………… o0o…………
Luận văn
Đề tài: Tình hình cạnh tranh của VDC trong
lĩnh vực kinh doanh dịch vụ Internet
CHƯƠNG I
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ
INTERNET Ở CÔNG TY ĐIỆN TOÁN VÀ TRUYỀN SỐ LIỆU - VDC
1. Giới thiệu về công ty VDC
Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC) là một doanh nghiệp Nhà
nước, là đơn vị thành viên Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam,
được thành lập chính thức vò ngày 06 tháng 12 năm 1989, Quyết định số
1216-TCCB-LĐ của Tổng cục Bưu điện, với Giấy phép đăng kí kinh doanh
số: 109883 do Bộ kế hoạch và Đầu tư cấp ngày 20/6/1995.
Tên đầy đủ của công ty: Công ty điện toán và truyền số liệu
Vietnam Datacommunication Company
Tên giao dịch: VDC
thông tin.
- Kinh doanh dịch vụ quảng cảo, quảng cáo trực tiếp - Online
Advertising.
* Hiện tại trụ sở chính của Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC)
tại 292 Tây Sơn, Hà Nội, Việt Nam, là đơn vị của Tổng công ty Bưu chính
Viễn thông Việt Nam; với các đơn vị thành viên hoạch toán phụ thuộc:
1. Trung tâm Điện toán - Truyền số liệu khu vực 1 - VDC1, Trụ sở 292
Tây Sơn TP - Hà Nội.
2. Trung tâm Điện toán - Truyền số liệu khu vực 2 - VDC2, Trụ sở125
Hai Bà Trưng TP - Hồ Chí Minh
3. Trung tâm Điện toán - Truyền số liệu khu vực 3 - VDC3, Trụ sở 24
Lê Thánh Tông TP - Đà Nẵng.
1.1. Lịch sử phát triển của công ty
Năm 1989: Công ty Điện toán và Truyền số liệu chính thức được thành
lập. Xuất phát từ nhu cầu phát triển dịch vụ Tin học, Truyền số liệu của xã
hội, ngày 06 tháng 12 năm 1989, quyết định số 1216 - TCCB-LĐ của Tổng
cục Bưu điện thành lập Công ty Điện toán và Truyền số liệu Bưu điện (VDC).
Công ty Điện toán và Truyền số liệu là đơn vị hạch toán kinh tế trong
khối Thông tin Bưu điện, có quyền tự chủ về sản xuất kinh doanh theo các
quy định của Tổng cục. Có tư cách pháp nhân được mở tài khoản ở Ngân
hàng, có con dấu theo tên gọi để giao dịch.
Năm 1990 - 1992: Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC) mở rộng
phạm vi hoạt động trên địa bàn cả nước
Tổng công ty BCVT Việt Nam giao cho Công ty Điện toán và Truyền
số liệu nhiệm vụ nghiên cứu và triển khai dịch vụ Truyền báo bằng phương
thức viễn ấn trên phạm vi cả nước.
Ngày 26 tháng 11 năm 1990, thành lập Trung tâm Điện toán - Truyền
số liệu khu vực II (VDC2) có trụ sở đặt tại 125 Hai Bà Trưng, Quận 1, TP.Hồ
Chí Minh .
Tổng Giám đốc Tổng công ty chính thức giao cho Công ty Điện toán và
Cung cấp dịch vụ Internet VNN với 08 lớp C địa chỉ, dung lượng 04
Mbps sử dụng phương thức vệ tinh và cáp biển đi các hướng Mỹ, Autralia,
Hong Kong. Chuyển DOMAIN NAME: VN của Việt Nam từ nước ngoài về
quản lý trong nước.
Ngày 19 tháng 11 năm 1997 nhận giấy phép IAP (Nhà cung cấp đường
truyền nối Internet), và ISP (Nhà cung cấp các dịch vụ Internet).
Ngày 01 tháng 12 năm 1997 chính thức cung cấp VNN công cộng.
Ngày 25 tháng 11 năm 1997, thành lập Trung tâm dịch vụ Gia tăng Giá
trị (VASC) trụ sở tại 258 Bà Triệu.
Năm 1998: Internet VNN sử dụng 2 Gateway tại Hà Nội có: Telstra
256Kbps; Hong Kong 2Mbps. Tại TP - Hồ Chí Minh có: Sprint 64Kbps;
Global One 2 Mbps. Nguồn IP có 7 Class.
