Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ CNTY – K5- Thanh Xuân
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này, em xin chân thành cảm ơn
Thầy hướng dẫn Hoàng Thanh - Bộ môn chăn nuôi chuyên khoa – cùng
các cô giáo, thầy giáo khoa Chăn nuôi Thuỷ sản, khoa Thú y Trường ĐHNN
Hà Nội đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ chúng em trong toàn khoá học.
Em chân thành cảm ơn giám đốc các đồng chí lãnh đạo, CB - CNV
tại XN Gà giống Chương Mỹ, Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi
để em hoàn thành đề tài thực tập.
Cuối cùng, xin cảm ơn các ban đồng nghiệp, gia đình và các bạn bè,
ngời thân đã giúp đỡ, tạo điều kiện và động viên để em hoàn thành đề tài.
Sinh viên
Nguyễn Thị Thuỷ
i
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ CNTY – K5- Thanh Xuân
MỤC LỤC
14
5. K T LU N V NGHẾ Ậ ÀĐỀ Ị 30
T I LI U THAM KH OÀ Ệ Ả 31
ii
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ CNTY – K5- Thanh Xuân
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1. Tỷ lệ trứng tại các thời điểm khác nhau trong ngày.Error: Reference
source not found
Bảng 4.2. Khối lượng trứng Error: Reference source not found
Bảng 4.3. Chỉ số hình thái trứng Error: Reference source not found
Bảng 4.4. Ảnh hưởng của thời điểm đẻ trứng trong ngày đến tỷ lệ trứng có
phôi và chết phôi Error: Reference source not found
Bảng 4.5. Ảnh hưởng của thời điểm đẻ trứng trong ngày đến tỷ lệ nở Error:
Reference source not found
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của thời điểm đẻ trứng trong ngày Error: Reference
Từ kết quả nghiên cứu, góp phần hoàn thiện một số quy trình kỹ thuật
nhằm nâng cao kết quả ấp nở của trứng gà
1
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ CNTY – K5- Thanh Xuân
2. CƠ SƠ LÝ LUẬN
2.1. ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI ĐẾN SỰ PHÁT
TRIỂN CỦA PHÔI GIA CẦM
Môi trường bên ngoài bao gồm các yếu tố như: thu, vận chuyển, nhiệt độ,
độ ẩm… Các yếu tố đó đó đều ảnh hưởng tới sự phát triển của phôi gia cầm.
2.1.1. Chất lượng của đàn giống bố mẹ
Sự phát triển của phôi gia cầm chịu ảnh hưởng của môi trường bên
trong. Môi trường bên trong quyết định bởi đàn giống bố mẹ. Thành phần cấu
tạo của trứng hàm lượng các chất dinh dưỡng trong trứngcũng như sự cân
bằng đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của phôi. Thành
phần hoá học và tính chất vật lý của trứng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự động
dục của phôi. Hàm lượng protein và chất lượng của nó cũng như hàm lượng
vitamin, khoáng có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ ấp nở. Tỷ lệ ấp nở giảm xuống
rất nhanh nếu hàm lượng protein thô giảm xuống dưới 12%. Hàm lượng
protein tiêu hoá trong khẩu phần vượt quá15-16% cũng không làm tăng tỷ lệ
ấp nở. Cùng với hàm lượng protein chất lượng thức ăncũng có ý nghĩa quyết
định, vì không phải tất cả các loại thức ăn giầu protein đều ảnh hưởng tốt đến
kết quả ấp nở (Khavenmann1979, dẫn theo Champer, 1990). Protein động vật
có giá trị sinh học cao, được gà sử dụng tốt hơn protein thực vật. Nếu chỉ cho
ăn protein thực vật sẽ làm giảm tỷ lệ ấp nở, vì thế 1/3 protein trong khẩu phần
ăn là protein động vật. Tuy nhiên với thành tựu mới của công nghệ sản xuất
axit amin công nghiệp, hiện nay chúng ta có thể giảm thấp hàm lượng protein
có nguồn gốc động vật trong khẩu phần ăn cho gia cầm với mức thấp nhất.
