tài liệu ôn thi công chức môn Quản lý nhà nước - Pdf 21



MỤC LỤC (QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC) Câu 1: Trình bày bản chất của Nhà nước Cộng hòa XHCH Việt Nam? 3
2.1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước dân chủ thực sự và rộng rãi
3
2.2. Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam 5
2.3. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện tính xã hội rộng rãi 5
2.4. Nhà nước thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình ,hợp tác và hữu nghị 6
Câu 2: Trình bày mối quan hệ giữa Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam với các tổ chức trong
hệ thống chính trị Việt Nam và nhân dân? 7
Câu 3: Trình bày những quan điểm và nguyên tắc cơ bản chỉ đạo tổ chức bộ máy Nhà nước Cộng
hòa XHCN Việt Nam? 9
Câu 4: Trình bày sơ đồ hệ thống bộ máy tổ chức Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam theo hiến
pháp 1992? 10
Câu 5: Trình bày vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội? thẩm quyền ban hành
văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội? 11
Câu 6: Trình bày sơ đồ cơ cấu tổ chức của Quốc hội? Nêu nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của tổ chức đó? 12
Câu 7: Trình bầy vai trò, vị trí và quyền hạn của Chủ tịch nước? Nêu thẩm quyền ban hành văn
bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước? 14
Câu 8: Trình bày vị trí quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Chính phủ? Nêu thẩm quyền ban hành
văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ? 14
Câu 9: Trình bầy hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước ở địa phương? Nêu vị trí, nhiệm vụ, quyền
hạn chung của tổ chức đó? 17
Câu 10: Nêu khái niệm về tổ chức, cơ quan Nhà nước trong cơ quan hành chính Nhà nước ? 20
Câu 11: Trình bày phân loại cơ quan hành chính Nhà nước. 22
Câu 12: Hãy nêu các chức năng và đặc điểm cơ bản của các cơ quan hành chính Nhà nước. 24
Câu 13: Hãy nêu nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu của các cơ quan hành chính Nhà nước. 28

Câu 34: Nêu các khái niệm về văn bản, văn bản quản lý Nhà nước, văn bản quản lý hành chính
Nhà nước, văn bản pháp luật và văn bản hành chính thông thường? 71
Câu 35: Thế nào là văn bản quy phạm pháp luật? Văn bản quy phạm pháp luật gồm hệ thống các
văn bản nào? 72
Câu 36: Thế nào là văn bản cá biệt? Nêu tên các loại văn bản hành chính thông thường và văn
bản chuyên môn-kỹ thuật? 72
Câu 37: Hãy nêu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật? 73
BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

CÂU HỎI
Phần kiến thức chung (Quản lý Nhà nước)
( Dùng cho thí sinh ôn tập thi tuyển vào Ngành BHXH Việt Nam )

Câu 1 : Trình bày bản chất của Nhà nước Cộng hòa XHCH Việt Nam?

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong những mô hình đã được tìm tòi,
sáng tạo dựa trên cơ sở của lý luận khoa học. Bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam được xác định trong Điều 2 Hiến pháp năm 1992 là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà
nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức”.
Như vậy, tính nhân dân và quyền lực nhân dân là cái cơ bản, xuyên suốt, thể hiện bản chất của
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bản chất đó được biểu hiện cụ thể ở những đặc
trưng cơ bản sau:

2.1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước dân chủ thực sự và
rộng rãi

