PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 MỞ ĐẦU:
Việt Nam là một nước nông nghiệp nhiệt đới với gần 80% diện tích đất
tự nhiên là nông nghiệp và có hơn 70% dân số sống bằng nghề nông. Nền
nông nghiệp nước ta những năm qua và trong những năm tới vẩn còn giữ vai
trò hết sức trọng yếu trong trong nền kinh tế chung của cả nước, là tiền đề cho
các ngành kinh tế khác phát triển.
Trong thời gian qua nền nông nghiệp nước ta đã có những bước tiến
mạnh mẽ, đã và đang chuyển dần từ nền sản xuất tiểu nông, tự cung tự cấp
sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá. Từ một nước nhập khẩu gạo, từ khi
có nghị quyết 10(1988) của bộ chính trị đến nay, sau mầy mấy năm sản lượng
lương thực tăng gấp đôi đã đưa Việt Nam liên tục đứng thứ nhì về xuất khẩu
gạo, cà phê, hạt điều; đứng thứ nhất về xuất khẩu hạt tiêu; đứng thứ tư về xuất
khẩu cao su và thứ sáu về chè…Ngoài ra, còn xuất khẩu nhiều mặt hàng
nông, lâm, thuỷ sản như rau quả, thịt lợn, tôm cá…có thị phần ngày càng lớn
trên thị phần thế giới, đời sống người dân ngày càng cải thiện. Có được những
thành tựu này là nhờ sự lảnh đạo của đảng và chính phủ, sự nổ lực củ các hộ
nông dân và sự đóng góp to lớn của tất cả các ban ngành từ trung ương đến
địa phương trong đó có hệ thống khuyến nông Việt Nam.
Hệ thống khuyến nông Việt Nam được chính thức hình thành sau khi
chính phủ ban hành nghị định 13/cp về công tác khuyến nông, ngày 2 tháng 3
năm 1993. Sự ra đời của hệ thống khuyến nông Việt Nam đã đáp ứng nhu cầu
mời của sự phát triển nông nghiệp nông thôn nước ta. Qua nhiều năm hoạt
động, khuyến nông đã có nhứng đóng góp to lớn trong quá trình phát triển
nông nghiệp, nầng cao dân trí, trình độ kỹ thuật cho người dân. Đảng và nhà
nước ta đã đánh giá cao hoạt động của hệ thống khuyến nông; chủ tịch nước
đã tăng huân chương lao động hạng 3 năm1998 và huân chương lao động
hạng nhì sau 10 năm hoạt động (2003).
1
Chính vì tầm quan trọng lớn lao ấy của công tác khuyến nông mà các
hộ nông dân, các cán bộ kỹ thuật, các nhà hoạch định chính sách đang ngày
1.2 - MỤC ĐÍCH, MỤC TIÊU, Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU:
1.2.1 Mục đích nghiên cứu:
Xá định một số yêú tố ảnh hưởng tới chuyển giao TBKT vào sản xuất
để từ đó đề ra giải pháp chuyển giao TBKT hợp lý nhằm phát triển sản xuất,
nâng cao đời sống người dân.
1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu:
1.2.2.1 Tìm hiểu những yếu tố tự nhiên, văn hoá, xã hội ( trình độ dân trí, vai
trò giới), kinh tế và bên thực hiện chuyển giao tiến bộ kỹ thuật ảnh hưởng đến
việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp.
1.2.2.2 Phân tích đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên (điều kiện địa
lý, địa hình, khí hậu……) kinh tế, văn hoá, xã hội ( trình độ dân trí, vai trò
giới) bên thực hiện chuyển TBKT vào sản xuất tai Thượng Lộc.
1.2.2.3 Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp về kinh tế kỹ
thuật, văn hoá…thích hợp đối với việc chuyển giao TBKT vào sản xuất và
đời sống có hiệu quả.
