Luận văn tốt nghiệp Đề tài: Hoàn thiện quy trình
nhập khẩu nguyên liệu và thành
phẩm tân dược tại Công ty dược
liệu TWI-Hà Nội
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Sinh viªn : NguyÔn ThÞ Hoa Líp : K35E4 – khoa TMQT
LỜI MỞ ĐẦU
Thế kỷ 20 đã chứng kiến những đổi thay kỳ diệu trong mọi lĩnh vực của
đời sống nhân loại : Từ những bước đi dài trong công cuộc chinh phục vũ trụ,
những thành tựu khoa học rực rỡ áp dụng vào thực tế đem lại những lợi ích to
lớn…đến sự phát triển kinh tế vượt bậc của nhiều Quốc gia. Trong công cuộc
đổi mới và mở cửa nền kinh tế của Đảng và nhà nước ta những năm vừa qua
đã đem lại cho nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp dược nói riêng cơ
hội to lớn để phát triển mạnh mẽ. Công ty dược liệu TWI-Hà Nội thuộc tổng
công ty dược Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc không những về
chủng loại, chất lượng sản phẩm mà cả về năng lực kinh doanh xuất nhập
khẩu đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập nền kinh
doanh nghiệp đứng vững và phát triển trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin bày tỏ lời cảm ơn chân
thành nhất tới :
Cô giáo TS. Đào Thị Bích Hoà - Chủ nhiệm bộ môn kỹ thuật thương
mại quốc tế.
Ths. Tô Minh Phúc – Trưởng phòng kinh doanh nhập khẩu, Công ty
dược liệu TWI-Hà Nội.
Ds. Trần Hoàng Giao – Phụ trách hoạt động nhập khẩu, Công ty dược
liệu TWI-Hà Nội.
Cùng các cô chú, anh chị trong phòng kinh doanh - nhập khẩu, Công
ty dược liệu TWI-Hà Nội.
Đã giúp đỡ em hoàn thành luận văn này. Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2003.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hoa LuËn v¨n tèt nghiÖp
Sinh viªn : NguyÔn ThÞ Hoa Líp : K35E4 – khoa TMQT CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG CƠ BẢN VÀ QUY TRÌNH
NHẬP KHẨU TẠI CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH
Kinh doanh nhập khẩu theo hình thức trực tiếp được hiểu là việc đơn vị
kinh doanh trực tiếp nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài vào Việt nam với
danh nghĩa và chi phí của mình rồi sau đó tiến hành kinh doanh, bán hàng
hoá nhập khẩu cho khách hàng trong nước có nhu cầu.
Đơn vị kinh doanh theo hình thức nhập khẩu trực tiếp sẽ mang lại hiệu
quả cao do giảm được chi phí trung gian, giảm bớt sai sót, lợi nhuận thu
được do bán hàng hoá nhập khẩu lớn hơn chi phí uỷ thác nhập khẩu hàng
hoá. Đồng thời theo hình thức này đơn vị kinh doanh có điều kiện trực tiếp
tiếp cận thị trường để thích ứng với nhu cầu thị trường một cách tốt nhất, từ
đó có thể chủ động được nguồn hàng và bạn hàng trong kinh doanh.
Tuy nhiên, bên cạnh thuận lợi đó thì kinh doanh nhập khẩu trực tiếp cũng
gặp không ít khó khăn, hình thức này cũng chứa đầy rủi ro và mạo hiểm do
doanh nghiệp phải có đủ tiềm lực về tài chính để đầu tư, cán bộ phải có
nghiệp vụ giỏi, hình thức này nếu không tìm hiểu kỹ thị trường và đối tác thì
rất dễ bị ép giá thậm chí sau khi nhập khẩu hàng hoá về có thể bán không
được hoặc bán được với giá thấp. hình thức này không thích hợp với công ty
kinh doanh quốc tế khi lần đầu tham gia trên thị trường quốc tế hoặc kinh
doanh mặt hàng mới trên thị trường mới.
2.2. Nhập khẩu gián tiếp ( nhập khẩu uỷ thác ).
Trên thực tế hiện nay có nhiều đơn vị kinh doanh quốc tế không đủ điều
kiện về nhân lực, cơ sở vật chất để tiến hành nhập khẩu trực tiếp do đó họ sẽ
cần đến trung gian làm cầu nối giữa công ty nhập khẩu và đối tác là công ty
xuất khẩu.
