23 phương hướng và biện pháp nhằm hoàn thiện kế toán nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá tại cửa hàng bách hoá 12 bờ hồ hà nội - Pdf 21

Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
Chơng I
Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện kế toán
nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá ở doanh nghiệp thơng mại
trong điều kiện hiện nay.
I. Những vấn đề chung về nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá
1. Doanh nghiệp thơng mại trong nền kinh tế thị trờng.
1.1 Đặc điểm của nền kinh tế thị trờng.
Trong quá trình phát triển, loài ngời đã trải qua năm hình thái kinh tế xã hội
với hai phơng thức sản xuất hàng hoá. Nền kinh tế thị trờng ra đời và phát triển khi
nền sản xuất hàng hoá phát triển, sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc
hay có thể nói đây là nền kinh tế mà mọi mối quan hệ kinh tế xã hội cơ bản đợc
giải quyết thông qua thị trờng và cơ chế thị trờng, do các quy luật của thị trờng
điều tiết và chi phối.
Thị trờng là nơi tập trung các mâu thuẫn của sản xuất hàng hoá, là mục tiêu
khởi điểm của quá trình kinh doanh và cũng là nơi kết thúc quá trình kinh doanh. Giá
cả thị trờng giữ vai trò quan trọng điều tiết nền sản xuất xã hội, kích thích sản xuất
hàng hoá, quan hệ cung cầu trên thị trờng là yếu tố quyết đinh đến giá cả của thị tr-
ờng.
Cho tới nay kinh tế thị trờng vẫn tỏ ra là một mô hình kinh tế u việt nhất,
hiệu quả nhất, đầy sức sống và sức thuyết phục nhất bởi lẽ nó chứa đầy đủ những u
việt sau:
Kinh tế thị trờng có khả năng tạo ra hàng hoá, dịch vụ phong phú là không
gian phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của quốc gia.
Thúc đẩy quá trình xã hội hoá sản xuất nhanh chóng làm cho sự chuyên
môn hoá sâu sắc, hình thành các mối quan hệ lẫn nhau giữa các thành phần kinh
tế. Tạo điều kiện tốt cho mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp tự do kinh doanh buôn
bán trong một giới hạn cho phép.
Ngô Thị Hơng Giang- K33-D7 Trang
1
Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp

Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
gắn liền với sự mua gian bán lận, đầu cơ tích trữ, dùng mọi thủ đoạn để thao túng
thị trờng rồi đối tợng chịu thiệt vẫn là ngời tiêu dùng.
Kinh tế thị trờng gây ra sự phân hoá giầu nghèo rất sâu sắc, gây ra những
mất cân đối về kinh tế, xã hội.
Từ khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới kinh tế, từ kinh tế tập trung quan
liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc cho đến nay
kinh tế nớc ta đã đi vào thế ổn định và không ngừng phát triển từng bớc hoà nhập
vào nền kinh tế khu vực cũng nh thế giới. Cùng với việc mở rộng thị trờng trong n-
ớc, quan hệ quốc tế cũng đợc củng cố và phát triển theo xu hớng thời đại. Kinh tế
đối ngoại trở thành mục tiêu quan trọng trong tiến trình cải tiến kinh tế. Việc bình
thờng hoá quan hệ với Mỹ, Trung Quốc, gia nhập ASEAN là tiền đề cho nền kinh
tế hội nhập và phát triển.
1.2. Hoạt động của các doanh nghiệp thơng mại trong nền kinh tế thị trờng.
Doanh nghiệp thơng mại là bộ phận cấu thành của nền kinh tế, nó là cầu nối
giữa sản xuất và tiêu dùng. Doanh nghiệp thơng mại là làm cho hàng hoá đa từ nơi
thừa đến nơi thiếu nhằm thoả mãn nhu cầu của ngời tiêu dùng. Doanh nghiệp th-
ơng mại kích thích sản xuất phát triển, phát triển thị trờng mới, du nhập khoa học
kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất,..
Trong nền kinh tế thị trờng kinh doanh thơng mại là một lĩnh vực đóng góp
quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế. Doanh nghiệp thơng mại chịu sự tác
động của rất nhiều quy luật kinh tế, tuy nhiên có 3 quy luật đặc trng của kinh tế thị
trờng đóng vai trò quyết định đối với cơ chế hoạt động của nó đó là: quy luật giá
trị, quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh. Đồng thời chịu sự điều tiết của Nhà
nớc thông qua pháp luật, chính sách và đòn bẩy kinh tế.
Doanh nghiệp thơng mại là một hệ thống mở bởi hoạt động của nó có liên quan
và chịu ảnh hởng cuả nhiều yếu tố nh: vốn, nguyên vật liệu, công nghệ, khách hàng,..
Trong doanh nghiệp thơng mại các bộ phận cũng có mục tiêu riêng, việc thực hiện
từng mục tiêu bộ phận nhằm thực hiện mục tiêu chung của doanh nghiệp. Mục tiêu
hoạt động của doanh nghiệp thơng mại là lợi nhuận. Các loại hình của doanh nghiệp