là động lực, đồng thời là mục tiêu của dân chủ hóa. Tuy nhiên. lợi ích vật chất (kinh tế) luôn phải
đặt trong mối quan hệ biện chứng với các lợi ích chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội. Đồng thời,
lợi ích cá nhân phải hài hoà với lợi ích của tập thể và xã hội.
- Trong lĩnh vực chính trị, nhà nước ta đã tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc, trong đó quy định tất cả
những quyền tự do, dân chủ trong sinh hoạt chính trị, bảo đảm cho người dân được làm chủ về
mặt chính trị.
Bên cạnh việc xác lập và thực hiện cơ chế dân chủ đại diện thông qua chế độ bầu cử và bãi
miễn đại biểu nhân dân vào các cơ quan dân cử, nhà nước ta luôn chú trọng thiết lập và bảo đảm
thực hiện đầy đủ chế độ dân chủ trực tiếp, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia thực sự vào công
việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội; tham gia đóng góp ý kiến, kiến nghị, thảo luận một cách
dân chủ, bình đẳng vào các vất đề thuộc đường lối, chủ trương, chính sách, các dự thảo văn bản
pháp luật quan trọng làm cho nhân dân thực sự là chủ thể của những chủ trương, chính sách, pháp
luật đó chứ không phải chỉ là những người phục tùng một chiều.
Một trong những khía cạnh quan trọng là Nhà nước Việt Nam với tư cách là công cụ thực hiện
quyền lực nhân dân, đã đặt ra cho mình nhiệm vụ phải phấn đấu đạt tới việc mở rộng cho nhân
dân tham gia vào công việc của nhà nước. Thực hiện điều đó về mặt pháp lý, nhà nước ta đã xác
lập một hệ thống các nguyên tắc và quy định về tổ chức bộ máy nhà nước phù hợp. Ví dụ: nguyên
tắc bầu cử phổ thông, bình đẳng trực tiếp và bỏ phiếu kín để bầu ra các đại biểu của cơ quan dân
cử; thông qua các cơ quan dân cử nhân dân thực hiện quyền lực của mình. Bên cạnh đó, những
hình thức dân chủ trực tiếp khác nhau cũng rất phát triển, biểu hiện trong hoạt động của các tổ
chức xã hội, trong hệ thống kiểm tra, giám sát của nhân dân, trong thảo luận những dự thảo các
luật quan trọng…
Hiến pháp của Việt Nam ghi nhận toàn bộ các quyền chính trị, xã hội và quyền tự do cá nhân,
tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, mít tinh, lao động, học hành, nghỉ ngơi, tự do tín ngưỡng,
quyền bất khả xâm phạm thân thể, nhà ở, tự do đi lại và bảo đảm cho tất cả công dân được
hưởng các quyền đó. Điều đó phù hợp với bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, coi
mục đích và động lực chính của sự phát triển dân chủ là vì con người, do con người.
Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là: “Thực hiện tốt quy chế dân chủ, mở rộng dân chủ
trực tiếp ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý xã hội, thảo luận và quyết định
những vấn đề quan trọng. Khắc phục mọi biểu hiện dân chủ hình thức”(1), ,tạo khả năng rộng rãi

chủ, phát huy quyền lực nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân là bảo đảm sự lãnh đạo của
Đảng đối với Nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị.

2.2. Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam
Nhìn lại toàn bộ quá trình từ sau Cách mạng tháng Tám (1945) đến nay, đặc điểm này
luôn quán xuyến và ngày càng thể hiện một cách đậm nét hơn, cao hơn, cụ thể hơn. Với bản chất
bao trùm là nhà nước của dân, do dân và vì dân thì đương nhiên trong đó đã hàm chứa tính bình
đẳng giữa các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam. Vấn đề quan trọng là cơ sở pháp lý, hình
thức tổ chức thực hiện và kết quả của việc triển khai thực hiện trên thực tế.
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tất cả các thời kỳ phát triển của
mình đều coi “đại đoàn kết dân tộc” là một nguyên tắc cơ bản để thiết lập chế độ dân chủ, phát
huy quyền lực nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, đồng thời, là cơ sở để tạo ra sức mạnh của
một nhà nước thống nhất.
Chính sách đại đoàn kết dân tộc thể hiện dưới bốn hình thức cơ bản của Nhà nước Việt
Nam:
Một là, xây dựng một cơ sở pháp lý vững vàng cho việc thiết lập và củng cố khối đại đoàn
kết dân tộc, tạo điều kiện cho mỗi dân tộc đều có thể tham gia một cách tích cực nhất vào việc
thiết lập, củng cố và phát huy sức mạnh và quyền lực nhà nước. Điều này được thể hiện rõ trong
các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và các văn bản pháp luật quan trọng khác.
Hai là, tổ chức thực hiện một cách mạnh mẽ, nhất quán trong các hoạt động cụ thể của
nhà nước nói riêng và của toàn bộ hệ thống chính trị của nước ta nói chung. Tất cả các tổ chức
Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc, Công đoàn, Đoàn thanh niên…đều coi việc thực hiện chính
sách đoàn kết dân tộc ,xây dựng nhà nước Việt Nam thống nhất là mục tiêu chung, là nguyên tắc
hoạt động của tổ chức mình.
Ba là, trong khi tổ chức thực hiện, nhà nước luôn chú trọng việc ưu tiên đối với các dân
tộc ít người, các vùng núi, vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện để các dân tộc tương trợ giúp đỡ lẫn
nhau, cùng tồn tại và phát triển trên cơ sở hòa hợp, đoàn kết, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng văn minh.
Bốn là, chú ý tới điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi dân tộc, mỗi địa phương, tôn trọng các giá
trị văn hóa tinh thần, thuyền thống của mỗi dân tộc, xây dựng bản sắc riêng của mỗi dân tộc Việt