Đón nhận thuê bao Internet thứ 10.000 đưa báo Nhân dân lên VNN.
Tăng từ 3 điểm lên 16 điểm truy nhập Internet trực tiếp trên cả nước.
Năm 1999: Internet VNN: Đưa Internet pha 2 vào khai thác, nâng tổng
số lên 10 Node truy nhập trực tiếp và mở rộng tới 54/56 Tỉnh thành phố có
truy nhập 1260.
Nâng cấp 2 tổng đài Gateway tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh để cung
cấp dịch vụ Truyền số liệu - Frame Relay.
Bổ sung dung lượng mạng, triển khai hoàn thành tốt dự án. Điện toán
hoá Xổ số, sử dụng 300 điểm truy nhập X.25 trong địa bàn Hà Nội
Nhận Huân chương Lao động hạng ba của chủ tịch nước.
Năm 2000: Thực hiện mở thêm 18Mbps của kênh đi quốc tế, nâng tổng
dung lượng kênh quốc tế lên 24Mbps, nâng dung lượng trục Bắc - Nam lên
8Mbps.
Có 10 Tỉnh, thành phố có cổng truy nhập trực tiếp và có 51/56 tỉnh,
thành phố có truy nhập qua thoại, thực hiện tăng dung lượng cho truy nhập
gián tiếp.
Đưa dịch vụ gọi VNN 1268 và 1269 vào khai thác là một bước đột phá
làm tăng khả năng cạnh tranh cho dịch vụ VNN - Internet.
- Các chương trình phần mềm tin học.
- Vật tư thiết bị chuyên ngành truyền số liệu, Internet, viễn ấn, máy tính
- Quảng cáo
- Truyền báo và chế bản điện tử
1.2.2. Cơ cấu tổ chức và bộ máy hoạt động của công ty
Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC) có số lao động đến đầu
năm 2003 trên 1000 người, được tổ chức thành khối văn phòng công ty và 03
trung tâm tại 3 miền đất nước hoạt động trải rộng trên khắp lãnh thổ Việt
Nam.
1. Trung tâm Điện toán Truyền số liệu khu vực I - VDC1 có trụ sở tại
số 292 Đường Tây Sơn - Hà Nội. VDC1 chịu trách nhiệm hoạt động quản lý
và khai thác mạng từ Hà Tĩnh trở ra. ( 28 tỉnh thành).
2. Trung tâm Điện toán Truyền số liệu khu vực II - VDC2 có trụ sở tại
số 7 Phạm Ngọc Thạch Q.3 - TP HCM. VDC2 hoạt động, quản lý và khai
thác mạng từ Ninh Thuận trở vào.(21 tỉnh thàn)
3. Trung tâm Điện toán Truyền số liệu khu vực III - VDC3 có trụ sở tại
Số 24 Lê Thánh Tông - Đà Nẵng . VDC3 hoạt động quản lý và khai thác
mạng Từ Quảng Bình đến Khánh Hoà và Tây Nguyên (12 tỉnh thành)
* Sơ đồ tổ chức và cơ cấu lao động của công ty VDC như sau:
Sơ đồ tổ chức công ty
V
g k
ế
hoạc
h
Phòn
g kỹ
thu
ật
điều
hành
Phòn
g
Đầu
tư
phát
tri
ển
Phòn
g
h
ành
chính
Phòn
g
Nghi
ên
cứu
ứng
ản
lý
chất
lượn
g
VDC2 VDC1 VDC3
- Phòng tổ chức lao động: có chức năng về công tác tổ chức bộ máy
nhân sự, tiền lương, đào tạo thi đua, an ninh, an toàn, chính sách đối với
người lao động.
- Phòng hành chính: có chức năng về công tác văn thư - lưu trữ: lễ tân
đối ngoại, thông tin tuyên truyền: nội vụ và làm đầu mối thông tin phục vụ
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
- Phòng kinh doanh: có chức năng về công tác Marketing, kinh doanh
sản phẩm dịch vụ, bán hàng, hợp tác kinh doanh.
- Phòng kế toán tài chính: có chức năng về công tác kế toán, thống kê
tài chính của công ty
- Phòng kế hoạch: có chức năng về công tác kế hoạch, quản lý tài sản
cung ứng vật tư.
- Phòng kỹ thuật điều hành: có chức năng về kỹ thuật công nghệ, điều
hành khai thác mạng và thiết bị.