1.2.3 Ý nghĩa của đề tài:
Hiên nay có nhiều phương pháp tiếp cận đang được sử dụng để chuyển
giao TBKT đến cho nông dân. Bên cạnh các tổ chức phi chính phủ và các tổ
chức quốc tế đang thực hiện những phương pháp tiếp cân mới thì phần lớn
các cơ quan chuyên môn và chức năng của nhà nước vẩn còn áp dụng các
phương pháp củ trong chuyển giao TBKT trong một cơ chế và phương pháp
kém linh động, mà phần lớn ít quan tâm đến nhu cầu thực sự của bà con nông
dân. Sự hiểu biết tốt hơn về ảnh hưởng của các yếu tố đến chuyển giao tiến bộ
kỹ thuật cho người dân thực sự là rất cần thiết. Nó là một bước quan trọng để
hướng đến việc cải thiện các chính sách củng như các phương pháp tiếp cận
trong chương trình phát triển nông thôn. Kết quả nghiên cứu sẻ dóng góp cho
các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan chức năng, các cán bộ hiện
trừờng những tư duy và kinh nghiệm để làm việc với dân.
3
PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1.3 Bản chất của chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đó là:
+ Sự phân phát thông tin: Dòng chảy thông tin thông qua nhiều kênh
giao tiếp từ dịch vụ khuyến nông đến khách hàng. Những thông tin đó bao
gôm chính sách nhà nước, các dịch vụ sản có từ các nguồn khác nhau của
nông dân.
+ Phân phối giáo dục/ đào tạo: Các chương trình đào tạo được chuẩn bị
và phân phối bởi những chuyên gia khuyến nông và các đại lý để nâng cấp
kiến thức, kỹ năng và năng lức của khách hàng.
+ Giải quyết vấn đề: Một nhóm khách hàng quay vòng quanh dịch vụ
khuyến nông, cho sự tinh thông và giám định, kiến thức và kỷ năng cần thiết
để giải quyết các vấn đề cá nhân củng như nhóm phát sinh trên trang trại hoặc
những trang trại chăn nuôi và trong gia đình của họ.rất nhiều những cái này
có thể liên kết chặt chẻ trong các chương trình đã được lập kế hoạch. Tuy
nhiên một dịch vụ khuyên nông phải đáp ứng/phản ứng với bất kì vấn đề gì
cho dù co hay không có chúng là phần nào đó trong chường trình.
2.1.4 Các kinh nghiệm về chuyển giao kỷ thuật
+ Chuyển giao TBKT là cần thiết trong mọi chiến lược phát triển nông
nghiệp nông thôn, chuyển giao tiến bộ kỷ thuật được coi là trọng tâm trong tổ
chức hệ thống nghiên cứu phát triển nông nghiệp và nông thôn. Nghiên cứu
và chuyển giao là hai nhiệm vụ không thể tách rời.
+ Chuyển giao TBKT lấy chiến lược hướng cầu là chính, phải dựa vào
nhu cầu của dân và của thị trường để xác định kỹ thuật cần đưa tới cho dân.
+ Trợ cấp cho chuyển giao chỉ nên được tiến hành ở thời kì đầu để khuyến
khích sự ứng dụng kỹ thuật mới. Việc trợ cấp trong chuyển giao sẻ được giảm
dần trong quá trình lan truyền của kỹ thuật mới. Đồng thời quá trình chuyển
giao TBKT phải đảm bảo phát huy nguồn lực của người dân. Khi thị trường
công nghệ và nền sản xuất hàng hoá phát triển, người nhận chuyển giao phải
trả phí cho công tác chuyển giao và tiến bộ kỹ thuật mà họ sử dụng.
+ Chuyển dần công tác chuyển giao TBKT từ nhà nước sang các cơ quan
nghiên cứu và phát triển với sự tham gia của thành phần kinh tế công, kinh tế
các vấn đề của họ và các giải pháp, đưa ra các mục tiêu và hoạt động, giám
sát và đánh giá. Người ngoài cuộc tích cực hỗ trợ, khuyến khích những hoạt
động đó.
6
Đây là cách tiếp cận được thực hiện chủ yếu trong một số dự án của
các tổ chức phi chính phủ. Cách tiếp cận này dường như là nguyên tắc cơ bản
của dự án đầu tư nước của bên ngoài. Tuy nhiên thì trên địa bàn huyện thì rất
ít dự án của nước ngoài vào, với cách tiếp cận này thì một số chương trình
của nhà nước trên địa bàn huyện củng đã thực hiên nhưng gặp nhiều hạn
chế: Không có sự điều tiết , giúp đở về mặt kỹ thuật, phương pháp trong khảo
sát và tham gia tư vấn từ bên ngoài. Vì thế ở những nơi vùng cao của huyện
thì trình độ dân trí của người dân thấp, với cách tiếp cận nào thì củng phải có
sự giúp đở về mặt kỹ thuật với phương pháp cầm tây chỉ việc, hầu hết các đầu
tư chỉ mới xem xét đến các vấn đề lương thực, chuyển dịch cơ cấu cây trồng,
ít và củng có thế nói là chưa tính đến thị trường đấu ra. Đây là một hạn chế
rất lớn, ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của người dân đặc biệt là người
dân vùng cao , xa trung tâm huyện.