Những đặc điểm có tính bản chất nêu trên của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam trong các điều kiện hiện tại đã được thể hiện cụ thể trong các nhiệm vụ, chức năng của nhà
nước và được pháp luật quy định một cách chặt chẽ đồng thời được phản ánh trong tổ chức và
hoạt động thực tiễn của Nhà nước ta. Đương nhiên, để có thể đáp ứng đầy đủ các nhu cầu ,đòi hỏi
để bảo đảm giữ vững và phát huy bản chất của “nhà nước của dân, do dân và vì dân”, Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn cần phải tiếp tục đổi mới nhiều mặt, cải tổ sâu sắc từ cơ
cấu tổ chức đến hình thức và phương pháp hoạt động phù hợp với các quy định của luật pháp để
từng bước xây dựng và phát triển thành Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
Có thể nêu khái quát những đặc điểm cơ bản nhất của Nhà nước pháp quyền Việt Nam
như sau:
- Nhà nước có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, trong đó các đạo luật giữ vai trò quan trọng;
mọi cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, người có chức vụ và công dân đều phải tôn trọng và
nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật.
- Nhà nước trong đó không chỉ có công dân có trách nhiệm đối với nhà nước, mà nhà nước cũng
phải có trách nhiệm đầy đủ đối với công dân; khái niệm trách nhiệm ở đây được dùng theo cả
nghĩa rộng và nghĩa hẹp, nghĩa là quan hệ giữa công dân và nhà nước là quan hệ bình đẳng về
quyền và nghĩa vụ.
- Nhà nước trong đó các quyền dân chủ tự do và lợi ích chính đáng của con người được pháp luật
bảo đảm và bảo vệ toàn vẹn; mọi hành vi lộng quyền của bất kỳ cơ quan nhà nước và người có
chức vụ nào, cũng như mọi hành vi phạm pháp khác xâm phạm quyền tự do, lợi ích chính đáng
của công dân đều bị nghiêm trị.
- Nhà nước trong đó ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp được phân định rõ ràng và hợp lý
cho các hệ thống cơ quan tương ứng trong mối quan hệ cân bằng, phối hợp và chế ước lẫn nhau
tạo thành cơ chế đồng bộ bảo đảm sự thống nhất của quyền lực nhà nước, thực hiện quyền lực
nhân dân. Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam là xây dựng một nhà nước với lý tưởng dân
chủ, nhân đạo và công bằng nhất, là nhà nước mà nhân dân nói chung cũng như mỗi công dân nói
riêng không chỉ là khách thể của quyền lực, mà còn là chủ thể tối cao của quyền lực đó. Ở Nhà

