nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới nhận thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng dân cư tại thành phố tân an, tỉnh long an - Pdf 21

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Vũ Hải Yến
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay, loài người chúng ta đang đứng trước sự khan hiếm dần và ngày
càng cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên do sự khai thác và sử dụng quá
mức. Từ đó ảnh hưởng đến môi trường sống của chúng ta ở hiện tại và cả trong
tương lai. Vì thế, vấn đề môi trường đang là một trong những mối quan tâm hàng
đầu của nhiều quốc gia trên thế giới.
Đảng và Nhà nước Việt Nam ta từ nhiều năm nay đã có những chủ trương,
biện pháp để giải quyết các vấn đề về môi trường. Ngoài ra, công tác giáo dục, đào
tạo và nâng cao nhận thức về môi trường cũng rất được quan tâm. Đặc biệt là công
tác giáo dục môi trường trong cộng đồng.
Trên thực tế, giáo dục môi trường đã và đang được lồng ghép giảng dạy ở
hầu hết các môn học trong các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung
học phổ thông, đại học, cao đẳng, và được tuyên truyền rộng rãi trên các phương
tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, mức độ quan tâm, hiểu về môi trường của các
đối tượng được giảng dạy và tuyên truyền này như thế nào; cũng như kỹ năng và
thái độ của họ đối với môi trường là ra sao thì vẫn chưa thể đánh giá được.
Trong xã hội có rất nhiều tầng lớp với những độ tuổi khác nhau, môi trường
sống, học tập, lao động của họ cũng khác nhau. Từ đó dẫn đến nhận thức và thái độ
của con người về môi trường sẽ bị chi phối bởi nhiều yếu tố.
Trên cơ sở đó, đề tài “ Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới nhận thức
bảo vệ môi trường trong cộng đồng dân cư tại thành phố Tân An, tỉnh Long An”
được thực hiện để tìm ra các yếu tố chi phối nhận thức bảo vệ môi trường của người
dân nơi đây. Từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của
cộng đồng.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
− Khảo sát và đánh giá về nhận thức bảo vệ môi trường của cộng đồng dân cư
tại Tp Tân An, tỉnh Long An.
SVTH: Lê Kim Anh
MSSV: 107108002

SVTH: Lê Kim Anh
MSSV: 107108002
2
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Vũ Hải Yến
+ Học sinh trung học cơ sở với độ tuổi từ 12-15 tuổi.
+ Học sinh trung học phổ thông với độ tuổi từ 16-18 tuổi.
+ Sinh viên đại học với độ tuổi từ 19-23 tuổi.
+ Người lao động với độ tuổi từ 23 tuổi trở lên.
• Quan sát, phỏng vấn, trò chuyện.
c) Phương pháp phân tích số liệu:
Thống kê, xử lý, tổng hợp và phân tích các số liệu thu thập được bằng phần
mềm microsoft office Excel 2003.
5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Do hạn chế về thời gian nên đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu, khảo sát tại:
- Một trường tiểu học.
- Một trường trung học cơ sở.
- Một trường trung học phổ thông.
- Một trường đại học.
- Và một số cơ quan, công ty, cửa hàng, tiệm buôn bán nhỏ.
Trên địa bàn Tp Tân An, tỉnh Long An.
6. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Do giới hạn thời gian nên đề tài chỉ được thực hiện trong vòng 03 tháng.
Từ tháng 11/2011 đến tháng 02/2012.
7. Ý NGHĨA KHOA HỌC, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA ĐỀ TÀI
- Tìm ra được một số yếu tố ảnh hưởng tới nhận thức bảo vệ môi trường trong một
cộng đồng dân cư nhỏ.
- Góp phần vào công tác bảo vệ môi trường của cộng đồng.
- Góp phần vào công tác giáo dục môi trường.
8. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Gồm 6 chương với nội dung như sau:

giữa kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội trong các vùng đô thị và nông thôn.
 Mang lại cho mọi người cơ hội đạt được tri trước, các giá trị, thái độ, cam
kết và kỹ năng cần thiết để bảo vệ và cải thiện môi trường.
 Tạo ra những mẫu mực mới trong hành vi của các cá nhân, nhóm và xã hội
như là một tổng thể hướng về môi trường (USESCO).
GDMT là một quá trình liên tục suốt đời.
Theo tài liệu của cục bảo vệ môi trường TP HCM: “Giáo dục môi trường là
một quá trình thông qua các hoạt động chính quy và không chính quy nhằm giúp
con người có được sự hiểu biết, kỹ năng và giá trị tạo điều kiện cho họ tham gia và
phát triển một xã hội bền vững về sinh thái”.
SVTH: Lê Kim Anh
MSSV: 107108002
5
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Vũ Hải Yến
Không nhất thiết phải kết luận rằng quan niệm nào là đúng hay sai. Mỗi nền
văn hóa và thể chế xã hội có quyền xác định cho mình một hướng tiếp cận tối ưu,
cùng với sự tiếp thu thế mạnh của các khuynh hướng khác nhau.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ của việc GDMT thông qua các môn học ở nhà
trường có thể hiểu GDMT theo định nghĩa là một quá trình tạo dựng cho con người
những nhận thức và mối quan tâm đến môi trường và các vấn đề về môi trường.
GDMT gắn liền với việc học kiến thức, rèn luyện luyện kỹ năng, hình thành thái độ
và lòng nhiệt tình để hoạt động một cách độc lập hoặc phối hợp nhằm tìm ra giải
pháp cho những vấn đề môi trường hiện tại và ngăn chặn những vấn đề mới có thể
xảy ra trong tương lai.
1.2 Mục đích của GDMT:
Mục đích của GDMT nhằm vận dụng những kiến thức và kỹ năng vào gìn
giữ, bảo tồn, sử dụng môi trường theo cách thức bền vững cho cả thế hệ hiện tại và
tương lai. Nó cũng bao hàm cả việc học tập cách sử dụng những công nghệ mới
nhằm tăng sản lượng và tránh những thảm họa môi trường, xóa nghèo đói, tận dụng
các cơ hội và đưa ra những quyết định khôn khéo trong sử dụng tài nguyên. Hơn

trong việc xác định và giải quyết các vấn đề môi trường.
Tham gia: Tạo cơ hội cho các đoàn thể xã hội và cá nhân tham gia mội cách
tích cực ở mọi cấp trong việc giải quyết những vấn đề môi trường.
1.2.3 GDMT mong hình thành điều gì cho học sinh.
Về kiến thức hiểu biết.
Các hoạt động GDMT sẽ được thiết kế và thực hiện nhằm giúp học sinh làm
quen với các khai niệm sau đây:
 Bảo vệ và bảo tồn.
 Giảm tiêu thụ, tái sử dụng và tái chế.
 Các chu trình khép kín.
SVTH: Lê Kim Anh
MSSV: 107108002
7
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Vũ Hải Yến
 Cái cần có cái muốn có
 Sự phụ thuộc lẫn nhau.
 Chi phí và lợi ích thu được.
 Tăng trường và suy thoái
 Kiểm toán về tác động và sử dụng các nguồn cung cấp.
 Hình thành và duy trì quan hệ đối tác
 Các kiểu liên kết: Nguyên nhân – hậu, chuỗi – mạng.
Tư duy một cách toàn cầu và hành động một cách cục bộ.
Sự lựa chọn các khái niệm trên còn phải tính đến các mối quan hệ:
Phát triển – tác động Nguyên nhân – kết quả
Chất lượng – số lượng Vấn đề - giải pháp
Suy nghĩ – hành động Chi phí - lợi ích
Quốc tế - khu vực Quốc gia – địa phương
Trong thực tiễn sư phạm, mỗi ngôi trường cụ thể phụ thuộc về một vùng địa
lý cụ thể, nằm trong một bối cảnh văn hóa cụ thể, sẽ có một nhu cầu giáo dục môi
trường cụ thể. Điều này quyết định việc lựa chọn những nội dung và phương thức

