Bài tiểu luận môn Thuế Nhà đất
Đề tài : “ Thực trạng và những vấn đề
cần giải quyết trong công tác thu, nộp
và quản lý thuế của nước ta hiện nay.
Đưa ra một số giải pháp cần giải quyết
một số tồn tại trong công tác quản lý,
thu, nộp thuế Nhà đất
Phần 1 : Đặt vấn đề
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Xuất phát từ đặc điểm của thuế là điều tiết thu nhập
của dân cư, nhà nước không hoàn trả trực tiếp,
ngang giá cho người nộp thuế, mà chỉ thông qua
việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ công cộng.
Nhà nước cần phải thu đúng, thu đủ để đảm bảo
chi cho các mục tiêu trên, còn người nộp thuế
thường muốn nộp thuế càng ít càng tốt.
1.1. Tính cấp thiết của đề tài(tiếp)
Do đó khi ý thức tự giác chấp hành pháp luật thuế
của người dân chưa cao thì tình trạng trốn thuế, nợ
thuế là điều không thể tránh khỏi, dẫn đến công
tác thuế luôn gặp những khó khăn nhất định.
Vì vậy, công tác thuế không phải chỉ riêng của ngành
thuế mà phải có sự tham gia của nhiều tổ chức cá
nhân, nhiều cấp, nhiều ngành, nhằm tạo sự đồng
thuận, sự phối hợp trong công tác thu ngân sách.
Phần 1 : Đặt vấn đề(tiếp)
1.2. Mục tiêu của đề tài
Tìm hiểu công tác thu nộp thuế của Nhà nước ta hiện
nay. Những thuận lợi và khó khăn trong công tác
thu nộp thuế hiện nay ra sao?
1.3. Nội dung và phạm vi nghiên cứu
Điện Biên). Điểm cực Đông 109024'Đ (trên bán đảo Hòn
Gốm thuộc xã Vạn Thạnh, Vạn Ninh - Khánh Hòa). Lãnh
thổ nước ta hẹp ngang, trải dài trên nhiều vĩ độ (15 vĩ độ).
2.2. Đặc điểm khí hậu
Việt Nam nằm hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới của
nửa cầu bắc, thiên về chí tuyến hơn là phía xích đạo.
Vị trí đó đã tạo cho Việt Nam có một nền nhiệt độ
cao. Nhiệt độ trung bình năm từ 22ºC đến 27ºC.
Hàng năm, có khoảng 100 ngày mưa với lượng mưa
trung bình từ 1.500 đến 2.000mm. Độ ẩm không khí
trên dưới 80%. Số giờ nắng khoảng 1.500 - 2.000
giờ, nhiệt bức xạ trung bình năm 100kcal/cm².
2.3. Đặc điểm địa hình
Lãnh thổ Việt Nam bao gồm ba phần tư là
đồi núi nhưng chủ yếu là đồi núi thấp, hai
đồng bằng lớn, nhiều sông, ngòi và có bờ
biển dài.
Phần đất liền (Bốn vùng núi chính)
Hai đồng bằng lớn
Vùng biển
2.4. Các nguồn tài nguyên
Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú như: tài nguyên
rừng, tài nguyên thủy hải sản, tài nguyên nước, tài nguyên
khoáng sản, tài nguyên du lịch và tài nguyên đất.
2.4.1. Tài nguyên rừng
Rừng của Việt Nam có nhiều loại cây gỗ quý như: đinh, lim,
sến, táu, cẩm lai, gụ, trắc, pơ mu Tính chung, các loài
thực vật bậc cao có tới 12.000 loài. Cây dược liệu có tới
1.500 loài. Lâm sản khác có nấm hương, nấm linh chi, mộc
nhĩ, mật ong Về động vật, ước tính ở Việt Nam có 1.000
dự báo khoảng 200-300 nghìn tấn, hàm lượng U3O8
trung bình là 0,1%); kim loại đen (sắt, măng gan,
titan); kim loại màu (nhôm, đồng, vàng, thiếc,
chì ); khoáng sản phi kim loại (apatit, pyrit ).