tiêu biểu trong các giai cấp,các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người VN định cư ở
nước ngoài.
Mặt trận tổ quốc VN và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân.
Mặt trận và các đoàn thể nhân dân phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất
trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân; cùng với nhà nước chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng
của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành pháp luật của
nhà nước, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước đại biểu dân cử và cán bộ, công chức,
viên chức nhà nước.
Nhà nước tạo điều kiện để mặt trận tổ quốc VN và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu
quả(điều 9 hiến pháp 1992 sửa đổi). các văn bản pháp luật của nhà nước đã có những quy định cụ
thể về những nội dung này.
Mối quan hệ gữa các đoàn thể nhân dân với nhà nước và các cơ quan nhà nước vừa hể hiện trực
tiếp(đoàn thể với các cơ quan nhà nước), vừa thể hiện gián tiếp(thông qua tổ chức đảng và nhân
dân). Trong quá trình thực hiện đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động của các đoàn thể nhân dân
hiện nay, đang từng bước phát huy tính tích cực chủ động của các đoàn thể, hạn chế khuynh
hướng hành chính hóa, quan liêu trông chờ vào sự bao cấp của nhà nước, cơ quan nhà nước cả
về kinh phí và phương thức hoạt động.
Quan hệ giữa nhà nước và cơ quan nhà nước với nhân dân
Nhà nước CHXHCNVN là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền
lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình trong quan hệ với nhà
nước vừa trực tiếp vừa gián tiếp
Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân; xây
dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do,
hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.
Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp là
những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách
nhiệm trước nhân dân.
Sơ đồ mối quan hệ giữa nhà nước CHXHCNVN với đảng CSVN, các đoàn thể nhân dân và
nhân dân

Đảng Cộng sản Việt
Nam
Nhà nước
CHXHCNVN
Các đoàn thể nhân
dân

Nhân dân

Câu 3 : Trình bày những quan điểm và nguyên tắc cơ bản chỉ đạo tổ chức bộ máy Nhà nước
Cộng hòa XHCN Việt Nam?
Tổ chức bộ máy nhà nước CHXHCNVN hiện nay là kết quả của quá trình 60 năm xây dựng và
hoàn thiện tổ chức nhà nước của đảng, nhà nước và nhân dân ta.
Quan điểm, nguyên tắc cơ bản chỉ đạo tổ chức bộ máy Nhà nước tại điều 1 và 2 Hiếp
pháp 1992 :
Điều 1
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống
nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời.
Điều 2
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.

chỉ đạo, điều hành tập trung thống nhất của TƯ và cq NN cấp trên với sự tự chủ năng động, sáng
tạo của địa phương và cq NN cấp dưới, cq NN ở TƯ quyết định những vấn đề cơ bản quan trọng của cả nước, cq NN ở địa phương tự quyết định và chịu trách nhiệm về những vấn đề cụ thể ở địa
phương, cq NN ở TƯ và cq NN cấp trên phải tạo đk cho cq NN ở địa phương và cq NN cấp dưới
chủ động, sáng tạo trong tổ chức hoạt động và phải kiểm tra các cq này trong việc thực hiện cac
quyết định chỉ thị của mình
Nguyên tắc này còn đc thể hiện ở cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của mỗi cấp trong
BMNN cũng như trong việc kết hợp hoạt động của tập thể với trách nhiệm cá nhân.
Đây là 1 nguyên tắc được ghi vào hiến pháp: “Quốc hội, hội đồng nhân dân và các cơ quan khác
của nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ” (điều 6 hiến pháp
1992).

Thống nhất quyền lực và phân công chức năng
nguyên tắc này đến năm 1991 được tổng kết thành một quan điểm chỉ đạo để xây dựng và hoàn
thiện nhà nước ta.
Một đặc điểm cơ bản của BMNNVN là đc tổ chức theo nguyên tắc tập quyền. Quyên lực
NN bao gồm quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ba lĩnh vực quyền lực NN đó là một khối
thống nhất đc nhân dân trao cho Quốc hội là cq đại biểu cao nhất, do nhân dân trực tiếp bầu ra.
Tuy tổ chức theo nguyên tắc tập quyền nhưng trong bộ máy NN ta có sự phân công rõ
ràng và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các CQNN trong việc thực hiện quyền lực NN. Quốc hội là
CQ duy nhất giữ quyền lập pháp đồng thời cũng có thẩm quyền trong lĩnh vực lập pháp và tư
pháp. CP giữa quyền hành pháp nhưng cũng có vai trò quan trọng trong lĩnh vực lập pháp và tư
pháp. TAND và VKSND giữ quyền tư pháp đồng thời cũng có thẩm quyền nhất định trong lĩnh
vực lập pháp và hành pháp. Hoạt động của cq hành pháp và cq tư pháp đều phải báo cáo trc QH,
chịu sự giám sát của QH
Tôn trọng và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc này cũng được ghi nhận thành một điều trong hiến pháp 1992 (điều 12): “NN
quản lý XH bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế XHCN.