2.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
2.2.1 Những cơ sở và quá trình chuyển giao TBKT đã thực hiện ở Việt
Nam:
Đường lối đổi mới của nhà nước Việt Nam hơn 15 năm qua đã đem lại
những thay đổi to lớn cho nền kinh tế, xã hội trên phạm vi cả nước. Ở nông
thôn hộ gia đình trở thành đơn vị sản xuất tự chủ, được giao đất ổn định lâu
dài. Người nông thôn đang trong thời kỳ thích nghi nhanh với chuyển đổi
kinh tế hộ từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá trong nền kinh
tế thị trường năng động. Với những thay đổi ngày càng nhanh thì đòi hỏi
người nông dân cần có những thông tin tư vấn đầy đủ kịp thời.
Tuy nhiên phần lớn người nông dân ở vùng nông thôn hiện nay đang
đối mặt với vấn đề: Đói nghèo, thiếu việc làm. Vì vậy mục tiêu tổng quát của
công tác chuyển giao TBKT là phát triển nông nghiệp và phát triển nông thôn
khác cần tới nó bằng cách dể hiểu và có ích cho họ.
Tuy nhiên hiểu quả của công tác chuyển giao TBKT hay nói cách khác
về việc tiếp nhận và ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật mới của nông dân vao
sản xuất đang là vấn đề đặt ra được nhiều giới quan tâm. Hiệu quả của nó
phụ thuộc vào nhiều yếu tố chẳng hạn như điều kiện kinh tế, trình độ dân trí,
kiến thức bản địa… Trong đó yếu tố bên chuyển giao củng đóng vai trò hết
sức quan trọng nó được thể hiện trên các khía cạnh cơ cấu, chính sách, nội
dung hoạt động của hệ thống khuyến nông, khuyến lâm, phương pháp tiếp
cận, chuyển giao và tiến trình thực hịên khuyến nông lâm, củng như kiến
8
thức, kỹ năng, thái độ của người khuyến nông viên và các hoạt động hổ trợ
khác (thông tin, dịch vụ) nó quyết định đến thành công hay thất bại của quá
trình chuyển giao TBKT.
Cho nên cơ sở thực tiển của chuyển giao TBKT là tính phù hợp giữa tiến
bộ kỹ thuật được chuyển giao và điều kiện kinh tế xã hội ở nông thôn. Điêu
này có nghĩa không phải một tiến bộ kỹ thuật nào củng có thể áp dụng cho tất
cả các vùng, thậm chí các vúng đó co điều kiện tự nhiên giống nhau, mà phải
căn cứ vào điều kiên kinh tế, xã hội, dân cư của vùng. Những công nghệ mới
đưa và phải phù hợp với điều kiện kinh tế , xã hội ở vùng nông thôn. Bài học
về cơ giới hoá, hiện đại hoá ở Nam Định và ở Quỳnh Lưu( Nghệ An) những
năm đầu thập niên 80 đã chỉ rỏ: Kỹ thuật hiện đại không phải là điều kiện duy
nhất cho sự thành công của công nghiệp hoá, kỹ thuật hiện đại phải phù hợp
với kỹ năng sử dụng của người lao động, phù hợp với đặc điểm đồng nhất và
cơ sở hạ tầng ở các vùng nông thôn.
Ở Việt Nam, việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đã tiến hành từ nhiều
năm nay và đã thu được nhiều kết quả đáng kể như tiến bộ kỹ thuật trong việc
cải tạo giống lúa lai, ngô lai có năng suất cao, giống lúa kháng gầy nâu, các
loại giống rau quả có năng suất, chất lượng cao. Về chăn nuôi thông qua
chuyển giao TBKT củng đã tạo ra những giống gia súc, gia cầm tăng trưởng
nhanh, đẻ nhiều trứng…ngành nuôi trồng thuỷ sản đã có nhiều con giống tốt
cao.