hoạt động cải thiện môi trường và truyền bá các ý tưởng tốt đẹp trong cộng đồng.
Việc thay đổi thái độ của học sinh trước các vấn đề môi trường là một dấu
hiệu mấu chốt cho phép đánh giá mức độ thành công của chương trình GDMT. Các
chương trình này không những chỉ đạt mục đích mục cung cấp các kiến thức, kỹ năng
và hiểu biết về môi trường, mà còn phải dấn bước vào “lãnh địa” đạo đức, nơi mà các
giá trị đạo lý môi trường có trong học sinh phải được bộc lộ ra bên ngoài bằng thái độ
và tình cảm, hành vi cụ thể. Quan sát thói quen của nhiều học sinh khác nhau có thể
phân biệt được nhân cách môi trường giữa chúng. Mà thói quen là do sự lặp đi lặp lại
(bằng cơ bắp) nhiều lần một công việc; do đó, việc học sinh có được một kiến thức,
SVTH: Lê Kim Anh
MSSV: 107108002
9
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Vũ Hải Yến
hiểu biết nào đó về môi trường (ví dụ lợi ích của việc giảm thụ tiêu thụ năng lượng)
chưa hẳn là học sinh đó có được một hành vi tương xứng (biết tắt điện khi ra khỏi
phòng). Điều này giải thích vì sao xu hướng GDMT luôn nghiêng về các hình thức
hoạt động và thực hành.
Mặc dù có quan hệ mật thiết giữa các vấn đề môi trường toàn cầu và địa
phương, nhưng các hoạt động GDMT nên xuất phát từ các tình huống tại chỗ, nơi
mà học sinh đã từng trải nghiệm trong quá trình trưởng thành của mình. Trong hoàn
cảnh đó, những quan tâm và thái độ của các em đối với môi trường có cơ hội bộc lộ
một cách thành thực; và từ đó, nhu cầu của hiện trạng sẽ nảy sinh một cách tự
nhiên.
1.3 Phạm vi GDMT
- Tất cả mọi lĩnh vực: Tự nhiên, văn hóa, xã hội,…
- Tất cả các nghề nghiệp
- Tất cả mọi lứa tuổi, giới tính, dân tộc, mọi trình độ văn hóa.
Ý thức của giai đoạn đầu tiên là tập trung vào học sinh ở trường phổ thông,
vì GDMT cho học sinh ở trường phổ thông không những có kết quả trước mắt mà
còn đạt được những lợi ích lâu dài.

trường đã được thông qua vời những mục tiêu và nguyên tắc manh tính hướng dẫn
sau:
Mục tiêu của giáo dục môi trường là nâng cao nhận thức của quần chúng về
các vấn đề trong lĩnh vực này cũng như các giải pháp có thể, đặt nền móng cho sự
tham gia tích cực với đầy đủ kiến thức của từng cá nhân trong việc bảo vệ môi
trường và sử dụng một cách hợp lý sáng suốt các tài nguyên thiên nhiên. Để đạt
được những mục tiêu trên, giáo dục môi trường cần phải tính đến các nguyên tắc
mang tính chỉ dẫn sau:
Môi trường phải được coi là tài sản của nhân loại.
SVTH: Lê Kim Anh
MSSV: 107108002
11
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Vũ Hải Yến
Nhiệm vụ chung được coi là sự đóng góp cho việc bảo vệ sức khỏe con
người và giữ gìn cân bằng sinh thái, duy trì và bảo vệ môi trường.
Sự cần thiết đối với việc sử dụng hợp lý, sáng suốt các tài nguyên thiên nhiên.
Đường lối mà mỗi cá nhân với tư cách là người tiêu dùng có thể đóng góp
cho việc bảo vệ môi trường bằng hành vi thái độ của mình.
Nghị quyết chỉ ra rằng các quốc gia cộng đồng sẽ cố gắng thực hiện các biện
pháp nhất định, bao gồm đưa GDMT vào tất cả các ban ngành giáo dục … cân nhắc
với mục đích cơ bản của GDMT khi soạn thảo chương trình … áp dụng các biện
pháp thích hợp để nâng cao kiến thức về môi trường trong bước đào tạo ban đầu và
đào tạo tại chức cho giáo viên … (Báo cáo chuyên đề của Hội đồng Châu Âu
6/7/1988).
Giáo dục môi trường ở Vương quốc Anh
Giáo dục môi trường được xác định là một môn học trong chương trình dạy
học phổ thông ở Anh trong khoảng vài ba thập kỷ. Các chức trách địa phương, các
tổ chức nhà nước, các trường tư và các giáo viên đã thực hiện được một khối lượng
công việc khổng lồ nhằm thúc đẩy tầm quan trọng của giáo dục môi trường, và phát
huy hiệu quả dạy học và chiến lược học tập. Trong những năm tiếp theo, “môi