Chủ tịch nước
Tòa án nhân
dân tối cao
Viện kiểm sát
nhân dân tối
cao
Viện kiểm
soát nhân dân
tỉnh
Tòa án nhân
dân tỉnh
Tào án nhân
dân huyện
Viện kiểm
soát nhân dân
huyện
Chính quyền địa phương 3
cấp
HĐND
UBN
D Chính phủ
Thủ tướng Trong bộ máy nhà nước CHXHCNVN , quốc hội được xác định là: “ Cơ quan đại biểu cao nhất
của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước CHXHCNVN”. Quốc hội thể hiện tính đại
diện nhân dân và tính quyền lực nhà nước.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của quốc hội
Cơ cấu tổ chức của quốc hội bao gồm: Ủy ban thường vụ quốc hội, hội đồng dân tộc, các ủy
ban quốc hội, đoàn đại biểu quốc hội và đại biểu quốc hội.
Nhiệm vụ, quyền hạn của quốc hội: câu 5
Ủy ban thường vụ quốc hội là cơ quan thường trực của quốc hội gồm có chủ tịch quốc hội,
các phó chủ tịch quốc hội, các ủy viên. UBTVQH có những nhiệm vụ ,quyền hạn cơ bản sau:
Quốc hội
- Chủ tịch quốc hội và các phó chủ tịch quốc hội
- Hội đồng dân tộc
- Bảy ủy ban quốc hội
- Các đoàn thể đại biểu quốc hội
- Đại biểu quốc hội.
Uỷ ban thường vụ quốc hội Ban hành pháp lệnh về những vấn đề được quốc hội giao trong chương trình làm luật của

Cơ cấu tổ chức: Hội đồng dân tộc gồm: Chủ tịch, các phó chủ tịch, các ủy viên do QH bầu, trong
đó có một số thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách.
Các Ủy ban của QH được thành lập theo các lĩnh vực hoạt động của QH nhằm giúp QH thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình trên các lĩnh vực đó của đời sống XH. Có nhiệm vụ nghiên
cứu, thẩm tra dự án luật; kiến nghị về luật, pháp lệnh và các dự án khác; có ý kiến về chương
trình xây dựng luật, pháp lệnh; thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do
luật định; kiến nghị những vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của ủy ban.
Cơ cấu của UBQH gồm có chủ nhiệm, phó chủ nhiệm và các ủy viên, trong đó có một số thành
viên hoạt động theo chế độ chuyên trách.
QH thành lập 7 uỷ ban : uỷ ban pháp luật; uỷ ban kinh tế - ngân sách; uỷ ban quốc phòng,
an ninh; uỷ ban văn hoá - giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; uỷ ban về các vấn đề xã
hội, uỷ ban khoa học – công nghệ - môi trường; uỷ ban đối ngoại.(điều 22 luật tổ chức quốc hội.)
Đại biểu QH là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đồng thời là đại biểu cấu
thành cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.
Nhiệm vụ, quyền hạn cuả đại biểu QH tập trung trong hiến pháp. Luật tổ chức và hoạt động cuả
QH và được thực hiện chủ yếu tại kỳ họp QH. Đại biểu QH có quyền: trình kiến nghị về luật và dự án luật trước QH; chất vấn, tham gia thảo
luận và biểu quyết các dự án luật, các dự án khác và nghị quyết; có quyền bầu cử và có thể được
bầu vào các chức vụ lãnh đạo khác của các cơ quan và các cơ quan khác của nhà nước.
Đại biểu QH làm việc theo chế độ chuyên trách hoặc không chuyên trách.
Đại biểu QH có quyền bất khả xâm phạm về thân thể và một số quyền ưu đãi khác.

