thận chọn đúng HDD mình muốn
“xử”.
_ Trên màn hình chọn loại hệ điều hành, bạn chọn loại dự định sử dụng.
Có các tùy chọn:
- Windows 95, 95A, 95 OSR1 (FAT 16)
- Windows 95 OSR2, 98, 98SE, Me, 2000 (FAT 16 or 32)
- Windows NT 3.51 (or earlier)
23
Giáo Trình Xử Lý Sự Cố Máy Tính KTV: Lâm Văn Hậu
Email: Tel: 01688 795 090.
- Windows NT 4.0 (or later) or OS/2
- DOS/Windows 3.1x (FAT 16)
- Other Operating System
Bạn nên chọn mục 2 Windows 95 OSR2, 98, 98SE, Me, 2000 (FAT 16 or 32)
cho nó rộng đường “binh” sau này.
_ DM hỏi bạn có đồng ý cho nó format HDD bằng hệ thống file FAT 32 hay
không? Nên chọn Yes.
_ Trên menu Select a Partition Option, bạn chọn một tùy chọn phân vùng (hay
gọi là chia partition) mà mình muốn.
_ Nếu muốn để nguyên HDD làm một partition, bạn chọn OPTION (A).
Nếu để DM chia thành bốn partition bằng nhau, bạn chọn OPTION (B).
Còn trong trường hợp muốn phân các vùng có dung lượng khác nhau theo ý
mình, bạn chọn OPTION (C).
Xin lưu ý: Khi chia HDD ra càng nhiều vùng, bạn sẽ càng mất nhiều tài nguyên
cho chuyện quản lý từng vùng và tốc độ HDD sẽ bị chậm lại. Với các HDD có
dung lượng lớn, dứt khoát bạn phải chia vùng để những phần mềm hệ thống cũ
chẳng bị “sốc”, có thể nhận diện được; đồng thời khi cần xóa phân mảnh
(defragment), công cụ này chạy nhẹ hơn và nhanh hơn.
Bạn lần lượt gõ dung lượng từng vùng vào hộp Size of Partition.
Với BestCrypt bạn có thể tạo nhiều ổ đĩa “ảo” trên một ổ đĩa “thực” và chỉ có

- Bấm phím bất kỳ liên tục cho đến khi nút OK trong hộp thoại Seed value
generation có hiệu lực, bấm OK.
- Format ổ đĩa ảo theo FAT, FAT32 hay NTFS.
2/ “Cài/Gỡ” ổ đĩa ảo
- Để sử dụng, bạn cần phải “cài” (mount) ổ đĩa ảo vào hệ thống bằng cách chọn
file container rồi chọn menu Container/Mount (hay bấm phím phải chuột lên
file để mở menu rút gọn). Trong hộp thoại Enter Password, chỉ định ký tự ổ
đĩa, nhập mật khẩu, chọn Auto Mount để tự động cài ổ đĩa ảo mỗi khi khởi
động Windows, chọn Read only (chỉ đọc) nếu không cho phép ghi. Chú ý: Các
ổ đĩa ảo mới tạo sẽ tự động được cài vào hệ thống ngay lập tức.
- Để gỡ ổ đĩa ảo, chọn ổ đĩa đang cài rồi chọn menu Container/Dismount.
3/ Thay đổi xác lập
Đối với những ổ đĩa ảo chưa “cài”, bạn bấm phím phải chuột vào file container
rồi chọn Properties. Trong hộp thoại Change container properties, bạn có thể
thay đổi tên và di chuyển file container, thay đổi các mã hoá và mật khẩu, thêm
hay bỏ bớt mật khẩu (khi có nhiều người cùng sử dụng file container).
Bạn có thể tải phần mềm và đăng ký key bản quyền tại website
hay tìm key trên đĩa CDROM ở các cửa hàng dịch vụ
Tin học.
Giải quyết sự cố đĩa cứng
Như thường lệ, khi bật máy tính, thay vì logo Windows quen thuộc, thì hôm
nay bạn chẳng nhìn thấy gì cả. Bạn nghĩ, thế là đĩa cứng của mình đi đứt rồi!,
và bắt đầu lo lắng, phải làm gì đây?
Cũng giống như viên phi công khi đối mặt với một sự cố nghiêm trọng: dùng
cuốn cẩm nang cứu hộ và cố gắng chỉnh từng thứ một.
1. Ðừng quá lo lắng: Màn hình trống rỗng hoặc trục trặc trong quá trình khởi
động không phải lúc nào cũng do hỏng đĩa cứng. Ðĩa cứng hiện nay thường thọ
hơn các bộ phận khác của PC, cũng như việc chạy các tiện ích hệ thống không
cần thiết hoặc thay và cài đặt lại phần cứng thường.
2. Khởi động lại: Tắt máy tính, chờ 10 giây, và bật máy lại. Ðộng tác này sẽ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status