Nghiên cứu của Khavenman và cộng sự cho biết, trong các loại vitamin A, D,
E và B thì vitamin nhóm B có ảnh hưởng tốt đến tỷ lệ ấp nở. Hàm lượng các
nguyên tố khoáng vi lượng trong thức ăn cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ ấp nở của
3
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ CNTY – K5- Thanh Xuân
Sau khi trứng đẻ ra ngoài môi trường, với sự thay đổi đột ngột giữa môi
trường bên ngoài so với môi trường bên trong cơ thể mẹ nên phôi tạm ngừng
phát triển. Khi đó trong trứng có sự biến đổi sinh lý, sinh hoá. Nếu trứng được
đảm bảo tốt thì sự biến đổi này rất hạn chế. Những sự thay đổi này có thể biết
rõ khi soi trứng, cân trứng và giải phẫu trứng.
Sự biến đổi đầu tiên trong quá trình bảo quản trứng là hiện tượng giảm
khối lượng. Đây là đặc điểm rõ ràng nhất do kết quả của sự bay hơi nước chủ
yếu từ lòng trắng.
Thông thường, khối lượng trứng giảm đi 0,2% theo mỗi ngày bảo quản.
Sự giảm khối lượng trứng còn phụ thuộc vào độ dày vỏ trứng và cấu trúc vỏ
trứng (vỏ cứng càng dày khối lượng giảm thấp hơn). Tốc độ hao hụt về khối
lượng trứng diễn ra không đều. Trong hai, ba ngày đầu khối lượng trứng giảm
nhanh, sau đó chậm dần đến ngày thứ 7, sau đố tăng lên ở ngày thứ 8, 9 và lại
giảm xuống ngày thứ 10.
Trong quá trình đảm bảo, do xảy ra sự bốc hơi nước do đó kích thước
buồng khí tăng lên. Vì thể tích trứng không thay đổi mà khối lượng trứng lại
giảm xuống, cho nên trọng lượng riêng của trứng giảm xuống. Nếu bảo quản
lâu thì màu sắc quả trứng và mùi vị trứng thay đổi.
Do đó sự bốc hơi nước từ lòng trắng nên lòng trắng trở nên đặc dần, chỉ
số lòng trắng giảm xuống còn lòng đỏ tăng lên do sự ngấm nước từ lòng trắng
vào và màng lòng đỏ giảm dần tính đàn hồi. Lớp keo dính bên ngoài của
trứng mất dần và trở nên bóng nhẵn, đôi khi xuất hiện những nốt tím hay xanh
nhạt.
Muốn hạn chế mất hơi nước trong quá trình bảo quản cần phải tăng độ
ẩm tương đối với môi trường xung quanh, độ ẩm không khí nơi bảo quản
càng cao, thì càng hạn chế sự mất hơi nước từ trứng. Tuy nhiên nếu độ ẩm tới
100% thì có hại do vi khuẩn dễ dàng xâm nhập và phát triển vào bên trong
quả trứng, vì vậy sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển của phôi. Độ ẩm không khí
2
sản sinh sẽ gây hại
cho sự phát triển của phôi ở những quả trứng còn lại trong máy ấp. Điều này
không chỉ làm tỷ lệ ấp nở và tỷ lệ chết phôi cao mà còn ảnh hưởng tới chất
lượng gia cầm khi nở ra. Những con giống dễ bị nhiễm bệnh từ tuần tuổi đầu
5
Khoỏ lun tt nghip Nguyn Th Thu CNTY K5- Thanh Xuõn
tiờn, õy cng l nguyờn nhõn gõp bựng n bnh nhng c s nhn g ging
(Theo: Nguyn Duy Hoan, Trn Thanh Võn, 1998).