Theo nhiều nghiên cứu về phát triển về phát triển các vùng cao đều cho
rằng TBKT cần thiết cho phát triển sản xuất để cải thiện đời sống và cho rằng
người dân vùng cao muốn phát triển sản xuất thì phải thì phải chấm dứt tình
trạng sản xuất củ và phải đẩy mạnh áp dụng phương thức, kỹ thuật mới vào
sản xuất.
Trên cơ sở phân tích các điều kiện tự nhiên, con người và hiện trạng đất
trồng vùng đồi núi ở các tĩnh bắc trung bộ, tác giả Trần Đình Lý và các cộng
sự (2002) đã xây dựng một số mô hình thích hợp cho vùng. Theo các tác giả”
các mô hình đã khẳng định rằng, muốn tiến lên làm giàu trong nông nghiệp
vùng cao thì không thể sản xuất tự cung tự cấp mà phải áp dụng TBKT……”
10
Bàn về phát triển vùng cao, Giáo sư Đặng Ngọc Dinh (2002) cho rằng
chúng ta không nên có định kiến là vùng cao Việt Nam với số dân định cư
thưa thớt, nhiều đất chưa sử dụng, sẳn sàng cho phát triển trong tương lai.
Thực tế là do các điều kiện về đất, nước và các công nghệ nông nghiệp dân số
vùng cao đã thực sự quá tải. Từ nhận định này của tác giả cho thấy tiềm năng
đất đai khu vực bắc miền trung không còn nhiều nên muốn tăng sản lượng
lương thực cần thiết phải thâm canh bằng cách áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào
sản xuất.
Tóm lại nghiên cứu của các tác giả bắc trung bộ đều cho rằng TBKT là
cần thiết cho sự phát triển cho vùng miền cao núi chung, bên cạnh đó ta thấy
được sự canh tác theo kiểu truyền thống đã đáp ứng đước nguồn lương thực
tại chổ…Từ những kết luận trên và thực tế tại địa bàn nghiên cứu đã nảy sinh
ra câu hỏi những tiến bộ kỹ thuật nào đã được người dân áp dụng và áp dụng
ở mức độ nào? Nhận thức của người dân về các tiến bộ kỹ thuật đó như thế
nào? Cách thức chuyển giao như thế nào?
2.2.5 Tình cơ bản khu vực nghiên cứu:
2.2.5.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Can Lộc
2.2.5.1.1. Điều kiện tự nhiên
trên vùng đất đồi là vùng rừng tự nhiên, rừng mới trồng và chủ yếu là vùng
đồi núi trọc, đất hoang hoá. Phía dưới là vùng đất canh tác và dân cư.
+ Khí hậu, thuỷ văn:
Can Lộc – Hà Tĩnh nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa: Mùa hè
nóng ẩm, mưa nhiều và chịu ảnh hưởng của gió phơn tây nam khô nóng;
Mùa đông lạnh, ít mưa.
Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10
Mùa lạnh bắt đầu từ tháng11 đến tháng 3 năm sau
Nhiệt độ bình quân qua các năm giao động từ 22,9- 25,1
0
C, cao nhất từ
tháng sáu đến tháng 8, có khi nhiệt độ lên tới 39,7
0
C thấp nhất là tháng 12 và
tháng 1 nhiệt độ có khi xuống dưới 8
0
C.
Lượng mưa bình quân hàng năm khoảng 2400mm/năm (riêng các tháng
từ tháng 8 đến tháng10 lượng mưa khoảng 1200mm chiếm khoảng 50%
lượng mưa trung bình trong năm), số ngày mưa trung bình trong năm ở Can
Lộc khoảng 145 ngày đến160 ngày.
Do địa hình dốc, độ che phủ ít, khả năng dự nước kém đôi khi mưa lớn
làm các vùng trủng bị ngập lụt trong vài hôm, có khi lên tới 5-7 ngày. Xẩy ra
theo chu kỳ 5 năm một lần, ngập lụt trên trên diện rộng 6000 ha đất canh tác.
Nắm được quy luật tự nhiên và khả năng cung cấp nguồn nước cho tưới tiêu
trong trồng trọt và nuôi trồng thuỷ sản, từ đó có kế hoạch chủ động nguồn
12
nước: Dữ nước về mùa khô và tiêu nước về mùa mưa, nhằm điều hoà lượng
nước hàng năm, phục vụ tốt cho ngành nông nghiệp.