Câu 7 : Trình bầy vai trò, vị trí và quyền hạn của Chủ tịch nước? Nêu thẩm quyền ban hành
văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước?
Vai trò, vị trí của chủ tịch nước trong bộ máy nhà nước CHXHCNVN: chủ tịch nước là người
đứng đầu nhà nước, thay mặt nhà nước CHXHCNVN về đối nội và đối ngoại (điều 101, hiến
pháp 1992). Quy định trên của hiến pháp bảo đảm sự thống nhất quyền lực nhà nước, có phân
công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư

vật chất và tinh thần của nhân dân. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Ủy ban thường vụ
Quốc hội, Chủ tịch nước.
Cơ cấu tổ chức:
Theo Điều 2 Luật Tổ chức Chính phủ 2001, Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gồm có:
- Các bộ;
- Các cơ quan ngang bộ;
Quốc hội quyết định thành lập hoặc bãi bỏ các bộ và các cơ quan ngang bộ theo đề nghị
của Thủ tướng Chính phủ.
Theo Điều 3 Luật Tổ chức Chính phủ 2001, Chính phủ gồm có:
- Thủ tướng Chính phủ;
- Các Phó Thủ tướng;
- Các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
Số Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ do Quốc hội quyết định.
Thủ tướng do Quốc hội bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước.
Thủ tướng trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và từ
chức đối với Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng và cơ quan ngang bộ.
Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, chấp
thuận việc từ chức đối với Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng, cơ quan ngang bộ.
Theo Điều 4 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001:
Thủ tướng là người đứng đầu Chính phủ. Thủ tướng chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo
công tác với Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.
Phó Thủ tướng giúp Thủ tướng làm nhiệm vụ theo sự phân công của Thủ tướng. Khi Thủ tướng
vắng mặt, một Phó Thủ tướng được Thủ tướng ủy nhiệm thay mặt lãnh đạo công tác của Chính
phủ. Phó Thủ tướng chịu trách nhiệm trước Thủ tướng, trước Quốc hội về nhiệm vụ được giao.
Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ là người đứng đầu và lãnh đạo một bộ, cơ quan
ngang bộ, phụ trách một số công tác của Chính phủ; chịu trách nhiệm trước Thủ tướng, trước
Quốc hội về quản lý Nhà nước ngành, lĩnh vực trong phạm vi cả nước hoặc về công tác được

đàm phán, ký, phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ; chỉ đạo việc thực hiện
các điều ước quốc tế mà Cộng hòa XHCN VN ký kết hoặc gia nhập; bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài;
9.Thực hiện chính sách xã hội, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo; thống nhất quản lý công
tác thi đua khen thưởng;
10.Quyết định việc điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương;
11.Phối hợp với Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc VN, Ban chấp hành Tổng Liên đoàn lao
động VN, Ban chấp hành trung ương của đoàn thể nhân dân trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn của mình; tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả.
Thẩm quyền ban hành văn bản:
Theo Điều 115 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung 2001):
Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường
vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, Chính phủ ra nghị quyết, nghị định, Thủ tướng
Chính phủ ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó.
Những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Chính phủ phải được thảo luận tập thể và quyết
định theo đa số.
Người làm: xam
Vị trí quyền hạn của chính phủ
Hiến pháp nước CHXHCNVN quy định: “chính phủ là cơ quan chấp hành của quốc hội, cơ
quan hành chính nhà nước cao nhất của nước CHXHCNVN” (điều 109 ,hiến pháp 1992).
Là cơ quan chấp hành của quốc hội, chính phủ chịu sự giám sát của quốc hội; chấp hành hiến
pháp,luật, nghị quyết của quốc hội,pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ quốc hội, lệnh,
nghị quyết của chủ tịch nước. Trong hoạt động, chính phủ phải chịu trách nhiệm trước quốc hội
và báo cáo công tác trước quốc hội, ủy ban thường vụ quốc hội và chủ tịch nước.
Là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước CHXHCNVN, chính phủ thống nhất quản
lý việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh và đối ngoại
của nhà nước bảo đảm hiệu lực của bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn
trọng hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân.