hoá. ở giai đoạn này, hình thái hàng hoá sẽ đợc chuyển sang hình thái tiền tệ (H -
T), là quá trình ngời bán chuyển quyền sở hữu về hàng hoá cho ngời mua và nhận
quyền sở hữu về tiền tệ hoặc quyền đòi tiền của ngời mua.
Nh vậy, ta thấy tiêu thụ hàng hoá là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản
xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp. Tiêu thụ hàng
hoá là cầu nối trung gian giữa một bên là sản xuất và phân phối với một bên là tiêu
Ngô Thị Hơng Giang- K33-D7 Trang
4
Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
dùng. Từ đó ta thấy một quá trình tiêu thụ hợp lý sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao
cho doanh nghiệp. Không nh trớc đây hiện nay các doanh nghiệp phải lăn lộn vào
thị trờng để tìm kiếm khách hàng trở thành thợng đế của doanh nghiệp. Trong thực
tế nhiều doanh nghiệp có hàng tốt nhng vẫn không tiêu thụ đợc vì không biết cách
tổ chức tiêu thụ, không đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xã hội. Vì vậy, để tiêu thụ sản
phẩm hàng hoá, đảm bảo kinh doanh có lãi thực sự không phải là vấn đề đơn giản,
đòi hỏi doanh nghiệp đặc biệt quan tâm từ khâu quản lý cho đến khâu hoạt động.
Tiêu thụ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp thơng mại bởi
tiêu thụ hàng hoá là phơng tiện cho doanh nghiệp đạt đợc mục tiêu lợi nhuận, đồng
thời phản ánh chính xác hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh
nghiệp thơng mại chủ yếu thực hiện các công việc mua bán hàng hoá trong đó bán
hàng là sự cụ thể hoá những cố gắng thơng mại của doanh nghiệp. Bán hàng là
khâu cuối cùng trong kinh doanh của doanh nghiệp thơng mại. Nó trực tiếp thực
hiện chức năng lu thông hàng hoá phục vụ sản xuất và đời sống xã hội. Do vậy,
tiêu thụ hàng hoá thể hiện trình độ và khả năng của doanh nghiệp trong việc đáp
ứng nhu cầu của xã hội. Tiêu thụ hàng hoá là thể hiện quy mô kinh doanh của
doanh nghiệp về tài chính, về cơ sở vật chất kỹ thuật, về nguồn lực con ngời. Mở
rộng tiêu thụ hàng hoá là con đờng để doanh nghiệp nâng cao đợc hiệu quả sản
xuất kinh doanh của mình.
Tóm lại, về phơng diện xã hội, tiêu thụ hàng hoá có vai trò đáp ứng thoả
mãn nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của con ngời, nhu cầu về t liệu sản xuất của các tổ

tính chuyên môn của thị trờng, để nâng cao hiệu quả sản xuất mà doanh nghiệp sản
xuất đã chuyển việc bán hàng cho các doanh nghiệp thơng mại. Hoạt động tiêu thụ
hàng hoá thể hiện sự gặp gỡ giữa sản phẩm và tiêu dùng vào một thời điểm mấu
chốt với doanh nghiệp lúc sản phẩm hàng hoá đợc bán.
Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp thơng mại: T- H -T
'