Khử trùng trứng ấp có rất nhiều phơng pháp khác nhau nh: khử trùng
bằng hơi formaldehyt, khử trùng bằng tia tử ngoại, khử trùng bằng ozon và
khử trùng bằng khí iod duya-nhômTrong thực tế sản xuất ở nớc ta hiện nay,
ngời ta thờng khử trùng trứng ấp bằng hơi formaldehyt. Mỗi m
3
không khí
phòng hay tủ sát trùng cần 18ml focmon (hay 18ml focmalin nồng độ 40%) và
9 gam KMnO
4
. Đổ focmon vào chậu men hay chậu sành sau đó đổ thuốc tím
vào và đóng cửa phòng xông. Nếu nhiệt độ phòng xông sát trùng là 37-38
O
C
thì thời gian xông sát trùng kéo dài 20-30 phút. Nếu ở nhiệt độ 12-22
0
C thì
thời gian sát trùng kéo dài 2-3 giờ.
Tiêu độc hoá học là phơng pháp đợc dùng phổ biến trong công tác ấp
trứng gia cầm. Các chất hoá học đợc dùng tiêu độc, sát trùng thờng có tác
dụng làm biến chất protein hoặc làm kết tủa protein của vi khuẩn, hoặc có tác
dụng với chất cần thiết đối với vi khuẩn, biến các chất này thành các chất độc
6
Khoỏ lun tt nghip Nguyn Th Thu CNTY K5- Thanh Xuõn
Cơ chế hô hấp của phôi và nguồn cung cấp oxy thay đổi theo thời gian
ấp. Trong ngày ấp đầu tiên, phôi sử dụng oxy từ lòng đỏ bằng phơng thức
thẩm thấu và khuyếch tán thẩm thấu.
Đến cuối ngày ấp thứ hai, lòng đỏ và hệ tuần hoàn của nó trải khắp bề
mặt lòng đỏ vừa thực hiện chức năng tiêu hoá và hô hấp của phôi.
Từ ngày thứ 8 đến ngày thứ 19 của quá trình ấp, niệu nang là cơ quan
hô hấp chính.
Từ ngày th 19, 20, phơng thức hô hấp lại thay đổi, chuyển từ hô hấp
niệu nang sang hô hấp phổi.
Khi hàm lợng CO
2
trong máy tăng lên quá cao hay hàm lợng O
2
giảm
xuống quá thấp đều có thể làm phôi chết hàng loạt. Các phôi chết thờng nằm
sai ngôi, chúng thờng mổ vỏ về phía đầu nhỏ của trứng.
Khi thiếu oxy phôi chết vào giữa thời kỳ ấp thờng thấy các mạch máu
của màng niệu bị nghẽn lại, phôi xung quanh huyết và xuất huyết dới da làm
nớc ối có màu đỏ.
Nguyên nhân thiếu oxy có thể do độ thông thoáng của máy kém, vỏ
trứng quá bẩn hay mật độ lỗ khí quá ít, kích thớc kỗ khí quá nhỏ.
2.2. NH HNG CA MễI TRNG BấN TRONG N S P N CA
PHễI GIA CM
S phỏt trin ca phụi gia cm chu s phỏt trin ca mụi trng bờn
trongv mụi trng bờn ngoi. Mụi trng bờn trong chớnh l cht lng
trng p, nú c quyt nh bi n b m, vỡ th t c kt qu p n
cao, cht lng n g tt thỡ phi nuụi dng n b m theo ỳng quy trỡnh
thu c trng cú cht lng tt ng thi phi loi b nhng qu khụng
Những trứng có khối lượng nhỏ qua nghiên cứu thấy tỷ lệ lòng
đỏ/khối lượng trứng lớn hơn mức yêu cầu, tỷ lệ lòng trắng/khối lượng trứng
thấy hơn mức yêu cầu. Trong quá trình phát triển nước từ lòng trắng ngấm
vào lòng đỏ để hoà tan chất dinh dưỡng không đủ so với yêu cầu của phôi.