Kinh doanh nhập khẩu theo hình thức uỷ thác là việc đơn vị ngoại
thương ( bên nhận uỷ thác ) đóng vai trò trung gian để thực hiện nghiệp vụ
nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài vào Việt nam theo yêu cầu của bên uỷ
thác với danh nghĩa của mình nhưng bằng chi phí của bên uỷ thác.
Theo khái niệm về nhập khẩu uỷ thác có thể thấy rằng khi đơn vị kinh
doanh theo hình thức này thì đơn vị ngoại thương không phải bỏ vốn của
mình ra đem đi nhập khẩu, vốn này do bên uỷ thác cấp tuy nhiên đợn vị kinh
có lợi thế để phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu đi các quốc gia
khác. Trong thực tế không có quốc gia nào là có lợi thế về tất cả các mặt
hàng, các lĩnh vực, sự bổ sung hàng hoá giữa các quốc gia đã đẩy mạnh hoạt
động xuất nhập khẩu. Những quốc gia phát triển thường xuất khẩu nhiều hơn
nhập khẩu rất nhiều và ngược lại những nước kém phát triển thì kim nghạch
nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Sinh viªn : NguyÔn ThÞ Hoa Líp : K35E4 – khoa TMQT
Với Việt Nam, một quốc gia mới chuyển sang nền kinh tế thị trưường
gần 20 năm lại chịu nhiều hậu quả từ sự tàn phá chiến tranh. Do đó hoạt
dộng nhập khẩu đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình khôi phục
nền kinh tế và tiến tới quá trình CNH – HĐH đất nước. Cụ thể những vai trò
những vai trò được thể hiện rõ nét như sau:
+ Trước hết nhập khẩu sẽ bổ xung kịp thời những hàng hoá còn thiếu mà
trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất không đủ tiêu dùng làm cân
đối kinh tế, đảm bảo cho sự phát triển ổn định và bền vững, khai thác tối đa
khả năng và tiềm năng của nền kinh tế.
+ Nhập khẩu làm đa dạng hoá hàng tiêu dùng trong nước, phong phú chủng
loại hàng hoá, mở rộng khả năng tiêu dùng, nâng cao mức sống của người
dân.
+ Nhập khẩu xoá bỏ tình trạng độc quyền toàn khu vực và trên thế giới, xoá
bỏ nền kinh tế lạc hậu tự cung, tự cấp. Tiến tới sự hợp tác giữa các quốc gia
là cầu nối thông suốt của nền kinh tế tiên tiến trong và ngoài nước, tạo lợi
thế để phát huy lợi thế so sánh trên cơ sở CNH.
+ Nhập khẩu sẽ thúc đẩy sản xuất trong nước không ngừng vươn lên,
không ngừng tìm tòi nghiên cứu để sản xuất ra hàng hoá có chất lượng cao,
đảm bảo, tăng cường sức cạnh tranh với hàng ngoại.
+ Nhập khẩu sẽ tạo ra quá trình chuyển giao công nghệ, điều này tạo ra sự
phát triển vượt bậc của nền sản xuất hàng hoá, tạo ra sự cân bằng giữa các
quốc gia về trình độ sản xuất, tiết kiệm chi phí và thời gian.
quản lí của nhà nước theo định hướng XHCN.
Từ khi nền kinh tế thị trường thay thế nền kinh tế tự cung, tự cấp đã có
nhiều thay đổi tiến bộ theo hướng có lợi cho đất nước. Nền kinh tế đóng đã
hoàn toàn bị diệt vong thay thế vào đó là nền kinh tế mở, hợp tác, quan hệ
trên cơ sở cùng có lợi chuyển từ tư tưởng đối đầu sang đối thoại. Các chính
sách mở rộng nhập khẩu đã bước đầu phát huy được vai trò to lớn của nó,
tạo ra thị trường sôi động với khối lượng hàng hoá đa dạng, phong phú, tạo
ra sự cạnh tranh mạnh mẽ về hàng hoá không ngừng tăng lên về giá trị và
chất lượng, thu hút được sự tham gia của của các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần theo đường lối của Đảng. Một lần nữa khẳng định vai trò của
hoạt động nhập khẩu. Để tiếp tục bước đi trên con đường đúng đắn đó và
tiến thêm những bước vững chắc hơn trong tương lai thì trách nhiệm không
thuộc về riêng ai, cần hơn ai hết sự lãnh đạo, chỉ đường và động viên của các
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Sinh viªn : NguyÔn ThÞ Hoa Líp : K35E4 – khoa TMQT
cơ quan chức trách, tinh thần học hỏi, lao động, nghiên cứu tìm tòi cố gắng
hết mình của từng doanh nghiệp, từng cán bộ công nhân viên hoạt động
trong xuất nhập khẩu nói chung và trong nhập khẩu nói riêng. Cụ thể sự cố
gắng hết mình đó phải được thể hiện trên các góc độ.