T - H: Đây là quá trình mua hàng hoá của doanh nghiệp, là điều kiện cần để
tiến hành tiêu thụ hàng hoá. Muốn tiêu thụ hàng hoá tốt thì doanh nghiệp phải lựa
chọn hàng mua phù hợp về chất lợng, mẫu mã đáp ứng đợc nhu cầu tiêu dùng.
H -T
'
: Đây là quá trình tiêu thụ hàng hoá, bắt đầu từ khi doanh nghiệp
chuyển sản phẩm hàng hoá cho ngời tiêu dùng đồng thời ngời tiêu dùng phải trả
cho doanh nghiệp một khoản tiền tơng ứng. Nh vậy, ngời bán mất quyền sở hữu về
hàng hoá và chuyển quyền đó cho ngời mua còn ngời mua thì mất quyền sở hữu về
tiền tệ và chuyển quyền sở hữu đó sang cho ngời bán. Tuỳ theo chính sách phân
phối hàng hoá của doanh nghiệp mà hàng hoá đợc bán một lần hay nhiều lần. Ngời
mua bao giờ cũng mong muốn mua đợc hàng hoá đúng ý mình với giá mà họ sẵn
Ngô Thị Hơng Giang- K33-D7 Trang
6
Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
sàng bỏ ra chi tiêu. Ngời bán mong muốn bán đợc càng nhiều hàng càng tốt với giá
bán có thể chấp nhận đợc.
Để giúp cho quá trình tiêu thụ hàng hoá đạt hiệu quả, ngời bán phải tạo đợc
uy tín với ngời mua, thể hiện qua việc đảm bảo hàng hoá tốt về phảm chất cũng nh
chất lợng cung ứng đủ nhu cầu tiêu thụ hàng ngày. Ngoài ra, ngời bán phải xác
định đúng đắn thời đIểm hàng hoá đợc coi là tiêu thụ và phạm vi bán hàng tránh
hiện tợng bán hàng không đúng khu vực nhu cầu dân c.
2.2.1. Các phơng thức tiêu thụ hàng hoá.

hiện. Đối với hình thức này thì mọi tổn thất và thiếu hụt hàng hoá trong quá trình
chuyên chở hàng bên mua hoàn toàn chịu trách nhiệm.
+ Bán buôn qua kho theo hình thức gửi hàng: Căn cứ vào hợp đồng kinh tế
đã ký kết ngời ta tiến hành chuyển hàng hoá đến cho khách hàng theo một địa
điểm trớc trong hợp đồng. Khi hàng hoá đợc xuất ra khỏi kho, nó vẫn thuộc quyền
sở hữu của ngời bán do đó ngời bán vẫn theo dõi sổ hàng này nh một hàng tồn kho
của doanh nghiệp. Tại địa điểm giao hàng khi ngời mua nhận hàng và ký nhận
chứng từ thì sẽ di chuyển quyền sở hữu từ ngời bán sang ngời mua, trách nhiệm và
rủi ro về hàng hoá đợc chuyển từ ngời bán sang ngời mua đó là thời điểm hoạt
động bán hàng đợc thực hiện.
a2. Bán buôn chuyển thẳng.
Bán buôn chuyển thẳng là phơng thức bán hàng bán khi mua không nhập về
kho của doanh nghiệp mà chuyển thẳng từ ngời cung cấp của ngời bán buôn cho ngời
mua. Tơng tự nh bán buôn qua kho, bán buôn chuyển thẳng có hai hình thức bán:
+ Bán buôn chuyển thẳng theo hình thức lấy hàng hay còn gọi là hình thức
giao tay ba. Đơn vị cung cấp, bên mua, bến bán cùng giao nhận hàng hoá, bên
mua ký xác nhận vào hoá đơn bán hàng. Khi thủ tục giao nhận hoàn thành thì hàng
hoá đợc xác nhận là tiêu thụ. Kế toán doanh nghiệp phản ánh doanh thu bán hàng
và thanh toán tiền cho đơn vị cung cấp. Đơn vị mua thực hiện vận chuyển hàng hoá
từ đơn vị cung cấp, mọi tổn thất xẩy ra trong quá trình vận chuyển, trách nhiệm
thuộc về đơn vị mua, tuỳ theo từng nguyên nhân phát sinh mà xử lý cho thích hợp.
+ Bán buôn chụyển thẳng theo hình thức gửi hàng. Đơn vị bán buôn trực
tiếp nhận hàng từ đơn vị cung cấp và chuyển thẳng cho đơn vị mua bằng phơng
tiện của mình hay thuê ngoài. Khi bên mua tiếp nhận đợc hàng và chấp nhận thanh
toán thì hàng hoá xác định là tiêu thụ. Cũng nh bán buôn qua kho theo hình thức
gửi hàng, mọi tổn thất, thiếu hụt hàng hoá phát sinh trong quá trình vận chuyển
Ngô Thị Hơng Giang- K33-D7 Trang
8
Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
bên đơn vị bán phải chịu trách nhiệmvà khi khách hàng nhận đợc hàng và ký nhận

Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
Bên nhận đại lý là phơng thức bán hàng mà doanh nghiệp giao hàng cho một
tổ chức kinh tế khác và nhận tiền bán hàng khi đơn vị này tiêu thụ đợc hàng hoá.
Doanh nghiệp phải trả một khoản hoa hồng cho đơn vị nhận đại lý và hạch toán
khoản này vào chi phí bán hàng. Khi phát sinh nghiệp vụ này, hai bên phải tiến
hành ký kết hợp đồng, xác định rõ mặt hàng giao đại lý, giá bán cha thuế, thuế
VAT, tỷ lệ hoa hồng, phơng thức thanh toán, phơng thức giao nhận. Đồng thời hai
bên phải xác định rõ nghiệp vụ và quyền lợi của từng bên.
- Đối với bên giao đại lý: Đây là đơn vị chủ hàng nên họ phải quản lý chặt
chẽ số hàng đã giao cho từng cơ sở kể từ khi giao hàng cho đến khi xác định tiêu
thụ và đợc phép tính doanh thu bán hàng. Về trách nhiệm, sau khi hàng hoá đợc
xác định là tiêu thụ ( nhận đợc tiền của cơ sở đại lý ) thì bên giao đại lý phải thanh
toán đầy đủ kịp thời cho ngời nhận đại lý hoa hồng.
- Đối với ngời nhận đại lý: Phải có trách nhiệm quản lý số hàng đã nhận, tổ
chức bán và thanh toán đầy đủ tiền hàng kịp thời cho ngời giao đại lý khi hàng hoá
đã tiêu thụ. Về quyền lợi, ngời nhận đại lý phải đợc hởng khoản tiền hoa hồng để
bù đắp chi phí và hình thành lợi nhuận.
d. Bán hàng trả góp.
Bán hàng trả góp là phơng thức bán hàng mà tiền hàng thu làm nhiều lần.
Tổng số tiền thu bao gồm số tiền theo giá trị bán thông thờng ( bán thu lần ) và số
tiền lại mà ngời mua phải trả do trả chậm nhiều lần và số tiền lãi này kế toán thu
vào hoạt động tài chính.
Trên đây là bốn phơng thức bán hàng, tuỳ từng mặt hàng tiêu thụ, đặc đIểm
quy mô và loại hình kinh doanh mà doanh nghiệp lựa chọn cho mình phơng thức
hợp lý nhất góp phần thu hút khách hàng, nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh
nghiệp.
2.2.2. Phạm vi và thời điểm xác định hàng hoá:
Trong doanh nghiệp thơng maị, quá trình tiêu thụ hàng hoá đợc bắt đầu
từ khi doanh nghiệp chuyển giao sản phẩm hàng hóa cho khách hàng, đồng thời
khách hàng phải trả tiền theo sự thoả thuận mua bán giữa hai bên và quá trình này

đIểm này đảm bảo nguyên tắc phù hợp của kế toán.
Ngô Thị Hơng Giang- K33-D7 Trang
11
Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
2.2.3 Giá cả hàng hoá.
Giá cả là một đặc trng của một sản phẩm mà ngời tiêu dùng có thể nhận
thấy trực tiếp nhất. Đây là dấu hiệu vừa mang tính kinh tế, cần phải trả bao nhiêu
để có, vừa mang dấu hiệu tâm lý xã hội, nhng giá trị thu đợc khi tiêu dùng sản
phẩm và vừa mang dấu hiệu về một mức chất lợng giả định. Ngoài ra, giá còn là
một yếu tố tạo ra sức cạnh tranh trong nền kinh tế và cũng rất quan trọng trong quá
trình tiêu thụ hàng hoá. Vì vậy, mỗi doanh nghiệp phải xác định cho mình một
chính sách giá phù hợp cho từng loại thị trờng, từng loại khách hàng về mặt hàng
kinh doanh của mình. Một mức giá hợp lý, thích hợp sẽ đẩy nhanh mức tiêu thụ
của hàng hoá, tăng sức cạnh tranh trên thị trờng. Tuỳ từng thời kỳ, địa đIểm kinh
doanh, thị trờng tiêu thụ mà có những chính sách khác nhau cho phù hợp.
Chính sách định giá thấp: nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, đặc biết đối
với những doanh nghiệp đang xâm nhập vào thị trờng.
Chính sách định giá cao: khi doanh nghiệp đã thực sự củng cố đợc sức mạnh,
vị thế trên thị trờng, sản phẩm độc quyền rất đợc a chuộng thì sẽ chọn chính sách này.
Chính sách giá biến đổi: giá cả các mặt hàng sẽ đợc áp dụng một cách linh
hoạt theo sự biến đổi của thị trờng.
Khi đã xây dựng một chính sách gía phù hợp, doanh nghiệp sẽ xác định đợc
giá bán cho từng loại hàng hoá. Doanh nghiệp xác định giá bán dựa trên cơ sở mua
thực tế và giá bán phải đảm bảo bù đắp chi phí và thu nhập của doanh nghiệp và
mục đích cuối cùng của hoạt động kinh doanh là kiếm lời. Tuy nhiên mức giá này
phải đợc thị trờng chấp nhận.
Để xác định đợc giá bán hợp lý có thể dựa vào công thức sau:
Trong các doanh nghiệp thơng mại:
Giá bán = Giá mua thực tế + Thặng số thơng mại
Trong đó: Thặng số thơng mại là khoản chênh lệch giữa giá bán và giá mua thực tế