Ngoài ra trong thời gian bảo quản trứng, có khối lượng nhỏ sẽ bốc hơi nước
nhiều hơi bởi vì quá trình bốc hơi nước phụ thuộc vào diện tích bề mặt/khối
lượng trứng. Do đó lượng nước cung cấp cho phôi càng thiếu, quá trình hấp
8
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ CNTY – K5- Thanh Xuân
thụ chất dinh dưỡng cho phôi càng hạn chế, lòng trắng trở nên keo dính và
khô do lượng nước thiếu rất khó khăn cho quá trình hấp thụ từ ngày ấp thứ
13 đến ngày ấp thứ 18.
Những trứng có khối lượng lớn và nhỏ hơn mức khối lượng trung bình
của giống đều phát triển thấp hơn mức bình thường.
Do quá trình hấp thu chất dinh dưỡng của phôi bị cản trở sẽ làm ảnh
hưởng đến sự phát triển của của những trứng khác. Hơn nữa ấp những nhóm
trứng có khối lượng khác nhau sẽ cho ta những nhóm gia cầm có khối lượng
khác nhau. Do đó việc chọn trứng theo khối lượng đem lại hiệu quả kinh tế
cao và tỷ lệ nở tốt.Theo Nguyễn Ân (1978): khối lượng trứng là một tính
trạng số lượng h = 0.52- 0.59, khối lượng trứng phụ thuộc vào giống, tuổi,
điều kiện nuôi dưỡng. Khối lượng trứng quan hệ đến tỷ lệ ấp nở, đến chất
lượng đời sau.
Khối lượng trứng có mối liên hệ đến thời gian ấp nở, tỷ lệ ấp nở và
chế độ bảo quản trứng. Theo Landomen khối lượng trứng quá to hoặc quá nhỏ
đều có sự mất cân bằng giữa các thành phần của trứng so với khối lượng
trung bình dẫn đến nguyên nhân sinh lý của hiện tượng:
2.2.2. Chỉ số hình thái
Hình dạng quả trứng rất quan trọng trong chọn trứng ấp và thị trường
tiêu thụ. Theo Orlov (1974) chỉ số hình dạng có ý nghĩa quyết định đến sự
phát triển của phôi vì nó ảnh hưởng tới vị trí phát triển của phôi khi ấp và vị
một số chỉ số khác để xác định như đơn vị haugt, chỉ số lòng đỏ và chỉ số lòng
trắng .
Đơn vị haugt: Biểu hiện mối tương quan giữa khối lượng trứng và
đường cao lòng trắng đặc .
Hu=100 lg( H+7,57+1,57W
0,37
)
Trong đó : Hu: đơn vị Haugt
H : Chiều cao lòng trắng tính bằng (mm)
10
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ CNTY – K5- Thanh Xuân
W : Trọng lượng trứng được tính bằng (gam)
Thông thường Hu từ 80 – 95; Hu càng lớn thì chất lượng trứng càng tốt.
Theo Xergreva, trứng ấp có chất lượng tốt là trứng có đơn vị Haugh
khoảng 75 – 90. Trứng mới có chất lượng lòng trắng tốt, chiều cao lòng trắng
đặc lớn. Ngược lại những trứng bảo quản lâu ngày thì chất lượng lòng trắng
đặc giảm, chiều cao lòng trắng đặc thấp.
Lòng đỏ có vai trò cung cấp chất dinh dưỡng chủ yếu cho phôi và bảo
vệ đĩa phôi. Chất lượng lòng đỏ được xác định bằng chỉ số lòng đỏ (CSLĐ).
Chỉ số lòng đỏ: chỉ mối tương quan giữa chiều cao lòng đỏ và đường
kính lòng lòng đỏ.
CSLĐ = h/D
Trong đó h: chiều cao lòng đỏ
D: Đường kính lòng đỏ
Theo Ngô Giản Luyện (1994) chỉ số lòng đỏ của trứng gà tươi khoảng
0,40 – 0,42. Khi chỉ số lòng đỏ giảm xuống 0,33 thì lúc đó lòng đỏ bị biến dạng.
