CHuoNG 4
4.1 . DUNG SAI HÌNH DẠNG VÀ VỊ TRÍ
4.1.1. Sai lệch về hình dạng
a.Sai lệch hình dạng bề mặt trụ
Đối với trụ trong trơn thì sai lệch xét theo 2
phương :
- Sai lệch prôfin theo phương ngang: bao gồm
+ Sai lệch độ tròn là khoảng cách lớn nhất Δ từ các điểm của
prôfin thực tới vòng tròn áp
Khi phân tích sai lệch hình dạng theo phương ngang
người ta còn xét đến các hình dạng phần của sai lệch độ
tròn là độ ô van và độ phân cạnh.
+ Độ ô van là sai lệch độ tròn mà prôfin thực là hình ô
van
+ Độ đa cạnh là sai lệch về độ tròn mà prôfin thực là hình
nhiều cạnh
+ Sai lệch prôfin theo mặt cắt dọc trục :là khoảng cách
lớn nhất từ các điểm trên prôfin thực đến phía tương
ứng của prôfin áp
+ Độ côn là sai lệch của prôfin mặt cắt dọc mà các đường
sinh là những đường thẳng nhưng không song song với
nhau.
+ Độ phình là sai lệch của prôfin mặt cắt dọc mà các
đường sinh không thẳng và các đường kính tăng từ mép
biên đến giữa mặt cắt
+ Độ thắt là sai lệch của prôfin mặt cắt dọc mà các
đường sinh không thẳng và các đường kính giảm từ mép
dài Δ trên chiều dài phần chuẩn
Sai lệch về độ vuông góc của mặt phẳng hoặc đường tâm
đối với đường tâm là sai lệch góc giữa mặt phẳng hoặc
đường tâm và đường tâm chuẩn so với góc vuông, biểu
thị bằng đơn vị dài Δ trên chiều dài của phần chuẩn
Sai lệch về độ đối xứng đối với phần tử chuẩn là
khoảng cách lớn nhất Δ giữa mặt phẳng đối xứng
của phần tử được khảo sát và mặt phẳng đối xứng
của phần tử chuẩn trong giới hạn của phần chuẩn
Sai lệch về độ giao nhau của các đường tâm là khoảng
cách nhỏ nhất giữa các đường tâm giao nhau danh
nghĩa
Độ đảo hướng kính là hiệu Δ khoảng cách lớn nhất
và nhỏ nhất từ các điểm của prôfin thực của bề mặt
quay tới đường tâm chuẩn trong mặt cắt vuông góc
với đường tâm chuẩn
Độ đảo mặt đầu là hiệu Δ khoảng cách lớn nhất và
nhỏ nhất từ các điểm của prôfin thực của mặt đầu tới
mặt phẳng vuông góc với đường tâm chuẩn
4.1.4. Xác định dung sai hình dạng
và vị trí các bề mặt
Các ký hiệu dung sai hình dạng và vị trí các bề mặt
+ Đối với những chi tiết làm việc ở trạng thái chịu tải chu
kỳ và tải trọng động thì nhám là nhân tố tập trung ứng
suất dễ phát sinh dạn nứt làm giảm độ bền mỏi của chi
tiết
4.2.2. Chỉ tiêu đánh giá và tiểu chuẩn về
nhám bề mặt
Theo tiêu chuẩn nhà nước Việt Nam (TCVN 2511-95), để
đánh giá nhám người ta thường sử dụng hai chỉ tiêu sau:
+ Sai lệch trung bình số học của profin R
a
+ Chiều cao mấp mpp trung bình của peofin bề mặt theo
mười điểm R
z
Trong sản xuất sử dụng phổ biến R
a
vì nó giúp ta đánh giá
chính xác hơn, thuận lợi hơn những bề mặt có độ nhám
trung bình. Đối với bề mặt quá nhám hay quá mịn thì dùng
thong số R
z
đánh giá thì khả năng chính xác hơn là dùng
thông số R
a.
Nhám được chia ra làm 14 cấp khac nhau, trong đó nhám
cấp 1 là lớn nhất nhám cấp 14 là nhỏ nhất.
4.2.3. Xác định giá trị cho phép của thông số