- Phòng đầu tư phát triển: có chức năng về công tác quản lý chất lượng
trong các hoạt động của ht sản xuất kinh doanh và quản lý cy.
- Phòng Quản lý tin học: có chức năng về quản lý khoa học công nghệ
và sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực tin học.
- Phòng tính cước: Có chức năng về công tác tính cước và các vấn đề
liên quan đến việc tính cước phí các loại hình dịch vụ trên mạng của công ty.
- Ban biên tập báo điện tử: có chức năng về công tác xây dựng, quy
hoạch, quản lý nội dung các Websites của công ty; xây dựng; quản lý nội
dung trang web VDC - media; Quản lý các dịch vụ gia tăng giá trị trên mạng
khoảng 65%-75% tổng doanh thu và có tốc độ phát triển nhanh (trong đó dịch
vụ Internet Dailup chiếm khoảng trên 60% - 65% tổng doanh thu).
1.3.2. Các dịch vụ gia tăng trên Internet
* Dịch vụ web hosting
Dịch vụ web hosting đáp ứng nhu cầu về các hoạt động giới thiệu,
quảng cáo sản phẩm, dịch vụ của khách hàng trên Internet thông qua hệ thống
máy chủ của VDC hoặc của riêng khách hàng. Web hosting cung cấp khả
năng thống kê các chỉ tiêu xác định phạm vi mở rộng hoạt động kinh doanh,
chiến lược kinh doanh. Trong tương lai dịch vụ web hosting sẽ phát triển theo
hướng thành một giải pháp tổng thể cho phép người sử dụng thực hiện các
hoạt động kinh doanh trên phạm vi toàn cầu thông qua mạng Internet. Dịch vụ
này bao gồm một hệ thống các dịch vụ như: thiết kế trang web, lắp đặt, kết
nối mạng Internet và các dịch vụ như thanh toán điện tử, lưu trữ dữ liệu, giao
dịch kinh doanh với "Văn phòng ảo".
* Dịch vụ thư điện tử (VNMail)
VNMail là tên gọi chung cho các loại hình dịch vụ thư điện tử do VDC
cung cấp trên thị trường Việt Nam, dịch vụ này bao gồm các loại như là
VNNMail, Fmail, Mail Offline, Mail puls và Webmail.
- Dịch vụ thư điện tử Fmail (tiết kiệm - hiệu quả) là dịch vụ thư điện tử
độc lập (theo chuẩn SMTP, POP3) với mức cước cố định hàng tháng.
- Dịch vụ mail Offline (Giải pháp thư điện tử trên mạng nội bộ LAN
cho những doanh nghiệp, tổ chức vừa và nhỏ) là dịch vụ cung cáp cho khách
hàng khả năng tự xây dựng, quản lý và khai thác hệ thống thư điện tử của
riêng mình.
- Dịch vụ Mailplus (Chia sẻ thông tin và chi phí) là dịch vụ vừa sử
dụng thư điện tử vừa có khả năng truy nhập Internet giúp cho khách hàng có
thể đăng ký Domain Name riêng.
- Dịch vụ Web - Mail (dễ sử dụng với giao tiếp tiếng việt và miễn phí)
là dịch vụ thư điện tử với chuẩn SMTP, giao diện Web, hỗ trợ tiếng việt, sử
dụng miễn phí và truy nhập mọi nơi với các trình duyệt Web thông dụng.
rộng tới 46 cm và đáp ứng mọi nhu cầu về chế bản điện tử.
1.3.4. Các sản phẩm tin học
Phần mềm quản lý nhân sự, phần mềm quản lý công văn, phần mềm kế
toán tài chính doanh nghiệp…
Xây dựng và triển khai giải pháp cho hệ thống theo dõi và định vị bưu
phẩm chuyển phát, hệ thống bán hàng liên mạng, hệ thống thông tin phục vụ
thanh toán liên mạng…
2. Thị trường dịch vụ Internet ở Việt Nam và vị thế cạnh tranh của
công ty VDC trên thị trường dịch vụ Internet
2.1. Phân tích tổng số và cơ cấu các loại dịch vụ Internet ở Việt Nam
Các dịch vụ cơ bản trên Internet tại Việt Nam bao gồm 4 dịch vụ: Thư
điện tử (e-mail), Truyền tệp dữ liệu (files tranfer), Truy nhập từ xa (remote
login), Truy nhập cơ sở dữ liệu theo các phương thức khác nhau.