Theo tài liệu của trung tâm giống gà Ba Vì thì chỉ số này của dòng
BVI là 0,49; dòng BVII là 0,5. Trong khi đó chỉ số lòng đỏ của gà ri là 0,46.
2.2.3. Chất lượng của vỏ trứng
Chất lượng của vỏ trứng hay độ bền vỏ trứng được đánh giá thông
là nhờ kết qủ của quá trình nghiên cứu chọn lọc tạo dòng giống mới của các
nhà di truyền giống. Tính đến năm 2002, đàn gia cầm trên thế giới đã lên tới
17 triệu con, trong đó gà chiếm tới 94%.
Theo In.K.Han (1998), dnẫ theo Nguyễn Văn Thiện (2004), năng suất
trứng trung bình đạt 270- 280 quả/mái/năm. Để tăng nhanh số lượng đàn gia
cầm, nhiều nước trên thế giới đã đưa khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi. Từ hệ
thống chuồng trại cho đến quy trình ấp nở đã được đưa máy móc với các
chương trình tự động đã được cài đặt sẵn vào sản xuất, đem lại hiệu quả kinh
tế cao.
Theo Wilson H.R (1991) cho biết, kết quả ấp nở thường cao đối với
những quả trứng có các chỉ tiêu về khối lượng, chỉ số hình thái, chỉ số lòng
đỏ, chí số lòng trắng…gần với giá trị chỉ tiêu trung bình của giống, còn các
quả trứng có chỉ tiêu quá lớn hoặc nhỏ so với chỉ tiêu trung bình của giống
thì cho tỷ lệ ấp nở kém. Những quả trứng ở đầu và cuối chu kỳ đẻ thường cho
tỷ lệ trứng sáng, trứng tắc, tỷ lệ chết phôi cao, nhiều gà con nở ra không đủ
12
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ CNTY – K5- Thanh Xuân
đạt tiêu chuẩn gà loại I. Khối lượng gà sơ sinh phụ thuộc vào khối lượng
trưng đem ấp, nó chiếm khoảng 62- 75% trọng lượng của quả trứng.
Kết quả ấp nở còn phụ thuộc vàonhiều yếu tố như dinh dưỡng gà mẹ,
sức khoẻ đàn gà, tỷ lệ trống mái, khâu bảo quản, chế độ ẩm nhiệt trong quá
trình ấp… Theo Eidth. Asada.A (1990), nghiên cứu những thay đổi sảy ra
trong trứng khi bảo quản cho biết: trứng gà bảo quảnở 19,5
0
C trong 6,8 hoặc
12 ngày owr vị trí bình thường trước khi ấpcho tỷ lệ gà loại Itương ứng là
81,1%, 75,8%, 60,4%; còn khi xép đầu nhỏ hướng lên cho tỷ lệ tương ứng là
83,3%, 81,6% và 69,2%.
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Chăn nuôi gia cầm ở nước ta đã tồn tại hàng nghìn năm, chủ yếu là
Theo Nguyễn Quý Khiêm, Bạch Thị Thanh Dân, Phạm Thị Thanh,
Nguyễn Thị Bích Liên(2003) nghiên cứu trên gà ác cho biết: khối lượng trứng
trung bình 35,21kg, tỷ lệ các thành phần của trứng là: lòng trắng 57,37%, lòng
đỏ 35,10%, vỏ 11,53%. So với các giống gà công nghiệp chuyên trứng như
Goldline - 54(57,4- 62,00g); gà Hybro- HV 85(55-57g) thì khối lượng gà ác
bằng 55- 60%, tỷ lệ nở so với tổng số trứng đem ấp và tỷ lệ nở so với số trứng
có phôi cao nhất là(86% và 92,14%); thấp nhất là(80% và 86,96%).
Mục tiêu của Việt Nam là đến năm 2010, tổng đàn gia cầm là 350 triệu
con, sản lượng thịt đạt 5 nghìn tấn và sản lượng trứng là 7 tỷ quả.
