Nghiên cứu triết học
Đề tài: " MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN XUNG QUANH VIỆC THỰC
HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY "
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XUNG QUANH VIỆC
THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LÊ HỮU TẦNG (*)
Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và luận giải một số vấn đề lý
luận và thực tiễn xung quanh việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt
Nam hiện nay. Những vấn đề đó là: 1. Khái niệm công bằng xã hội,
những điểm tương đồng và khác biệt giữa nó và khái niệm bình đẳng
xã hội; 2. Công bằng xã hội theo chiều dọc và công bằng xã hội theo
dung (các tiêu chuẩn) khác nhau ấy vào cùng một nội hàm được coi
là của khái niệm công bằng xã hội. Sự lầm lẫn khi đồng nhất hai
khái niệm này với nhau đã ảnh hưởng nhất định đến việc nhìn nhận
những biến đổi đang diễn ra trong sự nghiệp đổi mới của chúng ta,
đặc biệt là nhìn nhận hiện tượng phân tầng xã hội đang diễn ra với
mức độ ngày càng tăng hiện nay.
Sự thực thì hai khái niệm công bằng xã hội và bình đẳng xã hội tuy
gần nhau nhưng dẫu sao, chúng vẫn là hai khái niệm khác nhau. Khi
nói tới bình đẳng xã hội, người ta muốn nói tới sự ngang bằng nhau
giữa người với người về một phương diện xã hội nào đấy, chẳng
hạn, về kinh tế, chính trị, văn hóa, v.v Còn khi nói tới sự ngang
bằng nhau giữa người với người về mọi phuơng diện, tức là ta đã nói
tới một sự bình đẳng xã hội hoàn toàn. Trong khi đó, công bằng xã
hội cũng là một dạng (và chỉ là một dạng mà thôi) của bình đẳng xã
hội, nhưng đó là sự bình đẳng, tức là sự ngang bằng nhau, giữa
người với người không phải về mọi phương diện, cũng không phải
về một phương diện bất kỳ, mà chỉ về một phương diện hoàn toàn
xác định: phương diện quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ theo
nguyên tắc cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau.
Xét theo nghĩa vừa nói thì công bằng xã hội và bình đẳng xã hội có
điểm chung, nhưng cũng có điểm khác nhau. Chẳng hạn, khi ta nói
mọi người đều bình đẳng trước pháp luật thì điều đó có nghĩa là mọi
người đều được đối xử ngang bằng nhau trước pháp luật, bất kể
người đó là ai. Còn khi xét từng trường hợp cụ thể thì người làm
nhiều sẽ được hưởng nhiều, người làm ít sẽ được hưởng ít, người có
công sẽ được thưởng, người có tội sẽ bị phạt, công càng lớn thì mức
thưởng càng lớn, tội càng nặng mức phạt sẽ càng nặng, v.v Một sự
đối xử như vậy sẽ được coi là công bằng. Trong nội hàm của khái
niệm công bằng vừa được trình bày, như ta có thể thấy, các khái niệm
cống hiến và hưởng thụ ở đây được hiểu theo nghĩa rộng: chúng bao
trong việc phân phối các cơ hội và điều kiện thực hiện cơ hội.
Nhưng thế nào là “công bằng trong việc phân phối các cơ hội và
điều kiện thực hiện cơ hội”? Khái niệm công bằng ở đây không được
giải thích nên không rõ phải làm thế nào? Chẳng hạn, thế nào là
công bằng trong việc phân phối tư liệu sản xuất? Ở đây, khái niệm
công bằng có thể có ít nhất có 4 cách hiểu khác nhau: chia đều theo
đơn vị hành chính (chia đều cho 64 tỉnh, thành phố trong cả nước);
chia theo mật độ dân số (nơi nào có mật độ dân số cao hơn sẽ được
phân phối nhiều hơn); chia theo hiệu quả sản xuất kinh doanh (nơi
nào có hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn sẽ được phân phối
nhiều hơn); chia theo hiệu quả kinh tế – xã hội (nơi nào đạt hiệu quả
kinh tế - xã hội cao hơn sẽ được phân phối nhiều hơn). Trong 4 cách
trên đây, cách nào là công bằng? Do bản thân khái niệm công bằng
không được giải thích nên nội hàm của khái niệm công bằng xã hội
ở đây cũng không được giải thích.
Hiện nay, khái niệm công bằng về cơ hội được các tác giả khác nhau
biểu đạt bằng các cụm từ khác nhau, như:
Công bằng về cơ hội;
Tiếp cận công bằng với các cơ hội;
Bình đẳng về cơ hội;
Bình đẳng trong việc tiếp cận các cơ hội;
Tạo “cơ hội bình đẳng” cho các tầng lớp dân cư;
v.v
Rõ ràng, các cụm từ trên đây có nội hàm không hoàn toàn trùng
nhau. Do vậy, nội hàm của các khái niệm công bằng về cơ hội hay
bình đẳng về cơ hội có thể được hiểu hoặc giải thích một cách khác
nhau.