thức được một cách lờ mờ. Môi trường là tương lai của con cái chúng ta và nhiều
người đã hiểu rằng chúng ta cần phải khuyến khích chúng suy nghĩ tích cực về nó
… Cần phải làm gì để giảm những hư hại mà chúng ta gây ra cho nó, cần phải có
những thời điểm hoàn cảnh nào để cải tạo môi trường quanh ta và để có được những
giải pháp thực tế, con cái của chúng ta phải biết sử dụng những kiến thức đã học ở
trường. (Trích diễn văn của Angela Rwbold, Bộ trưởng Giáo dục và Khoa học, ngày
27/7/1989. Kỳ họp khoa học quốc tế London) (trọng tâm nhấn mạnh).
Ở Châu Á và Đông Nam Á
Cũng như trên thế giới, các nước Đông Nam Á đang đứng trước một khó
khăn về giáo dục môi trường: giáo dục kiến thức môi trường các cấp học, trường
học và nâng cao dân trí môi trường. Đây là một nhu cầu cấp bách, nhất là ở cấp hệ
“hậu trung học”. Đông Nam Á đang thiếu hụt chuyên gia có đủ trình độ để giảng
SVTH: Lê Kim Anh
MSSV: 107108002
13
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Vũ Hải Yến
dạy về cơ bản môi trường học, tiếp cận nguồn thông tin, tài liệu thích hợp giảng dạy
có định hướng chiến lược. Tuy vậy, mỗi nước vẫn có những thành tựu đáng kể và
một số trở ngại riêng.
Ở Indonesia, các trung tâm nghiên cứu môi trường đặt trong các học viện đã
hỗ trợ đắc lực cho việc quản lý môi trường. Các trung tâm này được thành lập nhằm
cung ứng những chuyên gia công nghệ cho việc nghiên cứu đào tạo và hàng loạt các
công việc khác liên quan đến vấn đề khoa học môi trường ở cấp độ quốc gia và khu
vực. Tuy nhiên, về dân trí môi trường ở một số đảo xa Jakarta như Kalimantan thì
vẫn chưa cao.
Hơn một thập kỷ qua, ở Malaysia, sở dĩ các trường đại học đã đạt được chất
lượng rất cao và rất mạnh trong giáo dục môi trường một phần là nhờ sự liên kết
chặt chẽ giữa các học viện trong nước và ngoài vùng. Các trường đại học như Đại
học tổng hợp Malaya ở Kuala Lumpua hay Đại học Benanh ở phía Bắc, đã tổ chức
cả những khóa học chính thức lẫn ngoại khóa về môi trường cho các sinh viên theo

Nhìn chung, việc đưa nội dung GDMT vào trường sư phạm và trường phổ
thông thông qua các chuyên đề trên mới chỉ dừng ở mức độ cung cấp một số kiến
thức và thông tin về môi trường cùng với những gợi ý phương pháp lồng ghép
GDMT vào một số bộ môn văn hóa ở trường phổ thông, chưa chú trọng đến việc
bồi dưỡng cho giáo viên năng lực GDMT để tạo cơ sở cho họ có thể hoàn thành tốt
nhiệm vụ GDMT cho học sinh của mình.
Trong chương trình của một số môn học trong trường phổ thông, nội dung
GDMT đã được đề cập từ những năm 1979 - 1980, qua nhiều lần chỉnh lý, đến nay đã
chính thức được đưa vào giảng dạy lồng ghép ở một số môn học được xem là thích
hợp như Sinh học, Địa lý, Hóa học, Giáo dục công dân (ở bậc trung học phổ thông),
Tự nhiên xã hội, Giáo dục sức khỏe, Đạo đức (ở bậc tiểu học).
Tuy nhiên, ở hầu hết các môn học trên, nội dung GDMT mới chỉ được đề
cập ở mức độ khiêm tốn.
Hiện nay, với cách nhìn mới nhất, GDMT được coi là một quá trình, về
nguyên tắc, không được coi là một môn học. Vì vậy mà mọi thành viên trong hệ
SVTH: Lê Kim Anh
MSSV: 107108002
15
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Vũ Hải Yến
thống giáo dục đều có quyền tham gia, và việc thiết kế giáo trình giảng dạy về
GDMT ở trường sư phạm cũng như các trường phổ thông đều có thể triển khai
mọi môn học, từ khoa học tự nhiên, khoa học xã hội đến ngôn ngữ và nghệ thuật.
SVTH: Lê Kim Anh
MSSV: 107108002
16
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Vũ Hải Yến
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC MƠI TRƯỜNG
2.1. Mơ hình của việc dạy và học trong GDMT
Việc dạy và học trong GDMT đang diễn ra trên tồn cầu theo mơ hình sau:

◘Cung cấp lý thuyết về các quá trình tự nhiên, xã hội có liên quan đến môi
trường.
◘ Chú trọng đến thông tin, dữ liệu, sự kiện và hoạt động thực tế nhằm thu
hoạch tri thức và trao dồi kỹ năng.
Giáo dục vì môi trường
○ Phán xét
○ Thái độ, hành vi
○ Giá trị
◘ Hình thành khả năng suy nghĩ, nghe, nói, đọc, viết, có sự phán xét. Nhân
tố này hỗ trợ cho quá trình hình thành hành vi tốt, thái độ đúng với môi trường.
◘ Hình thành thái độ quan tâm đến môi trường, khuyến khích sử dụng hợp lý
môi trường hôm nay và ngày mai.
◘ Hình thành khả năng đánh giá, ra quyết định trước những vấn đề môi
trường. Phát triển khả năng lựa chọn những giải pháp có tính bền vững.
◘ Thiết lập những giá trị đạo lý môi trường căn bản mà các cá nhân sẽ phấn
đấu thực hiện suốt đời.
Giáo dục trong môi trường
○ Phát huy tiềm năng
○ Kinh nghiệm
○ Sự tham gia
◘ Mở ra nhiều cơ hội giúp học sinh tích lũy nhiều kinh nghiệm nhờ giáo dục
trực tiếp trong môi trường gần gũi (như trường học, cộng đồng địa phương hay các
địa bàn khác xa hơn).
◘ Đề cao quyền công dân của học sinh đối với công việc bày tỏ các quan tâm
chung về môi trường. Quá trình tham gia trực tiếp các hoạt động giáo dục thông qua
SVTH: Lê Kim Anh
MSSV: 107108002
18
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Vũ Hải Yến
môi trường sẽ phát huy tiềm năng của mỗi học sinh bao gồm việc củng cố, phát

trách nhiệm.
 Nên gắn sự nhạy cảm, nhận thức, kỹ năng giải quyết vấn đề và các giá trị
môi trường với từng độ tuổi; nhưng trong những năm đầu tiên nên nhấn mạnh đến
sự nhạy cảm môi trường trong nhóm riêng của người học.
 Giúp người học phát hiện được những dấu hiệu và nguyên nhân thực sự
của các vấn đề môi trường.
 Nhấn mạnh sự phức tạp của các vấn đề môi trường và do vậy cần hình
thành một lối suy nghĩ biết phán xét và các kỹ năng giải quyết vấn đề.
 Tận dụng các môi trường học tập đa dạng và một mảng rộng lớn các cách
tiếp cận giáo dục đối với việc dạy và học về môi trường và thông qua môi trường, trong
đó, nhấn mạnh đến các hoạt động thực tế và những kinh nghiệm trực tiếp.
2.3. Mô hình một hoạt động GDMT
Để thiết kế một hoạt động GDMT cần xác định rõ yếu tố cơ bản sau:
Mục tiêu: Hoạt động này được thiết kế nhằm giúp học sinh
1)…….
2)…….
3)…….
Thực hiện nhiệm vụ:
Hoạt động này được thực hiện theo trình tự sau:
1) Học sinh nghe giáo viên:
a) Nêu mục đích và mô tả toàn bộ hoạt động đã diễn ra
b) Giao nhiệm vụ cụ thể (cho cá nhân hoặc nhóm)
c) Hướng dẫn cách thực hiện
SVTH: Lê Kim Anh
MSSV: 107108002
20
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Vũ Hải Yến
2) Học sinh thực hiện nhiệm vụ theo từng bước
3) Học sinh kiểm tra và điều chỉnh liên tục trong suốt quá trình thực hiện
nhiệm vụ.