+ Thu hút và mở rộng sự tham gia của mọi thành phần kinh tế và hoạt
động ngoại thương nhưng dưới sự quản lí của nhà nước
+ Hoạt động kinh tế đối ngoại phải đảm bảo được nguyên tắc trong quan
hệ thương mại quốc tế
+ Không ngừng tạo ra chữ tín đối với các đối tác, tôn trọng chủ quyền
của nhau, bình đẳng cùng có lợi.
+ Lấy hiệu quả kinh tế chung của xã hội làm đầu, kết hợp giữa lợi ích
riêng của đơn vị kinh doanh với lợi ích của toàn xã hội.
Muốn thực hiện được những chủ trương đặt ra đòi hỏi phải biết:
+ Sử dụng triệt để lợi thế, phát huy tối đa năng lực sẵn có, không được
để xảy ra tình trạng khan hiếm ngoại tệ.
kinh doanh.
Để có thị trường một cách đầy đủ và kịp thời, chuẩn bị tốt nhất trong
quá trình ra quyết định khi lựa chọn đối tác, giao dịch, đàm phán kí kết hợp
đồng một cách có hiệu quả, cần thiết phải nghiên cứu những nội dung sau.
1.1.1. Nghiên cứu thị trường trong nước.
* Nghiên cứu về hàng hoá nhập khẩu
Hàng hoá là đối tượng quan trọng của hoạt động kinh doanh quốc tế.
Khi đơn vị ngoại thương tiến hành hoạt động nhập khẩu thuộc đối tượng
nào? Việc lựa chọn hàng hoá phụ thuộc vào cung cầu trong nước. Nhập khẩu
dù không đủ đáp ứng nhu cầu trong nước song nó phải phù hợp với điều
kiện và mục tiêu, nhiệm vụ kinh doanh của doanh nghiệp. Nghiên cứu về
mặt hàng cần phải nghiên cứu trên những góc độ sau:
+ Nghiên cứu về nhu cầu trong nước, tình hình tiêu dùng, tình hình
này phụ thuộc vào tập quán, thói quen và thu nhập của người tiêu dùng.
+ Nghiên cứu về quy cách, phẩm chất, kiểu dáng, nhãn mác, thương
hiệu, … của sản phẩm.
+ Nghiên cứu xem sản phẩm đã xuất hiện trên thị trường được bao
lâu, đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống của sản phẩm? Từ đó đánh giá
xem thị hiếu tiêu dùng đang ở mức độ nào để đưa ra quyết định về số lượng
nhập khẩu tránh tình trạng hàng nhập tồn đọng và mất giá hoặc thiếu hụt. Có
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Sinh viªn : NguyÔn ThÞ Hoa Líp : K35E4 – khoa TMQT
như vậy mới nâng cao hiệu quả quy trình nhập khẩu cũng như kết quả kinh
doanh.
+ Khi tiến hành nhập khẩu phải sử dụng đến ngoại tệ mà ngoại tệ thì
luôn luôn biến động, để đảm bảo hiệu quả về thị trường thì việc nghiên cứu
tỉ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu là rất quan trọng. Doanh nghiệp phải xem xét
tỉ giá hối đoái giữa VNĐ và ngoại tệ và sau đó xem xét so sánh với tỉ suất
ngoại tệ hàng nhập khẩu. Nếu tỉ giá hối đoái lớn hơn thì không nhập khẩu,
nếu tỉ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu lớn hơn thì nên nhập khẩu
điểm của sản xuất lưu thông và phương pháp của sản phẩm của từng thị
trường đối với mỗi loại hàng hoá.