14
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ CNTY – K5- Thanh Xuân
3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
3.1. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
3.1.1. Đối tượng
Đề tài được tiến hành trên 3 loại trứng giống của các loại gà: Lương
Phượng, Isa màu và Ross 308.
3.1.2. Địa điểm
Tại xí nghiệp giống gà giống Chương Mỹ, Hà Nội.
3.1.3. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2010.
3.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm đẻ trứng trong ngày đến kết
quả ấp nở
Nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi gia cầm đến kết quả ấp nở.
Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp khử trùng trứng đến kết quả
ấp nở.
3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dùng phương pháp phân lô so sánh trong một thí nghiệm chỉ khác
3.4. CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI
3.4.1. Khối lượng và chỉ số hình thái trứng
Thu nhặt trứng 3 ngày liên tục ở mỗi tuần đẻ để xác định tỷ lệ đẻ tại
các thời điểm đẻ trong ngày có ảnh hưởng đến kết quả ấp nở.
Khối lượng trứng xác định bằng cách cân toàn bộ số trứng đẻ ra trong
ngày tại các thời điểm khác nhau, cân từng quả một bằng cân kỹ thuật có độ
chính xác 0,05 gam.
Chỉ số hình thái của trứng được xác định bằng đo đường kính lớn,
đường kính nhỏ bằng thước kẹp có độ chính xác 0,01 mm.
3.4.2. Tỷ lệ ấp nở
16
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ CNTY – K5- Thanh Xuân
Dựa theo phương pháp kiểm tra sinh vật học của G.M.Rolaudo (1970),
M.V.Orlov (1974).
Soi trứng sau 6 ngày, 11 ngày, 18 ngày ấp, thì tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ trứng
chết phôi theo các công thức:
Số trứng có phôi
Tỷ lệ trứng có phôi (%) = x 100
Số trứng đem ấp
Số trứng chết phôi kỳ 1
Tỷ lệ chết phôi kỳ 1 (%) = x 100
Số trứng có phôi
Số trứng chết phôi kỳ 2
Tỷ lệ chết phôi kỳ 2 (%) = x 100
Số trứng có phôi
Số trứng tắc
Tỷ lệ trứng tắc (%) = x 100
Số trứng có phôi
Số gà nở ra
được đảm bảo, từ đó nâng cao tỷ lệ nở trứng. Ngược lại nếu số lần thu nhặt
trứng trong ngày ít, thời gian trứng tiếp xúc với môi trường chuồng nuôi dài
hơn tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, trứng chịu sự tác động của nhiệt
độ, độ ẩm và khí độc chuồng nuôi như (H
2
S, NH
3
…) làm cho lượng nước bốc
hơi từ trứng nhiều, cùng với sự xâm nhập của vi khuẩn có hại làm giảm chất
lượng trứng.
Thu nhặt trứng nhiều lần trong ngày làm giảm tỷ lệ trứng dập, trứng
vỡ do gà mái gây ra khi tranh nhau ổ đẻ…ở các cơ sở sản xuất gà giống
thường tiến hành thu nhặt trứng ba lần trong ngày vào các khoảng thời gian
nhất định. Tại xí nghiệp chăn nuôi gà giống Lạc Vệ - Bắc Ninh, cơ sở thu
nhặt trứng vào ba thời điểm trong ngày:
Lần thứ nhất: 10h 30 phút.
18
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ CNTY – K5- Thanh Xuân
Lần thứ hai:14h.
Lần thứ ba: 16h 40 phút.
Ở thời điểm 10h30phút đến 14h, Trong khoảng thời gian này tỷ lệ đẻ
trứng đạt cao, số lượng trứng lớn, cho nên với số lần và thời gian thu nhặt
trứng như vậy thì thời gian trứng tiếp xúc với môi trường ít từ đó đã phần nào
đảm bảo được chất lượng trứng ấp, nâng cao kết quả ấp nở.
Kết quả theo dõi tỷ lệ trứng đẻ ra tại các thời điểm khác nhau treong
ngày của đàn gà giống bố mẹ Lương Phượng, Ross 308, Isa màu, được chúng
tôi trình bầy ở bảng 4.1.