Theo chúng tôi, có lẽ nên thay khái niệm công bằng về cơ hội (vì
không làm rõ được thế nào là công bằng trong trường hợp này) bằng
khái niệm bình đẳng về cơ hội theo nghĩa bình đẳng trong việc tiếp
buôn gian bán lận, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi, sống xa hoa, phè
phỡn, còn những người lao động trung thực, cần mẫn lại sống trong
nghèo khó, ngày đêm phải chật vật mưu sinh. Có thể nói, đây là một
trong những “điểm nóng” nhất hiện nay. Giải quyết được nó trong
lúc này sẽ có tác dụng tích cực tới tâm trạng của người lao động,
thúc đẩy họ thêm phấn khởi hăng hái sản xuất, đảm bảo thực hiện
đầy đủ hơn nguyên tắc công bằng xã hội.
Tuy nhiên, bản thân nguyên tắc công bằng xã hội này và khả năng
thực hiện nó cần được hiểu đúng.
Trước hết, cần nhận xét rằng, công bằng xã hội không phải là một
khái niệm bất di bất dịch. Nó mang tính tương đối và phụ thuộc vào
hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Tách khỏi hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà nói
tới công bằng thì cái được coi là công bằng ấy có thể sẽ là không
hợp lý và do đó, ít có khả năng trở thành hiện thực.
Chẳng hạn, nếu trước đây, chúng ta coi phân phối theo lao động là
tiêu chí duy nhất của sự công bằng (nhưng trên thực tế, trong thời kỳ
trước đổi mới, lại thực hiện phân phối bình quân) thì ngày nay, trong
quá trình đổi mới, với việc chuyển sang phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong khi vẫn coi việc thực hiện
phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu,
chúng ta đồng thời thực hiện phân phối theo mức đóng góp vốn và
các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi
xã hội. Đây là một nguyên tắc phân phối khá công bằng, phù hợp với
thực tiễn xây dựng đất nước Việt Nam hiện nay.
Nói là khá công bằng vì theo chúng tôi, nguyên tắc phân phối ấy vẫn
chưa tính đến một cách đầy đủ một đặc thù rất quan trọng của Việt
Nam. Đó là, khác với nhiều nước, suốt mấy chục năm qua, nhân dân
Việt Nam đã phải chiến đấu liên tục vì nền độc lập, tự do của Tổ
quốc. Trải qua cuộc chiến đấu ấy, rất nhiều người hoặc đã hy sinh,
hoặc đã trở thành thương binh, bệnh binh. Họ còn rất ít, thậm chí
như vậy mới có thể coi là công bằng.
Ngay trong phân phối theo lao động và mức vốn góp, tiêu chí của sự
công bằng cũng không nên tuyệt đối hoá. Tiêu chí ấy cũng mang
tính tương đối và nó được xác lập qua kiểm nghiệm trong thực tiễn
cuộc sống. Chẳng hạn, trong hệ thống thang bậc lương chính thức
của Nhà nước Việt Nam được thiết lập năm 1985 thì sự chênh lệch
giữa mức lương cao nhất và mức lương thấp nhất là 3,5 lần, được
thiết lập năm 1993 là 10 lần, còn được thiết lập năm 2004 là 13 lần.
Trong khi đó, ở một số nơi, ví dụ ở xí nghiệp liên doanh MEKO
(Hậu Giang), mức chênh lệch thu nhập giữa giám đốc và công nhân
lên tới 150 lần(3), hoặc tại một xí nghiệp liên doanh ở Hà Nội, mức
chênh lệch đó vào quãng 350 lần(4). Trong dịp tết Đinh Hợi (tháng 2
- 2007) mới đây, tiền thưởng và tiền lương ở các ngành và các vùng
có sự giãn cách lớn, mức cao nhất là trên 124 triệu đồng, mức thấp
nhất là 700.000 đồng(5). Trong tất cả các trường hợp trên đây, cái
nào là hợp lý, cái nào là không hợp lý? Câu trả lời thật không đơn
giản! Sự công bằng hay không công bằng ở đây cần được xem xét
rất cụ thể và có lẽ, bên cạnh sự sàng lọc của thị trường, chúng cần
được xem xét căn cứ vào hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của đơn vị, vào kết quả tác động tích cực hay tiêu cực của mỗi
trường hợp phân phối tới nhiệt tình của người lao động và tới bầu
không khí chung của tập thể.