Giá bình quân
Trị giá hàng tồn đầu kỳ+ trị giá hàng nhập trong kỳ
của hàng luân chuyển
trong kỳ
Số lợng hàng tồn đầu kỳ + số lợng hàng nhập trong kỳ
Khi đó giá vốn của từng mặt hàng tiêu thụ đợc xác định.:
Giá vốn của hàng = giá bình quân từng mặt hàng ì số lợng hàng hóa
Ngô Thị Hơng Giang- K33-D7 Trang
13
Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
Xuất kho tiêu thụ
* Phơng pháp nhập trớc, xuất trớc:
Theo phơng pháp này, quản lý hàng hoá theo từng nhóm hàng, lô hàng, lô nào
nhập trớc thì xuất trớc, nhập sau xuất sau, đảm bảo đơn giản trong việc bố trí kho
hàng, vận chuyển hàng hoá thuận tiện, hàng hoá xuất ra đảm bảo chất lợng nhng
khó xác định giá trị thực tế.
Giá vốn hàng bán = Trị giá hàng hoá sẵn có để bán - Giá vốn hàng tồn kho
Giá vốn hàng tồn kho = Số lợng hàng tồn kho ì Giá mua lần cuối
*Phơng pháp nhập sau, xuất trớc:
ở phơng pháp này, hàng hoá nhập kho sau lại đợc xuất trớc. Do đó hàng hoá
tồn kho cuối kỳ là những hàng hoá tồn đầu kỳ và là hàng hoá cũ nhất. Phơng pháp
này đảm bảo giá trị thự tế của hàng hoá nhng hàng hoá xuất bán sau không đảm
bảo chất lợng nên phải bảo quản hàng hoá cẩn thận.
*Phơng pháp hệ số giá của hàng hoá.:
Đợc áp dụng cho các doanh nghiệp sử dụng giá hạch toán để kế toán bán
hàng. Phải xác định giá vốn của hàng hoá đã tiêu thụ trong kỳ đến cuối kỳ tính toán
khoản chênh lệch gía thực tế và giá hạch toán từ đó xác định giá vốn của hàng đã
tiêu thụ.
Trị giá vốn của hàng hoá = Hệ số giá ì Trị giá hạch toán
tiêu thụ trong kỳ của hàng hoá của hàng xuất kho