Độ ẩm bình quân ở Can Lộc là khoảng 84,5% tháng cao nhất 92%,
thường xuyên và dạy nghề.
+Y tế:
Hiện nay toàn huyện có 1 trung tâm y tế với 3 phòng khám đa khoa, 30
trạm y tế xã, 36 bác sỷ, 290 giương bệnh.
+ Văn hoá:
Đời sống tình thần của nhân dân toàn huyện trong những năm qua đã
được nâng lên rõ rệt, 90% dân số được nghe đài và xem truyền hình, toàn
huyện có 5 đài phát thanh,1 thư viện, 211 nhà hội quán, 300/304 xóm co sân
chơi thể thao đáp ứng nhu cầu người dân.
+ Cơ cấu kinh tế:
Cơ cấu kinh tế của huyện Can Lộc được chuyển dịch đúng hướng. Tốc
độ tăng trưởng kinh tế khá, giá trị tổng sản phẩm bình quân đầu người là
4.740.000đ, bình quân lương thực đầu người là 574 kg/năm.
* Tỹ trọng các ngành đạt:
- Nông nghiệp đạt 42,4%
- Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp – xây dựng cơ bản đạt 21,5%.
- Thương mại dịch vụ đạt 36,1%
- Tổng sản lượng lương thực đạt10,4 vạn tấn
- Chăn nuôi:
Tổng đàn trâu: 10.742 con
Tổng đàn bò:25.018 con
Tổng đàn lợn:69.074 con
Tổng đàn hương:87 con
Cùng với trồng trọt thì chăn nuôi trong mấy năm qua củng phát triển
khá cả về quy mô, hình thức nuôi, đa dạng hoá vật nuôi.
14
2.2.5.2 Tình hình cơ bản của xã Thượng Lộc.
2.2.5.2.1 Điều kiện tự nhiên.
Thượng lộc là một xã vùng cao thuộc huyện Can Lộc nằm cách trung
tâm huyện khoảng 25km về phía đông nam. Xã nằm trên đương quốc lộ 15A ,
(tấn)
diện tích
(ha)
Năng
suất
(ta/ha)
Sản
lượng
(tấn)
Lúa 330 45 1492,6 330 29,4 933,2
Ngô 3,0 20 60
Khoai lang 25 120 300 45 45 2045
Sắn 43 140 602 50 60 300
Rau cai 12 24 28,8
Bí mướp 5 40 20 3,5 15 52,5
Cây khác 5 84 42 60 6 36
Nguồn: số liệu thống kê xã Thượng Lộc năm 2006
+ Chăn nuôi:
Tổng đàn gia súc gía cầm vào thời điểm hiện tại bao gồm: Tổng đàn trâu
bò2.354 con, đàn lợn có2800 con, gia cầm có 29 000 con, đàn hương có 31
con, đàn ong phát triển cầm chừng.
+ Công tác tiêm phòng gia súc đạt 18.000 liều, tiêm phòng dịch cúm gia cầm
10.000 liều.
* Cơ sở hạ tầng của
+ Giao thông:
xã có đường quốc lộ 15A đi qua nên giải quyết được phần nào đi lại,
đã triển khai xây dựng rần 2km đường bê tông ở 2 xóm Phú Thọ và Xuân
Mai, đào đắp3612m
3
, rải sỏi 2774m
Đa số ngưòi dân ở đây chủ yếu dựa vào nông lâm nghiệp, cuộc sống
của người dân còn gặp rất nhiều khó khăn, tỉ lệ hộ nghèo còn lớn, qua điều tra
thì thấy nguyên nhân đói nghèo chủ yếu là: Do thiếu kinh nghịêm, thiếu vốn,
thiếu lao động, đông con
17
Bảng: Thực trạng và một số nguyên nhân nghèo đói ở các hộ điều
tra
STT Nguyên nhân số hộ:15 tỉ lệ(%)
1 Thiếu kinh nghiêm 5 33,3
2 Thiếu lao động 1 6,7
3 Thiếu vốn 6 40
4 Đông con 1 6,7
5 Nguyên nhân khác 2 13,3
(Nguồn: Số liệu điều tra)
Qua bảng số liệu ta thấy: Đối với hộ nghèo có nhiều nguyên nhân dẫn
đến đói nghèo, nhưng chủ yếu thiếu vốn( chiếm đến 40%) va thiếu kinh
nghiệm trong sản xuất(33.3%) vì vậy đối với các hộ này các cấp chính quyền
cần quan tâm hơn nữa đến những khó khăn mà người dân đang gặp phải để
giúp họ nâng cao được đời sông, góp phần xoá đói giảm nghèo.