+ Một số nhân tố khách quan như thời tiết, bị hạn hán, bão lụt, sự biến
động về khủng hoảng tài chính, mất giá tiền tệ, sự giảm sút của thương hiệu
hàng hoá.
Mỗi nhân tố có mức độ tác động khác nhau, cần có sự đánh giá đúng
mức ảnh hưởng của từng nhân tố đóng vai trò quyết định, nhân tố nào đóng
vai trò thứ yếu, từ đó đưa ra quyết định đúng đắn chính xác về nhu cầu thực
của hàng nhập khẩu đã lựa chọn.
1.1.2. Nghiên cứu thị trường quốc tế.
Nghiên cứu thị trường quốc tế phải bắt đầu từ việc nghiên cứu các
chính sách của chính phủ nước xuất khẩu, những chính sách đó là hạn chế
hay khuyến khích xuất khẩu từ đó đưa ra những thuận lợi cũng như khó
khăn đối với đơn vị ngoại thương khi tiến hành nhập khẩu hàng hoá, hoạt
động này cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp của tình hình chính trị, chế độ của
nước xuất khẩu. Bên cạnh đó nguồn hàng cung cấp sẽ tác động bởi vị trí địa
lí của quốc gia do quá trình vận chuyển sẽ đem lại hiệu quả cao trong kinh
doanh.
Mặt khác, trên thị trường quốc tế do chịu sự tác động của nhiều yếu tố
trên đã làm cho giá cả không ngừng biến đổi. Doanh nghiệp kinh doanh
nhập khẩu phải hiểu biết và kinh nghiệm để dự báo được xu thế biến động
của quy luật thị trường. Doanh nghiệp đánh giá trên nhiều thị trường khác
nhau với các nhà cung cấp khác nhau. Từ đó tiến hành so sánh và chọn ra
nhà cung cấp đem lại thuận lợi tối ưu nhất cho mình.
Để công tác nghiên cứu thị trường quốc tế đem lại hiệu quả cao, kết
quả nghiên cứu thực sự có ý nghĩa với doanh nghiệp không phải là việc dễ
dàng do đó cần tiến hành theo đúng trình tự, hệ thống một cách chặt chẽ và
phương pháp nghiên cứu mang tính chất khoa học cao.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Sinh viªn : NguyÔn ThÞ Hoa Líp : K35E4 – khoa TMQT
đủ, chính xác, người lập phương án kinh doanh sẽ đánh giá tổng quát tình
hình hiện tại của môi trường và thị trường, đồng thời phải dự đoán được
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Sinh viªn : NguyÔn ThÞ Hoa Líp : K35E4 – khoa TMQT
những biến động của thị trường trong tương lai, có như vậy mới tận dụng
được các cơ hội, kết hợp với việc xác định nhu cầu trong nước, khả năng
cung cấp giữa các đối tác và điểm mạnh yếu của các doanh nghiệp so với đối
thủ cạnh tranh từ đó lựa chọn thị trường và mặt hàng kinh doanh của doanh
nghiệp.
* Xác định mục tiêu.
Sau khi đã phân tích để lựa chọn thị trường và mặt hàng kinh doanh,
đơn vị ngoại thương phải xác định mục tiêu cụ thể của phương án kinh
doanh đặt ra cần đạt được đồng thời đây cũng là các chỉ tiêu để đánh giá
hiệu quả kinh tế của phương án kinh doanh. Các mục tiêu cụ thể là doanh
thu lợi nhuận và uy tín …
* Phác thảo các phương án kinh doanh:
Sau khi mục tiêu đã xác định, đơn vị kinh doanh sẽ tiến hành phác
thảo các phương án kinh doanh các mặt hàng đã lựa chọn trên thị trường
mục tiêu. Một phác thảo phương án kinh doanh cần phải :
+ Mô tả chi tiết tình hình kinh doanh trên thị trường mục tiêu, mô tả
về mặt hàng kinh doanh, đối tác dung lượng, giá cả vận chuyển, ngân
hàng… xác định đối tác và dự kiến mức giá mua, giá bán số lượng nhập
khẩu và lợi nhuận dự tính.