Đây là phơng thức thanh toán thể hiện sự vận động của hàng hoá và tiền tệ
không có khoảng cách về thời gian có nghĩa là đồng thới với việc giao nhậ hàng
hoá là việc thanh toán tiền của bên mua cho bên bán.
*Phơng thức thanh toán không trực tiếp (phơng thức thanh toán chậm):
Mối quan hệ giữa hàng hoá và tiền tệ có khoảng cách về không gian và thời
gian. Nghiệp vụ thanh toán không đợc thực hiện đồng thời với nghiệp vụ giao nhận
hàng hoá. Sau khi thực hiện xong việc giao nhận hàng hoá bên mua không trả tiền
ngay mà chấp nhận thanh toán.
Các phơng thức này đợc thực hiện bởi nhiều hình thức thanh toán khác nhau đó là:
- Thanh toán bằng tiền mặt.
- Thanh toán thông qua ngân hàng.
- Thanh toán bằng hình thức hàng đổi hàng.
2.2.4.1. Thanh toán bằng tiền mặt.
Ngô Thị Hơng Giang- K33-D7 Trang
15
Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
Là hình thức dùng tiền mặt, ngân phiếu trực tiếp để giao dịch, mua bán hàng
hoá dịch vụ, bên mua xuất tiền ngay để trả hoặc khi đến hạn thanh toán số tiền còn
chấp nhận nợ theo sự thỏa thuận của hai bên. Hình thức này thanh toán rất an toàn
đảm bảo khả năng thu tiền nhanh, tránh đợc rủi ro trong thanh toán.
2.2.4.2. Hình thức thanh toán thông qua ngân hàng:
Là hình thức thanh toán đợc thực hiện thông qua ngân hàng, thanh toán bù
trừ.. . Ngân hàng đóng vai trò là một tổ chức trung gian giúp cho cả hai bên mua
bán thanh toán đầy đủ chính xác và đúng luật. Một số hình thức thanh toán thông
qua Ngân hàng:
a. Thanh toán bằng séc:
Séc là lệnh trả tiền của chủ tài khoản đợc lập trên mẫu do Ngân hàng nhà n-
ớc yêu cầu. Đơn vị thanh toán trích một số tiền từ tiền gửi của mình để trả cho ngời
thụ hởng trên séc hoặc ngời cầm séc. Có nhiều loại séc khác nhau nh: séc bảo chi,
séc thuộc sổ séc định mức,..

lại tham gia vào vòng tuần hoàn mới. Vốn của doanh nghiệp càng nhanh thì doanh
nghiệp càng thu đợc hiệu quả cao thông qua việc thanh toán gọn. Vì vậy, doanh
nghiệp phảI áp dụng linh hoạt các phơng thc thanh toán tuỳ theo từng thơng vụ,
phơng thức bán hàng để đảm bảo thu tiền nhanh chóng và đầy đủ nhất.
II. Yêu cầu quản lý nghiệp vụ tiêu thụ và nhiệm vụ của kế toán nghiệp vụ tiêu
thụ hàng hoá.
1. Yêu cầu quản lý nghiệp vụ tiêu thụ:
Cũng nh mọi hoạt động khác, quá trình tiêu thụ hàng hoá chịu sự quản lý và
theo dõi của nhiều đối tợng: Chủ doanh nghiệp , bạn hàng, các cổ đông, các cơ
quan chức năng, cơ quan thuế, pháp luật,..
Trong doanh nghiệp thơng mại, quản lý nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá chính là
quản lý hàng hoá về số lợng, chất lợng, giá cả, trị giá vốn hàng hoá,.. trong quá
trình vận động từ khâu mua đến khâu xuất bán. Công tác này đòi hỏi phải thờng
xuyên chỉ đạo bán ra theo kế hoạch, kịp thời phát hiện những biến động của thị tr-
ờng để đIều chỉnh hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Đồng thời cũng phải đa ra
Ngô Thị Hơng Giang- K33-D7 Trang
17
Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
các định mức kế hoạch về chi phí, kết quả, năng suất lao động, thời gian chu
chuyển vốn,..
Quản lý nghiệp vụ tiêu thụ theo các mặt:
+ Quản lý về số lợng, chất lợng, trị giá hàng hoá.
Theo dõi tình hình thực hiện kế hoạch bán tại từng cửa hàng, bộ phận kinh doanh
và toàn bộ doanh nghiệp. Phải nắm đợc danh mục các mặt hàng kinh doanh trong
đó loại nào đem lại hiệu quả nhất, luôn luôn có xu hớng đổi mới, cải tiến và mở
rộng mặt hàng kinh doanh. Công tác quản lý phải dựa trên nguyên tắc chịu trách
nhiệm vật chất. Còn nhân viên bán hàng phải chịu trách nhiệm về chữ ký của mình
trên hoá đơn, phiếu xuất kho hoặc các chứng từ có liên quan trớc cơ quan quản lý.
Từ đó lập kế hoạch kinh doanh đúng đắn kịp thời.
+ Quản lý về giá cả:

Các thông tin kế toán phải cung cấp đầy đủ, kịp thời, có ích cho ngời sử
dụng. Kế toán tiêu thụ hàng hoá tiến hành mở sổ theo dõi chi tiết từng đơn vị, từng
mặt hàng nhằm đảm bảo và phát triển vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Thực hiện
tốt công tác kế toán nghiệp vu tiêu thụ giúp nhà quản lý có các quyết định đúng
đắn kịp thời.
Kế toán tiêu thụ nhằm thu nhập xử lý cung cấp các thông tin trong quá trình
bán hàng, đánh giá, phân tích, lựa chọn phơng án kinh doanh tối u. Kế toán nghiệp
vụ tiêu thụ hàng hoá có các nhiệm vụ cơ bản sau:
Thứ nhất: là ghi chép, kịp thời đầy đủ và chính xác tình hình tiêu thụ hàng
hoá của doanh nghiệp trong kỳ. Ngoài kế toán tổng hợp trên các tài khoản kế toán,
kế toán tiêu thụ cần phải ghi chép về số lợng, kết cấu chủng loại hàng hoá bán ra,
ghi chép doanh thu tiêu thụ, thuế GTGT đầu ra của từng nhóm, mặt hàng, theo
từng đơn vị: cửa hàng, quầy hàng,..
Thứ hai: Là tính toán giá mua thự tế của hàng hoá đã tiêu thụ nhằm xác định
kết quả bán hàng. Kiểm tra tình hình thu tiền bán hàng và quản lý tiền bán hàng
đối với hàng hoá bán chịu cần phải mở sổ sách ghi chép theo từng khách hàng, lô
hàng, số tiền khách nợ, thời hạn và tình hình trả nợ,..
Thứ ba: là cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác các thông tin cầ thiết về tình
hình tiêu thụ phục vụ cho việc chỉ đạo điều hành hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Kế toán nghiệp vụ tiêu thụ cung cấp các thông tĩn giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp,
các đối tợng quan tâm đến hoạt động của doanh nghiệp nắm đợc tình hình tiêu thụ
Ngô Thị Hơng Giang- K33-D7 Trang
19
Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
hàng hoá để có những biện pháp đIều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế hoặc
đa ra quyế định đầu t đúng đắn.
Kế toán nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá phải lu giữ các chứng từ, sổ sách liên
quan đến quá trình tiêu thụ hàng hoá dựa trên cơ sở nhiệm vụ chung của kế toán để
phục vụ công tác kiểm tra, thanh tra của các cơ quan quản lý. Kế toán nghiệp vụ

toán, xem xét lự chọn phơng án nào đem lại hiệu quả kinh doanh cao nhất cho
doanh nghiệp.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, yêu cầu quản lý doanh nghiệp ngày
càng cao mà kế toán lại là công cụ cần thiết, sắc bén để quản lý kinh tế, do đó yêu
cầu quản lý đối với nghiệp vụ tiêu thụ đòi hỏi rất cao.
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong việc áp dụng vào số liệu tự động
hoá khẳ năng thu nhập, xử lý các thông tin trên máy vi tính một cách nhanh gọn,
chính xác, đơn giản hoá các công việc ghi chép thủ công, việc cài đặt phần mềm
trên máy rất thuận tiện, tuy nhiên cũng yêu cầu trình độ thao tác nhanh nhạy, linh
hoạt trong việc truy cập và xử lý thông tin kế toán. Để hoạt động kinh doanh có
hiêụ quả thì doanh nghiệp phải có các thông tin chính xác, kịp thời do kế toán cung
cấp. Sự thành bại của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào công tác kế toán. Kế toán
cung cấp thông tin cho tất cả những ai quan tâm đến doanh nghiệp nếu thông tin
chuẩn, kịp thời thì sẽ có quyết định đúng đắn và ngợc lại. Việc thực tiêu thụ diễn ra
rất nhiều mặt hàng khác nhau, do đó kế toán phải quản lý chặt chẽ tình hình tiêu
thụ của từng loại hàng, tình hình thanh toán công nợ của từng khách hàng.
Xuất phát từ những yêu cầu, đặc điểm hay quy mô cụ thể của từng doanh
nghiệp mà kế toán tổ chức hoàn thiện kế toán nghiệp vụ tiêu thu cho phù hợp. Kế
toán nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá là một quá trình quan trọng trong việc xác định
đầy đủ, chính xác kịp thời các thông tin của doanh nghiệp thơng mại, kết quả kinh
doanh và sự tồn tại phát triển cuả doanh nghiệp.
Do vậy, xuất phát từ đặc điểm của nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá, từ yêu cầu
quản lý và nhiệm vụ của kế toán nghiệp vụ tiêu thụ, từ thực tế ở các doanh nghiệp
mà cần thiết phải hoàn thiện kế toán nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá trong điều kiện
hiện nay.
2. Nội dung của việc hoàn thiện kế toán nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá.
Ngô Thị Hơng Giang- K33-D7 Trang
21
Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
Bất kỳ một hoạt động kinh tế nào cũng phải đợc theo dõi từ khi phát sinh