18
PHẦN3 : ĐỐi TƯỢNG, PHẠM VI, NỘi DUNG,PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
+ Các hộ đã tiếp nhận việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật tại xã Thượng
Lộc.
+ Các bên thực hiện chuyển giao tiến bộ kỹ thuật.
3. 2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian:
Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên phạm vi xã Thượng Lộc
-huyện Can Lộc – Hà Tĩnh.
Điều kiện tự nhiên là một yếu tố mà nó đã tồn tại sẳn tại một vùng nhất
định nào đó, nó như một cơ sở đã được thiết lập trước, việc xem xét ảnh
hưởng của điều kiện tự niên đến chuyển giao TBKT không mang ý nghĩa là
nếu có những cản trở thì ta có thể thay đổi điều kiện tự nhiên mà việc phân
tích ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên để tìm ra những khó khăn và thuận lợi
để dự đoán tiềm năng, cơ hội củng như những khó khăn thách thức khi đưa
các công nghệ vào một vùng nào đó. Củng có thể ta đưa các biện pháp để
khống chế /khắc phục một số yếu tố bất lợi nào đó của một vùng, thường khi
phục vụ cho phát triển sản xuất và chuyển giao công nghệ.
Từ điều kiện tự nhiên của xã ta thấy rằng về mặt môi trường của xã có
những thuận lợi và khó khăn nhất định như sau:
+ Về vị trí địa lý:
Xã nằm trên đương quốc lọ 15 A đi qua xuất phát từ trung tâm huyện.
Đây là con đường huyết mạch của huyện đi qua rất nhiều xã. Tuy nhiên cách
đây 5 năm về trước đang là đường đất, một số đoạn đổ nhựa thì lại bị xuống
cấp trầm trọng, việc đi laị cực kì khó khăn thì việc giao tiếp với cộng đồng
bên ngoài và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật là vấn đề gần như không thể thực
hiện được. Để đi được từ xã Thượng Lộc đến trung tâm huyện thì phải mất
gần nửa ngày đường, nhất là vào mùa mưa lũ thì không có phương tiện gì có
thể sử dụng trên tuyến đường này trừ đi bộ. Nhưng từ khi con đưòng nhựa
được đổ từ trung tâm huyện đến các xã vùng cao thì việc thông thương giữa
các xã trong vùng và giữa các xã vùng cao với trung tâm huỵên trở nên dể
dàng hơn rất nhiều, chỉ mất 30 phút xe máy từ trung tâm huyện đến xã. Đấy
cũng là điều kiện mở ra những cơ hội phát triển mới cho vùng như mở rộng
giao lưu với bên ngoài, thông tin đi vào những vùng này trở nên dễ dàng hơn.
21
Người dân có điều kiện cập nhật thông tin, kiến thức mới phục vụ cho việc
nâng cao năng suất của cây trồng và vật nuôi.
+ Đặc điểm địa hình:
Xã nằm trên địa hình bao gồm nhiều đồi núi có một số nơi tương đối
tháng 4 đến tháng 8.
+Đặc điểm thuỷ văn:
Hệ thống sông Thượng Lộc có lưu lượng dòng chảy ít nhất vào tháng4
đến tháng 7, lớn nhất vào tháng 8 đến tháng 10. Hệ thống sông này có đặc
điểm ngắn, dốc nên mùa mưa thường gấy ra lũ lụt, xói mòn, dể làm thay đổi
dòng chảy ảnh hưởng tới sản xuất và đất thổ cư của nhân dân trong vùng.
Như vậy với đặc điểm hệ thống sông suối nhiều trong khi đó chế độ
mưa lại theo mùa, gây nên trở ngạy lớn cho cho sản xuất nông nghiệp của
nhân dân. Mùa hè thì hạn hán, màu mưa thì lũ lụt. Vì vậy tìm ra những loại
cây thích nghi cho vùng này, những kỹ thuật thích hợp, những phương thức
canh tác hợp lý là những vấn đề đang được quan tâm.