+ Xác định cách thức, tiến hành kinh doanh.
+ Dự toán các tình huống có thể xảy ra và phương pháp ứng xử.
+ các phương pháp kiểm tra và đánh giá kết quả.
* Lựa chọn phương án kinh doanh: Sau khi phương án kinh doanh được
phác thảo tiế hành lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu nhất, lựa chọn
phương án nào phải dựa trên cơ sở là hệ thống các chỉ tiêu như doanh thu, lợi
nhuận, tỉ suất lãi trên vốn, tỉ suất chi phí phát sinh, mức độ rủi ro, khả năng
thương mại giữa các bên tham gia.
Quy trình giao dịch:
2.1.1 Hỏi giá:
Đây là bước khởi đầu của giao dịch. Hỏi giá là việc người mua đề nghị
người bán cho biết giá cả và các điều kiện thương mại cần thiết khác để mua
hàng. Hỏi giá không dễ dàng bắt buộc trách nhiệm pháp lí của người hỏi giá.
Hỏi giá
Chào
hàng
Đặt
hàng
Hoàn
giá
Xác nhận
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Sinh viªn : NguyÔn ThÞ Hoa Líp : K35E4 – khoa TMQT
Do đó người có thể gửi hỏi giá đi nhiều nơi tới các nhà cung cấp tiềm năng để
nhận được những baó giá, sau đó đánh giávà chọn ra báo giá tối ưu nhất.
2.1.2 Chào hàng.
Đây là một đề nghị kí kết hợp đồng mua bán hàng hoá được chuyển
cho một hay nhiều người xác định. Nội dung cơ bản của một chào hàng gồm
các điều kiện: Tên hàng, số lượng, quy cách, phẩm chất, giá cả, phương thức
thanh toán, địa điểm và thời hạn giao hàng, bao bì…
bản.
2.2.Đàm phán.
Việc đàm phán để đi đến kí hợp đồng nhập khẩu thường được tiến hành
kết hợp giữa các hình thức sau:
+ Giao dịch, đàm phán qua thư tín: Đây là hình thức giao dịch chủ yếu
giữa công ty đối với các đối tác nước ngoài. Sử dụng hình thức này có thể
tiết kiệm được chi phí đồng thời tạo điều kiện cho cả hai bên cân nhắc suy
nghĩ vấn đề một cách thấu đáo. Bằng cách này, Công ty có thể giao dịch
cùng một lúc với nhiều đối tác ở nhiều nước khác nhau. Tuy nhiên đàm phán
theo cách này thường mất rất nhiều thời gian chờ đợi, có thể cơ hội mua bán
tốt sẽ trôi qua và rất khó đoán được ý đồ thật của đối phương. Khi sử dụng
thư tín để giao dịch đàm phán cần phải luôn nhớ rằng thư từ là “ sứ giả” của
mình đến với khách hàng bởi vậy cần hết sức lưu ý trong việc viết thư.
+ Giao dịch, đàm phán qua fax và điện thoại: Hình thức này giúp cho
việc đàm phán diễn ra nhanh chóng ngay khi có vấn đề nảy sinh. Tuy nhiên
thời gian dành cho đàm phán không nhiều do cước phí fax và điện thoại
quốc tế rất đắt. Ngoài ra, đàm phán bằng điện thoại chỉ thoả thuận bằng
miệng, không có gì làm bằng chứng cho những thoả thuận quyết định trao
đổi. Bởi vậy điện thoại chỉ được dùng những trường hợp rất cần thiết, khẩn
trương hoặc trường hợp mà mọi điều kiện đã thoả thuận xong, chỉ còn chờ
xác nhận một số chi tiết.