gia nhập; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở
nước ngoài;
9. Thực hiện chính sách xã hội, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo; thống nhất quản lý
công tác thi đua khen thưởng;
10. Quyết định việc Điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương;
11. Phối hợp với Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban chấp hành Tổng Liên
đoàn lao động Việt Nam, Ban chấp hành trung ương của đoàn thể nhân dân trong khi thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của mình; tạo Điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả.
Cơ cấu tổ chức của chính phủ gồm có
Chính phủ gồm có:
- Thủ tướng Chính phủ;
- Các Phó Thủ tướng;
- Các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
Cơ cấu tổ chức của chính phủ là các bộ và các cơ quan ngang bộ (gọi chung là bộ)
Quốc hội quyết định thành lập hoặc bãi bỏ các bộ và các cơ quan ngang bộ theo đề nghị của
Thủ tướng Chính phủ.
Bộ, cơ quan ngang bộ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối
với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công
thuộc ngành, lĩnh vực; thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp có
vốn nhà nước theo quy định của pháp luật.
Khác với chính phủ (là cơ quan quản lý nhà nước thẩm quyền chung), bộ là cơ quan quản lý
theo ngành hoặc lĩnh vực công tác (quản lý nhà nước theo thẩm quyền riêng)
Thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật của chính phủ bao gồm: nghị quyết, nghị định;
của thủ tướng chính phủ là Quyết định, chỉ thị.

Câu 9 : Trình bầy hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước ở địa phương? Nêu vị trí, nhiệm vụ,
quyền hạn chung của tổ chức đó?
quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xữ hội, đơn vị vũ trang và công dân ở địa phương .

Ủy Ban Nhân Dân:

** Vai trò của UBND

UBND do HĐND bầu ra, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên
và nghị quyết của HĐND (điều 123, Hiến pháp 1992). UBND là cơ quan thực hiện chức năng
quản lý hành chính nhà nước vừa do HĐND giao, vừa do UBND cấp trên giao và chịu sự lãnh
đạo thống nhất của Chính phủ; là cơ quan hành chính nhà nước hoạt động thường xuyên ở địa
phương, thực hiện việc chỉ đạo, điều hành hàng ngày công việc hành chính nhà nước ở địa
phương. Như vậy, UBND có vị trí pháp lý riêng nhưng gắn bó mật thiết với HĐND.

** Về nhiệm vụ, quyền hạn của UBND:
Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND từng cấp được quy định tại Chương IV Luật tổ chức HĐND và
UBND năm 2003, thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống nhà nước và xã hội: + Tuyên truyền giáo dục pháp luật, kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ
quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp trong cơ quan nhà nước, tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân ở địa phương;
+ Bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang và
xây dựng quốc phòng toàn dân, quản lý hộ khẩu, hộ tịch ở địa phương, việc cư trú, đi lại của
người nước ngoài ở địa phương;
+ Phòng chống thiên tai, bảo vệ tài sản nhà nước và của công dân; chống tham nhũng, buôn lậu,
làm hàng giả và tệ nạn xã hội khác;
+ Quản lý tổ chức, biên chế, lao động, tiền lương, đào tạo cán bộ, công chức, bảo hiểm xã hội;
+ Tổ chức và chỉ đạo công tác thi hành án ở địa phương;
+ Tổ chức việc thực hiện thu, chi ngân sách của địa phương; phối hợp với các cơ quan hữu quan

nhân dân.
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được thành lập 3 ban : ban pháp chế, ban kinh tế - ngân sách, ban
văn hóa – xã hội (ở nơi có nhiều đồng bào dân tộc có thể thành lập thêm ban dân tộc). cấp huyện
được thành lập 2 ban: Ban kinh tế - xã hội và ban pháp chế. Nhiệm vụ, quyền hạn của thường trực hội đồng nhân dân, các ban của hội đồng nhân dân được
quy định trong luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm 2003.
Để thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn của mình Hội đồng nhân dân ban hành nghị quyết để
quyết định chủ trương, biện pháp lớn và giám sát việc thực hiện nghị quyết.
Ủy ban nhân dân
Theo quy định của hiến pháp 1992, Ủy ban nhân dân do hội đồng nhân dân bầu, là cơ quan
chấp hành của hội đồng nhân dân và các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách
nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên
ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành hiến pháp,luật, các văn bản của cơ quan nhà
nước cấp trên và nghị quyết của hội đồng nhân dân cùng cấp nhằm bảo đảm thực hiện chủ
trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính
sách khác trên địa bàn.
Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự
chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở.
Theo luật tổ chức của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, ủy ban nhân dân có nhiệm vụ
quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương; thực hiện việc tuyên
truyền, giáo dục pháp luật; kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp, Luật, các văn bản của cơ quan nhà
nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp tại các cơ quan nhà nước, tổ chức
xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang;bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; thực
hiện xây dựng lực lượng vũ trang và xây dựng quốc phòng toàn dân; quản lý hộ khẩu, hộ tịch;
quản lý công tác tổ chức, biên chế, lao động tiền lương; tổ chức thu, chi ngân sách cảu địa
phương theo quy định của pháp luật.
ủy ban nhân dân được ban hành quyết định và chỉ thị để thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của
mình.