Các phương thức kết nối Internet cơ bản gồm: kết nối gián tiếp qua
mạng thoại, kết nối trực tiếp và các loại kết nối khác (vô tuyến, vệ tinh…)
Phân loại và định hình các dịch vụ trên Internet tại Việt Nam dùng kết
hợp dịch vụ cơ bản, dịch vụ gia tăng trên Internet và phương thức kết nối
Internet để xác định.
Đến cuối năm 2002 tổng số và cơ cấu dịch vụ trên Internet tại Việt
Nam như sau:
- Các dịch vụ truy nhập, đầu nối Internet: trực tiếp và gián tiếp (bao
gồm Internet Dailup và Internet Card).
- Các dịch vụ cơ bản trên Internet: Web, FTP, Email, Telnet.
- Các dịch vụ gia tăng trên Internet:
+ Dịch vụ cho thuê chỗ: đặt trang Web, cho thuê chỗ đặt máy chủ.
+ Các dịch vụ thương mại điện tử.
+ Các dịch vụ thông tin, dịch vụ trực tuyến, danh bạ và danh bạ điện tử.
+ Các dịch vụ Multimedia: phát thanh, truyền hình trên mạng.
+ Dịch vụ quảng cáo, kinh doanh quảng cáo trực tuyến Internet -
Online Advertising.
đơn vị cung cấp gắpn liền sẵn có theo dịch vụ truy nhập gián tiếp qua thoại.
- Các dịch vụ gia tăng trên Internet:
+ Dịch vụ cho thuê chỗ (đặt trang Web, cho thuê chỗ đặt máy chủ) và
dịch vụ quảng cáo, kinh doanh quảng cáo trực tuyến trên Internet - Online
Advertising: được VDC và FPT phát triển cung cấp cho khách hàng.
+ Các dịch vụ thương mại điện tử (E-Commerce) trên Web, các dịch vụ
Multimedia: phát thanh, truyền hình trên mạng: đang ở giai đoạn triển kha thử
nghiệm, thường được kết hợp giữa các ISP với các công ty tin học và các tổ
chức chính phủ khác.
+ Các dịch vụ thông tin, dịch vụ trực tuyến, danh bạ và danh bạ điện tử:
chỉ có ISP và VDC kết hợp với một số đơn vị thuộc VNPT để cung cấp.
Nhìn chung trong giai đoạn 1997 - 2002, là giai đoạn đầu Internet tại
Việt Nam, các nhà cung cấp dịch vụ - ISP của Việt Nam rất chú trọng phát
triển dịch vụ Internet gián tiếp qua thoại cho khách hàng có gắn liền cung cấp
các dịch vụ cơ bản của Internet (Web, Email). Các dịch vụ gia tăng Internet
đang bước đầu được các ISP phát triển, hứa hẹn nhiều dịch vụ liên tục phát
triển trên các dịch vụ đã có, đây sẽ là các dịch vụ mà các đơn vị sẽ cạnh tranh
trong tương lai vì là các dịch vụ tiềm năng và cho lợi nhuận cao trong tương
lai.
Dịch vụ Internet gián tiếp trong giai đoạn 1997 -2002 với hai chỉ tiêu
cơ bản: số lượng thuê bao và sản lượng thời gian truy nhập, được các ISP đặc
biệt quan tâm, nhưng tiêu chí số lượng thuê bao thể hiện thị phần chiếm lĩnh
thị phần của các đơn vị, vì thời gian truy nhập trung bình của thuê bao của các
ISP là như nhau.