+ Cơ sở hạ tầng:
Mặc dù cơ sở hạ tầng của xã đã có những bước thay đổi đáng kể, nhưng
đây chỉ là sự hưởng lợi từ con đường chiến lược của trung ương và tĩnh. Phần
lớn các con đường liên thôn và đường thôn, xóm vẫn là đường đất và đường
sỏi trong khi đó khoảng các các thôn khá xa, một số thôn gần sông nên về
mùa lũ thường hay bi lụt và dễ bị cô lập với bên ngoài. Điều này gây cản trở
cho việc thông thương giao tiếp với bên ngoài và mua bán các sản phẩm của
nông dân, quả thật một trong những nguyên nhân làm hạn chế sự tăng trưởng
kinh tế của vùng là cơ sở hạ tầng nông thôn đang còn rất kém, các con đường
đi lại đang còn gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt về mùa mưa thương rất khó
đi, nhất là các tuyến đường ỏ các xã vùng cao, điều này đã ảnh hưởng rất lớn
đến khả năng tiêu thụ sản phẩm của nông dân. Chính vì một phần do đó mà
người dân vùng cao hâu như không có khái niệm sản xuất lớn.
Tóm lại với điều kiện tự nhiên như ở xã Thượng lộc: Địa hình đồi núi
kha phức tạp, đất có độ dốc lớn, nghèo dinh dưỡng cộng với sự khắn nghiệt
của thời tiết( mưa lớn, hạn hán) nên các giống cây con, cây lai tạo di thực nơi
khác đến khó có thể phát triển được tốt, bên cạnh đó có thể thấy diện tích đất
canh tác ở đây dường như phù hợp với cây lâm nghiệp, cấy ăn quả và khí hậu
23
rất nhiều vao trình độ dân trí của vùng.
24
Theo đành giá của huyện về trình độ dân trí các xã thì trình độ dân trí
xã Thượng Lộc thuộc nhóm thấp, nhìn chung với xu thế phát triển hiện nay
thì trình độ dân trí ngày càng tăng nhưng do các điều kiện khác nhau mà phần
lớn người lớn tuổi ở đây có mức độ học vấn rất thấp nhiều người không đi
học nhất là phũ nữ, chính điều này đã ảnh hưởng không ít đến cuộc sống của
họ. Dân trí thấp là một khó khăn lớn của người dân miền cao huyện Can Lộc
nói chung và của xã Thượng Lộc nói riêng, trong việc tiếp nhận các chủ
trương chính sách của Đảng và nhà nước cũng như các tiến bộ kỹ thuật được
chuyển giao đến vùng
Từ nhóm hộ điều tra của xã thấy được 1 mặt bằng chung là trình độ dân
trí thấp. Vì thế ta thấy rõ được sự tương quan giữa trình độ dân trí và việc tiếp
nhận trình độ kỹ thuật bằng phương pháp thống kê. Cũng từ qua cấc hộ điều
tra cũng chỉ ra trình độ văn hoá của các chủ hộ là 80% chưa học hết cấp 1 từ,
những hộ nghèo thường có trình độ thấp hơn. Mặt bằng dân trí của xẫ thấp do
các nguyên nhân:
+ Đời sống người dân còn thấp nên họ chỉ tập trung vào viêc kiếm sống
ít quan tâm vào việc học hành.
+ Do cơ sở phục vụ cho viẹc học tập còn khó khăn nên họ ít có điều
kiện để học hành đầy đủ.
+ Do các phong tục tập quán lạc hậu tại địa phương đã ngăn cản sự đến
trường của trẻ em, đặc biệt là các trẻ em gái.
+ Các phương tiện thông tin văn hoá xã còn rất ít nên việc nắm các
thông tin cơ bản còn hạn chế.
Dân trí thấp đó là 1 trong những khó khăn lớn trong việc chuyển
giaoTBKT, nó ảnh hưởng lớn trong quá trình tập huấn, tập huấn là phương
thức chủ yếu để chuyển giao TBK vào sản xuất hiện nay vào địa phương, tuy
nhiên đối tượng tập huấn nhiều khi không phù hợp. Nên hiệu quả của công
việc tập huấn rất thấp, qua điều tra( bảng dưới) cho thấy phụ nử ít tham gia