4. Kết luận
5. Vận dụng các kết luận, đưa ra cam kết hành động.
2.4.2 Làm việc nhóm.
Đây là phương pháp dạy học có nhiều khả năng tốt trong GDMT vì nó đề
cao sự hợp tác trên cơ sở hoạt động tích cực của từng cá nhân.
Trong thảo luận nhóm, cần chú ý:
Vai trò của nhóm trưởng cần phải được xác định rõ.
GV phải chuẩn bị chu đáo nội dung (hệ thống câu hỏi) cũng như tiến trình.
Nếu thấy HS thảo luận đi xa vấn đề thì cần phải uốn nắn ngay.
Cần khuyến khích các em tranh luận.
Hình dung trước những ý kiến và thái độ của HS để khi tổng kết, học sinh
nào cũng thấy mình có phần đóng góp vào những ý kiến thảo luận của nhóm,
lớp.
Phương pháp làm việc nhóm được tiến hành theo bốn bước: chuẩn bị, giao
nhiệm vụ, tiến hành thảo luận nhóm, tổng kết (đại diện các nhóm trình bày kết
quả).
2.4.3 Đóng vai:
Đây là phương pháp được đặc trưng bởi một hoạt động với các nhân vật giả
định, mà trong đó các tình thế trong thực tiễn cuộc sống được thể hiện tức thời
thành những hành động có tính kịch. Trong vở kịch này, các vai khác nhau do chính
học sinh đóng và trình diễn. Các hành động kịch được xuất phát từ chính sự hiểu
SVTH: Lê Kim Anh
MSSV: 107108002
22
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Vũ Hải Yến
biết, óc tưởng tượng và trí sáng tạo của học sinh, không cần phải qua tập dượt hay
dàn dựng công phu vì đây là một quá trình thông tin với đặc điểm cơ bản là trình
diễn tức thời.
Phương pháp đóng vai được tiến hành theo các bước sau:
+ Bước 1: Tạo không khí để đóng vai. Việc đóng vai không phải bao giờ cũng

địa điểm, thời gian, các tình trạng sự vật vào thời điểm tiến hành quan sát.
Phỏng vấn là giai đoạn tiếp theo của sự quan sát được thực hiện với những
người xung quanh như cha mẹ, hàng xóm.
Kết quả thu được từ những câu trả lời này sẽ được kết hợp cùng với những quan
sát thực địa để xác định tính xác thực vời người quan sát có cái nhìn thực tế trực diện,
cụ thể hơn.
2.4.5. Tranh biện:
Chia toàn thể số người tham gia thành hai bên với số lượng bằng nhau. Mỗi
bên cử một nhóm 3 – 5 người làm đại diện. Cuộc tranh biện sẽ diễn ra giữa hai
nhóm này. Số còn lại làm cử tọa gồm các cổ động viên cho nhóm mình. Cần một
trọng tài cân bằng.
Người điều khiển đưa ra một ý kiến (dưới dạng một mệnh đề), viết hẳn lên
bảng.
Bốc thăm để phân công một trong hai nhóm gọi là “nhóm ủng hộ” (bảo vệ ý
kiến trên), và “nhóm phản đối”, hai nhóm đưa ra ý kiến và lập luận bảo vệ cho
nhóm mình.
Vai trò trọng tài: giữ cho cuộc tranh biện xảy ra đúng luật. Vai trò cử tọa; quan
sát và bình chọn đội nào có lý lẽ vững vàng và có sức thuyết phục.
Kết thúc: Người dẫn chương trình nhận xét, đánh giá các nhóm, đánh giá sự
tham gia của cử tọa và kết luận về những bài học về môi trường.
SVTH: Lê Kim Anh
MSSV: 107108002
24
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Vũ Hải Yến
2.4.6. Thuyết trình:
Đây là phương pháp, trong đó HS tự thu thập tư liệu thông qua báo chí và các
phương tiện truyền khác, xây dựng thành một báo cáo và trình bày trước tập thể
(lớp hay nhóm người có chung mục đích, cùng có quan tâm đến vấn đề).
Phương pháp này dành cho HS ở các lớp lớn, thể hiện sự vận dụng tổng hợp
các kỹ thuật ở nhiều phương pháp khác nhau (khám phá, điều tra, thực địa, dự án,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status