Do đó thị phần Internet Việt Nam giai đoạn 1997 - 2002 thường được
tính trên thuê bao gián tiếp của các ISP. Trong giai đoạn này số lượng phát
triển thuê bao Internet gián tiếp qua một số năm như sau:
Biểu 2: Thuê bao Internet gián tiếp của ISP
Đơn vị: Thuê bao
Nhà cung cấp 1999 2000 2001 2002 20003
Biểu 3: Thành phần sử dụng Internet tại Việt Nam
Thành phần sử dụng Internet Tỷ lệ (%)
Cá nhân Việt Nam 45%
Cá nhân nước ngoài 3%
Doanh nghiệp tư nhân và Công ty TNHH 15%
Đối tượng hành chính 7%
Văn phòng đại diện 12%
Công ty nước ngoài 4%
Công ty liên doanh 6%
Cơ quan ngoại giao 1%
Cơ quan thông tin 1%
Doanh nghiệp Nhà nước 6%
(Nguồn: Trung tâm Internet Việt Nam)
* Về lý do sử dụng Internet:
Tập trung phần lớn là nhu càu tra cứu thông tin và phục vụ công việc,
các nhu cầu phục vụ do sở thích người tiêu dùng còn tương đối thấp và tập
trung chủ yếu vào đối tượng là học sinh, sinh viên
Biểu 4: Lý do sử dụng Internet
Lý do sử dụng Internet Tỷ lệ (%)
Yêu cầu của công việc chuyên môn 19%
Yêu cầu của cơ quan 17%
Sở thích cá nhân 28%
Nhu cầu trao đổi thông tin 30%
Ảnh hưởng từ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp 4%
Những yêu cầu khác 2%
(Nguồn: Trung tâm Internet Việt Nam)
* Về độ tuổi người tiêu dùng
Số người sử dụng Internet tập trung nhiều nhất ở độ tuổi từ 26 - 35
(chiếm 51%), tuy nhiên không thể bỏ qua một bộ phận tương đối đông đảo
+ Số lượng sử dụng Internet: 6509964 người
+ Tỷ lệ số dân sử dụng Internet: 7.89%
+ Tổng băng thông kênh nối quốc tế của Việt Nam: 2221 Mbp.
+ Tổng số địa chỉ IPđã cung cấp: 454912
Đây là một tỷ lệ tương đối cao nhưng so với các nước ở trong khu vực
Đông Nam Á thì tỷ lệ này là thấp.
Biểu 6: Thống kê số người sử dụng Internet của khu vực Đông Nam Á
Tên quốc gia Dân số (người)
Số ngươi sử dụng
Internet
Tỷ lệ (%)
Malayxia 24.000.000 8629000 35,95
Singapore 4225000 2100000 49,70
Brunei 362000 35000 9,66
Thái Lan 63300000 60310000 9,52
Philippines 81500000 3500000 4,29
Việt Nam 81000000 3500000 4,32
Indonesia 231340000 800000 3,45
Lào 592100 15000 0,25
Cambodia 13124000 30000 0,22
Myanmar 51000000 28000 0,05
Khu vực Asean 555772000 31868000 5,73
(Nguồn: Bộ Bưu chính Viễn thông - Trung tâm Internet Việt Nam)
Nhìn vào bảng trên ta thấy tỷ lệ số người sử dụng Internet ở Việt Nam
thấp hơn tỷ lệ trung bình của khu vực Asean, một số nước phát triển như
Singapore có số người sử dụng Internet gấp 10 - 20 lần nước ta. Để nhằm thúc
đẩy và phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ Internet ngang tầm với các
nước trên thế giới và trong khu vực, Bộ chính trị đã đưa ra chỉ thị 58 tạo thêm
quả trong việc quản lý của Chính phủ và các dịch vụ công cộng với mục đích
cho phép mọi người dân dễ dàng tìm hiểu các chính sách mới, nghị quyết mới
của chính phủ thông qua Internet. Hiện trên Internet Việt Nam, chúng ta đã có
gần 20 tờ báo điện tử chính thống các loại, những tờ báo lớn nhất của Đảng và
Nhà nước cũng được đưa lên mạng…
- Lĩnh vực giáo dục
Internet là ngành công nghiệp tri thức, với vốn chủ yéu là tri thức. Vận
may của các công ty Việt Nam chính là ở đây. Chúng ta không phải phụ thuộc
vào các điều kiện vật chất quá nhiều so với rất nhiều ngành công nghiệp khác.
Ngành công nghiệp hỗ trợ cho công nghiệp Internet chính là ngành giáo dục
đào tạo của Việt Nam.Nhưng điều kiện về con người của Việt Nam trong
ngành Internet đúng là tiềm năng nhiều hơn nữa cho đào tạo nguồn nhân lực
này thông qua ngành giáo dục. Trước đây chỉ có một số trường đại học và
trung học nối mạng Internet nhưng con số này là không nhiều. Vì vậy, để hỗ
trợ đưa mạng Internet tới trường học đây là một chính sách đúng đắn của
Đảng và Nhà nước ta. Tính đến nay, đã có tất cả 64 tỉnh thành trên cả nước đã
hoàn thành xong chương trình đưa Internet tới các trường đại học, cao đẳng
và trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh, thành phố (nguồn bộ giáo dục và
đào tạo… Tổng số trường họcd dã hoàn thành kết nối Internet trên cả nước
như sau:
Tổng số trường đại học và cao đẳng đã hoàn thành là 235/235 trường
đạt 100%. Tổng số trường trung học phổ thông là 1923/2057 trường,đạt
93,48%.