2.4. Các nguồn tài nguyên(tiếp)
2.4.5. Tài nguyên du lịch
Việt Nam là đất nước thuộc vùng nhiệt đới, bốn mùa xanh tươi. Địa
hình có núi, có rừng, có sông, có biển, có đồng bằng và có cả cao
nguyên. Núi non đã tạo nên những vùng cao có khí hậu rất gần với
ôn đới, nhiều hang động, ghềnh thác, đầm phá, nhiều điểm nghỉ
dưỡng và danh lam thắng cảnh như: Sa Pa (Lào Cai), Tam Đảo
(Vĩnh Phúc), Đà Lạt (Lâm Đồng), núi Bà Đen (Tây Ninh) ; động
Tam Thanh (Lạng Sơn), động Từ Thức (Thanh Hoá), Di sản thiên
nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình) ; thác Bản
Giốc (Cao Bằng), hồ Ba Bể (Bắc Kạn), hồ thuỷ điện Sông Đà (Hoà
Bình - Sơn La), hồ thuỷ điện Trị An (Đồng Nai), hồ thuỷ điện Yaly
(Tây Nguyên), hồ Thác Bà (Yên Bái), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh)
…
2.4. Các nguồn tài nguyên(tiếp)
2.4.6. Tài nguyên đất
Tổng số vốn đất đai tự nhiên ở Việt Nam là 33 triệu ha,
đứng hàng thứ 60 so với các nước trên thế giới, nhưng do
số dân đông (đứng hàng thứ 13 trong 205 nước) trên thế
giới cho nên số ha đất tự nhiên/đầu người thấp, chỉ vào
khoảng 0,51 ha. Đất nông nghiệp hiện có khoảng 6,9 triệu
ha, chiếm 21% so với đất tự nhiên, nếu tính diện tích đất
nông nghiệp/đầu người, chỉ vào khoảng 0,4 ha, hiện nay
giảm còn 0,1 ha, đây là một chỉ tiêu vào loại thấp nhất thế
giới, nếu so với toàn thế giới thì số liệu VN nhỏ hơn 12
lần (thế giới 1,2 ha đất nông nghiệp/đầu người).
của các sắc thuế khác không được mở rộng cho phù hợp với
yêu cầu phát triển mới. Như vậy, tăng số thu ngân sách
tuyệt đối phải phù hợp với nhu cầu chi tiêu ngân sách và
những cơ sở để đảm bảo khả năng tăng thu.
3.1. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
(tiếp)
Quy mô của hoạt động thu ngân sách cũng cần phải
được so sánh với quy mô nền kinh tế từng thời kỳ.
Không nhất thiết phải duy trì một tỷ lệ quá cao giữa
tổng thu ngân sách so với GDP bởi như vậy quy mô
của khu vực công có thể là quá lớn sẽ gây nên hiệu
ứng chèn lấn đầu tư khu vực tư nhân, trong khi điều
đáng nói là hiệu quả đầu tư của khu vực công luôn
thấp hơn so với khu vực tư nhân. Tuy nhiên, một tỷ
lệ quá thấp cũng gây áp lực lên các hoạt động chi
tiêu công, giảm các phản ứng chủ động linh hoạt của
chính phủ trước các bất ổn vĩ mô có thể phát sinh.
3.1. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
(tiếp)
Tạo ra một cơ cấu thu ngân sách hợp lý và bền vững
hơn cũng là một mục tiêu quan trọng của cải cách
thuế. Hiện tại cơ cấu nguồn thu ngân sách của Việt
Nam đang dần trở nên bất hợp lý, do quá phụ thuộc
vào xuất khẩu dầu thô, ngoại thương, và doanh
nghiệp nhà nước, trong khi những nguồn thu này lại
thiếu tính bền vững. Chính vì vậy, chiến lược cải
cách thuế còn phải hướng đến tái cấu trúc nguồn thu
thuế, đảm bảo tính bền vững hơn cho ngân sách
trong dài hạn.
3.1. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
hành chính thuế phải tập trung vào ba lĩnh vực bao
gồm giảm sự quá tải của hệ thống quản lý thuế,
giảm chi phí tuân thủ thuế và giảm chi phí quản lý
thu thuế.
3.1. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
(tiếp)
Sự quá tải của hệ thống quản lý thuế hiện nay không chỉ cho
thấy sự gia tăng về quy mô và tính phức tạp của hệ thống
thuế mà còn là sự lạc hậu của mô hình quản lý thuế cũ
không theo kịp với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh
tế. Thực trạng đó cho thấy sự cần thiết phải thay đổi một
cách căn bản và toàn diện phương thức quản lý một hệ
thống thuế mới phù hợp hơn, có tính động và hiệu quả
hơn. Giảm chi phí tuân thủ thuế cũng là một mục tiêu
quan trọng. Do hệ thống thuế hiện nay quá phức tạp và
rườm rà trong các thủ tục hành chính đã làm tăng các chi
phí tuân thủ thuế của người nộp thuế.
3.1. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
(tiếp)
Một số điều tra cho thấy các doanh nghiệp hàng năm phải mất
trên 1.000 giờ cho các thủ tục liên quan đến thuế. Nếu nhân
con số này với số doanh nghiệp nộp thuế sẽ thấy được một
sự lãng phí ghê gớm về mặt nguồn lực mà nền kinh tế phải
bỏ ra hàng năm. Bên cạnh đó, việc giảm chi phí quản lý thu
thuế cũng là một đòi hỏi cần thiết. Một phần lý do chi phí
này quá cao nằm ở hệ thống quản lý thuế quá cồng kềnh lại
không hiệu quả, phần khác do sự suy giảm về sức thu trong
một số sắc thuế. Yêu cầu của cải cách thuế không chỉ là tái
cơ cấu lại nguồn thu như đã đề cập ở trên mà còn phải tái cơ
cấu lại cách thức quản lý hệ thống hành thu của các cơ quan