+ Giao dịch, đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp: Thực tế cho thấy,
do hai bên trực tiếp gặp nhau nên có thể trao đổi một số vấn đề liên đến hợp
đồng và dễ dàng đi đến thống nhất, thậm chí còn còn tạo điều kiện cho việc
hiểu biết nhau tốt hơn và duy trì được quan hệ tốt lâu dài với nhau. Tuy
nhiện, đây cũng là cũng là hình thức đàm phán khó khăn nhất trong hình
thức đàm phán, để đạt được kết quả tốt trong đàm phán thì đòi hỏi người
đàm phán phải nắm chắc nghiệp vụ và ngoại ngữ, có khả năng ứng sử nhạy
bén, linh hoạt trong mọi tình huống để có thể tỉnh táo, bình tĩnh nhận xét,
LuËn v¨n tèt nghiÖp
+ Người mua nhận bằng văn bản là người mua đã đồng ý với các điều
kiện và điều khoản của một chủ hàng tự do nếu người mua viết viết đúng thủ
tục cần thiết và trong thời gian hiệu lực của thư chào hàng.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Sinh viªn : NguyÔn ThÞ Hoa Líp : K35E4 – khoa TMQT
+ Người bán hàng xác nhận bằng văn bản đơn đặt hàng của người mua
có hiệu lực
+ Trao đổi bằng thư xác nhận đạt được những thoả thuận trong đơn đặt
hàng trước đây của hai bên ( Nêu ró điêù kiện được thoả thuận ). Hợp đồng
chỉ có thể coi là kí kết chỉ trong trường hợp hai bên đã kí vào hợp đồng.
* Nội dung của hợp đồng nhập khẩu bao gồm các điều kiện:
+ Tên hàng
+ Số lượng và cách xác định. Đặc biệt lưu ý tới từng loại hàng để xác
định số lượng mới chuẩn xác
+ Quy cách phẩm chất và cách xác định.
+ Đóng gói, bao bì mã hiệu phải phù hợp với hàng hoá
+ Thời hạn, phương tiện và địa điểm giao hàng.
+ Giá cả, giá trị, điều kiện giao hàng
+ Phương thức thanh toán và chứng từ thanh toán
+ Bảo hiểm
+ Phạt và bồi thường thiệt hại
+ Tranh chấp và giải quyết tranh chấp
+ Bảo hành, khiếu nại.
+ Kiểm tra và giám định hàng hoá nhập khẩu
+ Trường hợp bất khả khách hàng
3. Quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
Sau khi hợp đồng nhập khẩu được kí kết, đơn vị kinh doanh xuất nhập
khẩu- với tư cách một bên kí kết – phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Đây
là công việc rất quan trọng và phức tạp, nó đòi hỏi phải tuân thủ luật quốc
gia và quốc tế, đồng thời phải đảm boả được quyền lợi của quốc gia và uy
+ Đơn xin mở thư tín dụng
+ Giấy phép nhập khẩu của Bộ thương mại cấp
+ Hợp đồng thương mại ( bản sao)
Ngoài ra còn phải nộp một số giấy tờ có liên quan đến thủ tục thanh
toán và kí quỹ như:
+ Uỷ nhiệm chi ngoại tệ để trả thủ tục phí
+ Uỷ nhiệm chi ngoại tệ để kí quỹ mở L/C
Hoặc đơn xin mua ngoại tệ để kí quỹ và trả thủ tục phí.
Hoặc hợp đồng vay ngoại tệ tiềnVNĐ ( trong trường hợp xin vay để
thanh toán L/C)
Trong đơn xin mở L/C phải đề cập đầy đủ những nội dung chính sau:
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Sinh viªn : NguyÔn ThÞ Hoa Líp : K35E4 – khoa TMQT
+ Tên ngân hàng thông báo
+ Loại L/C, số, ngày, ngày phát hành
+ Thời gian và địa điểm hết hiệu lực của L/C
+ Tên và địa chỉ của người thụ hưởng.
+ Tên và địa chỉ của người xin mở L/C
+ Trị giá thư tín dụng
+ Bộ chứng từ phải xuất trình để thanh toán
+ Mô tả hàng hoá
+ Đơn giá
+ Điều kiện giao hàng
+ Điều kiện về hàng hoá: Bao bì, đóng gói, kí mã hiệu
+ Phương thức vận chuyển
Tên cảng đi, Tên cảng đến: cho phép/ không cho phép
+ Thời hạn giao hàng
+ Điều kiện đặc biệt về:
Phí phát sinh ngoài địa phận nước Việt Nam
Phí tu chỉnh L/C do bên bán hoặc bên mua chịu
+ Ngày cấp đơn bảo hiểm, sáng hay chiều
+ Tên và địa chỉ người mua bảo hiểm
+ Tên hàng được bảo hiểm
+ Quy cách đóng gói, bao bì, kí mã hiệu của hàng
+ Tên tàu
+ Cách xếp hàng trên tàu
+ Cảng khởi hành, cảng chuyển tải ( nếu có ) cảng đến
+ Ngày tàu khởi hành
+ Trị giá hàng được bảo hiểm.