- Các đối tượng khác:
Đồng bào Việt Nam trên khắp thế giới, trước kia không thể có điều
kiện thì nay đã nhận được đều đặn hàng ngày, hàng giờ các thông tin thời sự
về sự phát triển và đi lên không ngừng của đất nước.
Trong mấy năm qua kể từ ngày khai trương Internet ở Việt Nam
19/11/1997. Internet đã bổ sung một cách hoàn hảo cho báo chí (bản giấy),
phát thanh truyền hình tạo thành một hệ thống truyền thông hữu hiệu, góp
44 44
SPT Reach (HongKong)
2 2
Vietel Dacom
(HongKong)
2
Singtel (Singapore)
4
Reach (HongKong)
2
8
ETC Kornet (korea) 2 2
Tổng dung lượng kênh kết nối quốc tế của Việt Nam 348.5
(Nguồn: Trung tâm Internet Việt Nam)
- Tình hình phát triển thuê bao Internet ở Việt Nam tháng 2/2005
+ Số lượng thuê bao quy đổi: 2199321
+ Số người sử dụng Internet: 6509964
+ Tỷ lệ số dân sử dụng Internet: 7,89%
Đồ thị 2: Tình hình phát triển thuê bao Internet Việt Nam 2000 - 2004
PHÁT TRIỂN THUÊ BAO INTERNET VIỆT NAM
2000 - 2004
0
500000
1000000
1500000
- Phạm vi cung cấp: Hà Nội, Hồ Chí Minh.
- Kết nối trực tiếp quốc tế: 22MB trực tiếp với Hong Kong.
- Mã truy nhập Internet gián tiếp: 1280
- Dịch vụ cạnh tranh: Internet gián tiếp, Prepaid Card, Internet trực tiếp
tại các toà nhà.
* Thế mạnh
- Khả năng tích hợp với giải pháp tin học và thiết bị. Tham gia cung
cấp Internet tại Việt Nam ngay từ đầu khi xuất hiện và đã có sự chuẩn bị từ
trước do có xây dựng từ năm 1996 cách mạng Internet có tính năng công nghệ
và các ứng dụng giống Internet.
- Chiếm kênh thông tin công cộng khá tốt. Do là thành viên tập đoàn
FPT đơn vị có tham gia triển khai cài đặt mạng lưới Internet Việt Nam (sau
được giao cho VDC chủ quản sử dụng)nên rất hiểu về mạng lưới Internet Việt
Nam và có sẵn nguồn nhân lực phục vụ cho đầu tư phát triển mạng lưới và
dịch vụ Internet của FPT.
- FPT có nhiều quản lý và kỹ thuật giỏi, họ được chủ động quyết định
đảm bảo thời gian phản ứng sự việc nhanh hơn hẳn các đối thủ cạnh tranh
khác. FPT luôn chú trọng việc đãi ngộ, tạo môi trường làm việc phù hợp cho
những người chủ chốt này nên hình thành nhóm làm việc ngày càng năng lực
và hiệu quả.
- Thiết bị và phần mềm đồng bộ ổn định. Triển khai các dịch vụ mới rất
nhanh vì giảm thiểu được các thủ tục trong nội bộ.
* Điểm yếu
- Mạng lưới chỉ giới hạn tại Hà Nội và Hồ Chí Minh, phải nối qua VDC
để ra quốc tế (vì VDC vừa là một ISP như FPT nhưng VDC này là IAP duy
nhất). Phạm vi cung cấp dịch vụ chỉ tập trung Hà Nội và Hồ Chí Minh nên
mất nhiều khách hàng tiềm năng.
- Đầu tư thiết bị mạng lưới phục vụ cung cấp Internet còn giới hạn,
thiếu nghiên cứu đi đầu các công nghệ mới để chủ động xuất hiện các dịch vụ
mới.