Bảng 4.1. Tỷ lệ trứng tại các thời điểm khác nhau trong ngày
Thời gian
(giờ)
tương ứnglà 5,03%; 4,70%; 4,81%. Thời điểm trước 6h sáng tỷ lệ đẻ là thấp
nhất đối với cả ba giống gà tương ứng là: 0,95%; 1,08%; 1,19%
So với kết quả nghiên cứu của Vũ Thị Thảo trên gà Karbir thì tỷ lệ đẻ
trứng trước 6h sáng, là 8,25%, kết quả này cao hơn kết quả của chúng tôi trên
cả ba giống gà Lương Phượng, Ross 308, Isa màu( lần lượt là 0,95%; 1,08%;
1,19%). Tỷ lệ đẻ 8 -10h là 33,41% kết quả này xấp xỉ kết quả theo dõi của
chúng tôi trên ba giống gà Lương Phượng, Ross 308, Isa màu( lần lượt là:
32,98%, 33,08%; 32,20%)
4.2. KHỐI LƯỢNG TRỨNG TẠI CÁC THỜI ĐIỂM ĐẺ TRỨNG
Khối lượng trứng đối với gà đẻ có ý nghĩa quan trọng nhằm đánh giá
hiệu quả sử dụng thức ăn cho một số lượng trứng. Kông những vậy khối
lượng trứng còn ảnh hưởng đến khối lượng gà sơ sinh( khối lượng gà sơ sinh
bằng khoảng 65% đến 78% khối ,lượng trứng trước khi vào ấp). Ngoài ra
khối lượng trứng còn ảnh hưởng đến kết quả ấp nở . Những quả trứng có khối
lượng quá lớn hiặc quá nhỏ đều cho kết quả ấp nở thấp hơn những quả trứng
có khối lượng trung bình của giống .Như vậy, khối lượng trứng giống là tiền
đề quan trọng cho công chăm sóc và nuôi dưỡng gà con sau này . Trứng đạt
tiêu chuẩn sẽ cho kết quả ấp nở cao và đàn gà sơ sinh khoẻ mạnh .
Khối lượng trứng của 3 giống gà Lương Phượng, Ross308 và Isa màu
tại thời điểm trong ngày được chúng tôi trình bày ở bảng 4.2.
20
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ CNTY – K5- Thanh Xuân
Bảng 4.2. Khối lượng trứng
Thời điểm
(giờ)
Lương Phượng Ross 308 Isa màu
X ± m
x
(Gam)
Cv(%
7,59
10 – 12
55,38±0,194
8,10
65,72± 0,279
7,51
60,19± 0,219
7,10
12 – 14
56,19 ± 0,212
7,09
65,68± 0,226
7,43
59,53± 0,256
7,42
14 – 16
55,31 ± 0,224
7,75
65,35± 0,211
7,59
59,19± 0,285
8,14
> 16
51,32± 0,235
9,27
63,52± 0,239
9,46
55,15± 0,229
10,11
TB
đường kính lớn và đường kính nhỏ của trứng.
Chỉ số hình dạng của trứng gà giống bố mẹ Lương Phượng, Ross 308
và Isa màu được chúng tôi trình bày ở bảng 4.3.
Bảng 4.3. Chỉ số hình thái trứng
Thời
điểm
(giờ)
Lương Phượng Ross 308 Isa màu
X ± m
x
(Gam)
Cv(%)
X ± m
x
(Gam)
Cv(%)
X ± m
x
(Gam)
Cv(%)
<6
1,32 ± 0,0064
11,02
1,33 ± 0,044
10,68
1,33 ±0,068
11,12
6 – 8
1,35 ±0,0069
9,41
1,37 ± 0,071
9,27
> 16
1,33 ± 0,051
10,58
1,33 ± 0,069
10,68
1,33 ± 0,078
10,89
TB
1,37 ± 0,050
9,68
1,37 ±
0,060
9,46s
1,36 ± 0,070
9,45
22