+ Điều kiện hàng được bảo hiểm.
+ Phí bảo hiểm.
+ Địa chỉ và và giám định viên nơi đến.
+ Nơi trả tiền bồi thường, do người được bảo hiểm chọn.
+ Số bán đơn bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng trong đó người bảo hiểm nhận bảo
hiểm một khối lượng hàng vận chuyển trong nhiều chuyến kế tiếp nhau (
thời hạn là 1 năm ), và khi kí kết hợp đồng bảo hiểm chưa rõ khối lượng
hàng là bao nhiêu. Hợp đồng bảo hiểm này quy định, khi giao hàng xuống
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Sinh viªn : NguyÔn ThÞ Hoa Líp : K35E4 – khoa TMQT
tàu xong đơn vị chỉ gửi đến Công ty bảo hiểm một thông báo bằng văn bản
gọi là “giâý báo bắt đầu vận chuyển” theo mẫu
Trong hợp đồng này, hai bên thoã thuận các vấn đề chung nhất có tính
nguyên tắc như: Nguyên tắc chung -Phạm vi trách nhiệm -Việc đóng gói
hàng loại phương tiện vận chuyển cách yêu cầu bảo hiểm -Cách tính trị
giá bảo hiểm Phí bảo hiểm và thanh toán phí bảo hiểm Giám định
khiếu nại, đòi bbồi thường Hiệu lực của hợp đồng Xử lí tranh chấp
Các đơn vị ngoại thương Việt Nam thường bảo hiểm hàng nhập khẩu
theo hợp đồng bảo hiểm bao
3.5 Làm thủ tục hải quan
nhỏ ; Luồng đỏ – hàng hoá có nhiều vướng mắc thì phải nhanh chóng hoàn
tất thủ tục thì hàng của mình mới được giải phóng.
Bước 3: Nhận thông báo thuế của Hải Quan và tổ chức để hải quan
kiểm tra hàng hoá
Bước 4: Câưn cứ vào kết quả kiểm hoá và khai báo của ta Hải quan sẽ
xác định chính xác số thuế mà ta phải nộp và quyết định điều chỉnh số thuế
phải nộp và ra quyết định số thuế phải nộp nếu cần.
Bước 5: Sau khi đã nộp đủ thuế Hải quan sẽ đóng dấu “ đã làm thủ tục
Hải quan” lên trang đầu tờ khai và giao cho ta nhận một bản. Từ đây hàng
của ta được giải phóng.
3.6 Nhận hàng nhập khẩu
Khi hàng hoá đã về tới cảng Hải quan sẽ thông báo cho người nhận.
Công ty khi nhận phải tiến hành một số công việc sau:
+ Kí kết hợp đồng uỷ thác cho cơ quan vận tải về việc nhận hàng
+ Xác nhận với cơ quan vận tải kế hoạch tiếp nhận hàng hoá từng quý,
từng năm, cơ câú hàng hoá, lịch tàu, điều kiện kĩ thuật khi bốc dỡ, vận
chuyển giao nhận.
+ Cung cấp tài liệu cần thiết cho việc nhận hàng hoá( Vận đơn, lệnh
giao hàng…) Nếu tàu biển không giao những tài liệu đó cho cơ quan vận tải.
+Theo dõi việc giao nhận, đôn đốc cơ quan vận tải lập biên bản về hàng
hoá và giải quyết trong phạm vi của mình những vấn đề xảy ra trong việc
giao nhận
+ Thanh toán cho cơ quan vận tải các khoản phí tổn về giao nhận, bốc
xếp, bảo quản và vận chuyển hàng hoá nhập khẩu
+ Thông báo cho các đơn vị đặt hàng chuẩn bị nhận hàng hoá.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Sinh viªn : NguyÔn ThÞ Hoa Líp : K35E4 – khoa TMQT
+ Chuyển hàng hoá về kho của doanh nghiệp hoặc trực tiếp giao cho
các đơn vị đặt hàng
3.7 Kiểm tra hàng nhập khẩu.