22
Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
đảm bảo an toàn, tránh mất mát, khi cần tìm đợc nhanh chóng, hết hạn lu trữ có thể
huỷ.
Do mỗi loại chứng từ có vị trí khác nhau trong quản lý và có đặc tính vận
động khác nhau nên trong kế toán phải xác lập kế toán luân chuyển chứng từ. Kế
toán luân chuyển chứng từ là con đờng thiết lập trớc cho quá trình vận động của
chứng từ nhằm phát huy đầy đủ chức năng thông tin kiểm tra của chứng từ. Nội
dung bắt buộc của một chơng trình luân chuyển chứng từ phải phản ánh từng giai
đoạn.
- Lập chứng từ theo các yếu tố của chứng từ. Chứng từ lập theo mẫu do Bộ
tài chính ban hành theo quyết định 188- TC/CĐ kế toán ngày 4/3/1995 (có sửa đổi
bổ sung), có đầy đủ chữ ký của bên liên quan.
- Kiểm tra chứng từ: Khi nhận chứng từ kế toán phải kiểm tra hợp lệ, hợp
pháp của chứng từ. Sau khi kiểm tra chứng từ mới là căn cứ ghi sổ kế toán.
- Bảo quản và sử dụng chứng từ trong kỳ hạch toán.
- Chuyển chứng từ vào lu chuyển và huỷ.
Đối với quá trình tiêu thụ, tuỳ theo từng hình thức, phơng pháp bán hàng, kế toán
thiêu thụ sử dụng chứng từ kế toán sau:
Hoá đơn giá trị gia tăng.
Phiếu xuất kho.
Biên bản thừa thiết hàng hoá.
Bảng thanh toán tiền đại lý.
Thẻ quầy hàng.
Bảng kê bán hàng.
Báo cáo bán hàng.
Các chứng từ khác có liên quan.
Chứng từ là một khâu quan trọng trong quá trình kế toán, chất lợng của công
tác kế toán phụ thuộc trớc hết vào chất lợng của chứng từ kế toán. Vì vậy, việc
Ngô Thị Hơng Giang- K33-D7 Trang

Ngô Thị Hơng Giang- K33-D7 Trang
24
Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
Nếu cơ sở kinh doanh là một cơ sở nhận gia công thì phần doanh thu bán hàng đợc
ghi nhận đó là tiềng gia công đợc hởng.
Các khoản giảm trừ doanh thu khi phát sinh ngời ta không hạch toán trực
tiếp vào tài khoản 511 mà nó đợc phản ánh trên tài khoản 531,532. Đến cuối kỳ kết
chuyển vào tài khoản 511 để xác định doanh thu thuần.
Tài khoản 511 phải tổ chức hạch toán chi tiết cho từng hoạt động và nó còn
đợc tổ chức hạch toán chi tiết phục vụ cho nhu cầu quản trị nội bộ doanh nghiệp.
- Kết cấu tài khoản 511.
Bên nợ: + Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu ( nếu có ) tính trên doanh số bán
trong kỳ.
+ Trị giá hàng bán bị trả lại, khoản giảm giá hàng bán phát sinh trong kỳ.
+ Kết chuyển doanh thu thuần vào tài khoản xác định kết quả kinh doanh.
Bên có: Doanh thu bán hàng của doanh nghiệp thực hiện trong kỳ hạch toán
Tài khoản 511 có bốn tài khoản cấp hai:
Tài khoản 5111: Doanh thu bán hàng.
Tài khoản 5112: Doanh thu bán thành phẩm.
Tài khoản 5113: Doanh thu bán dịch vụ.
Tài khoản 5114: Doanh thu trợ giá.
* Tài khoản 512: Doanh thu bán hàng nội bộ.
Tài khoản 512 để phản ánh doanh thu của số sản phẩm hàng hoá, dịch vụ,
lao vụ tiêu thụ trong nội bộ doanh nghiệp. Tài khoản này chỉ sử dụng cho các đơn
vị thành viên hạch toán phụ thuộc trong một công ty hoặc tổng công ty nhằm phản
ánh doanh số tiêu thụ nội bộ trong một kỳ hạch toán.
Tài khoản 512 không có số d và có 3 tài khoản chi tiết.
Tài khoản 5121: Doanh thu bán hàng nội bộ.
Tài khoản 5122: Doanh thu bán thành phẩm.
Ngô Thị Hơng Giang- K33-D7 Trang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status