Ngoài ra, trong bước quá độ từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp
sang cơ chế thị trường, cũng không nên và không thể đòi hỏi thực
hiện cho được một sự công bằng tuyệt đối, chính xác ngay lập tức,
đòi hỏi xoá bỏ ngay trong một thời gian ngắn mọi sự không công
bằng hiện vẫn còn tồn tại. Đó là vì bản thân cơ chế bao cấp đã chứa
đựng trong nó nhiều điều bất hợp lý và những bất hợp lý ấy đã được
tích tụ lại quá nhiều trong thời gian quá dài. Nay nếu muốn khắc
phục điều bất hợp lý này thì sẽ lập tức nảy sinh điều bất hợp lý khác,
Càng thực hiện tốt công bằng xã hội bao nhiêu thì càng gia tăng sự
tăng trưởng kinh tế bấy nhiêu.
Tuy nhiên, sự thực hiện đúng nguyên tắc phân phối theo cống hiến trên
đây lại dẫn đến một hậu quả khác khiến không ít người lo ngại, đó là sự
phân cực ngày càng gia tăng giữa giàu và nghèo trên phạm vi toàn
quốc. Một số người cho rằng, như vậy là công bằng xã hội đã bị vi
phạm nghiêm trọng, rằng chủ nghĩa xã hội đang bị xói mòn.
Liệu có thể tán thành với những nhận định như vậy được không?
Theo chúng tôi, không! Vì sao? Vì:
- Thứ nhất, kết quả của hàng loạt cuộc khảo sát mức sống dân cư với
quy mô lớn từ năm 1992 đến nay cho thấy, sự phân biệt giàu, nghèo
ở đây là sự phân biệt tương đối chứ không phải là tuyệt đối. Nghèo ở
đây là nghèo so với giàu chứ không phải so với thời kỳ trước đổi
mới. Nếu so với thời kỳ trước đổi mới thì mức sống của mọi người
hiện nay, kể cả người giàu và người nghèo, đều được tăng lên đáng
kể(6); không chỉ số hộ giàu và mức giàu tăng lên, mà cả số hộ nghèo
và mức nghèo cũng giảm đi chứ không phải như có người nói là
người giàu thì ngày càng giàu thêm, còn người nghèo ngày càng
nghèo đi.
- Thứ hai, loại trừ những kẻ giàu lên nhanh chóng bằng những thủ
đoạn bất hợp pháp, như tham nhũng, buôn lậu, đặc quyền đặc lợi,
làm ăn gian dối, lừa đảo,v.v., còn thì cả hộ giàu và hộ nghèo đều tạo
ra thu nhập trước hết và chủ yếu bằng sức lao động và năng lực của
chính mình, trong đó hộ nào có điều kiện hơn, có nhiều vốn liếng
hơn, nhiều sức lao động hơn, có kinh nghiệm và tài năng sản xuất
kinh doanh hơn, hộ ấy sẽ giàu hơn hoặc giàu nhanh hơn, còn ngược
lại thì sẽ nghèo hơn hoặc “giàu” chậm hơn. Như vậy, sự phân hoá
giàu nghèo ở đây không phải là biểu hiện của sự vi phạm công bằng
xã hội, mà lại chính là biểu hiện của việc công bằng xã hội đang
được lập lại: ai làm tốt, làm giỏi, làm nhiều, đóng góp vốn liếng
pháp, Nhà nước chúng ta cũng đồng thời đang mở rộng và đẩy
mạnh cuộc vận động xoá đói giảm nghèo khá hiệu quả được đề ra từ
đầu những năm 90 đến nay, trong đó tập trung xoá đói ở nông thôn,
giảm nghèo ở cả nông thôn lẫn thành thị. Bằng việc thực hiện các
chính sách ấy, chúng ta đang tiếp tục thực hiện một cách có hiệu quả
một phần của yêu cầu “định hướng xã hội chủ nghĩa” trong đường
lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam hiện nay./. (*) Giáo sư, tiến sĩ, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
(1) Xem: Lê Bộ Lĩnh. Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở
một số nước châu Á và Việt Nam. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1998, tr.15-16.
(2) Xem: Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.12. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 1996, tr.185.
(3) Xem: Tạp chí Cộng sản, số 11, 1991, tr.19.
(4) Xem: Báo Lao động, ngày 14 - 3 - 1996.
(5) Xem: Báo An ninh Thủ đô, ngày 1 - 2 - 2007.
(6) Theo bản tin của CIT ngày 23/5/2007 thì ông Martin Rama,
Q.Giám đốc quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, khẳng định
khi WB trở lại Việt Nam năm 1993, thu nhập bình quân đầu người
của Việt Nam là 170 USD/năm. Theo bản tin của Vnexpress, ngày
14 - 11 - 2006 thì trong bản báo cáo mới công bố, IMF nhận định thu
nhập bình quân đầu người của Việt Nam năm 2006 đạt 715
USD/năm.