bảo đảm tính chuyên nghiệp trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ nhưng hợp thành một
thể thống nhất thực hiện mục tiêu chung.
Cơ quan hành chính nhà nước:
Cơ quan hành chính nhà nước là một cơ quan trong hệ thống các cơ quan nhà nước, được thành
lập theo quy định của pháp luật (hiến pháp, luật, pháp lệnh) có tổ chức và hoạt động theo quyết
định của pháp luật; sử dụng quyền lực nhà nước thực thi chức năng, nhiệm vụ trong phạm vi
thẩm quyền do pháp luật quy định;
Cơ quan hành chính nhà nước là một loại cơ quan thuộc quyền lực Hành pháp, được lập ra để
thực thi pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành. Thẩm quyền của chúng chỉ giới hạn
trong phạm vi chấp hành, điều hành và chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực cùng cấp;
Hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước mang tính thường xuyên, liên tục và tương đối ổn
định, là cầu nối trực tiếp nhất đưa đường lối, chính sách, pháp luật vào cuộc sống;
Tổ chức của cơ quan hành chính nhà nước có mối quan hệ trực thuộc theo một thứ bậc chặt chẽ
(quan hệ mệnh lệnh) tạo thành một hệ thống thống nhất từ trung ương xuống các cấp ở địa
phương, đứng đầu là Chính phủ Việt Nam.
ở việt nam các cơ quan hành chính nhà nước bao gồm:
- các cơ quanh hành chính nhà nước ở cấp trung ương bao gồm Chính phủ, các Bộ và cơ quan
ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ.
- cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là các UBND. Tương ứng với mỗi cấp địa phương
có một cấp UBND.
- Các cơ quan hành chính theo ngành tại địa phương bao gồm cơ quan chuyên môn của UBND và
cơ quan đại diện của các bộ tại địa phương.
Người làm: xam

Tổ chức bộ máy nhà nước
Các chức năng nhiệm vụ của nhà nước được thực hiện thông qua hệ thống tổ chức bộ máy nhà
nước, bao gồm những cơ quan nhà nước có tính chất, vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ
cấu tổ chức khác nhau, có quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một thể toàn vẹn, thực hiện chức
năng, nhiệm vụ chung của nhà nước nhằm đạt được các mục tiêu thống nhất đã được xác định.
Bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung theo quy định của

- Trình tự thành lập;
- Vị trí trong hệ thống bộ máy hành chính;
- Tính chất thẩm quyền của cơ quan hành chính;
- Hình thức tổ chức và chế độ giải quyết công việc;
- …
1. Theo căn cứ pháp lý để thành lập
Theo đó, các cơ quan hiến định (do Hiến pháp quy định việc thành lập cơ quan đó) và cơ
quan được thành lập trên cơ sở các đạo luật và văn bản dưới luật.
Loại thứ nhất gồm Chính phủ, các Bộ và các cơ quan ngang Bộ (những cơ quan này do Quốc
hội trực tiếp biểu quyết quyết định), UBND các cấp (được thành lập ở các đơn vị hành chính-
lãnh thổ).
Loại thứ hai gồm cơ quan thuộc Chính phủ, Tổng cục, Cục, Vụ, Viện, Sở, phòng, ban.
Các cơ quan thành lập trên cơ sở Hiến pháp có vị trí pháp lý khá ổn định. Các cơ quan thành
lập trên cơ sở các đạo luật và các văn bản dưới luật thường ít ổn định, nhưng có tính năng
động hơn, phù hợp với những thay đổi của sự quản lý hành chính nhà nước.
2. Theo trình tự thành lập
Theo trình tự thành lập có cơ quan hành chính nhà nước được thành lập do được bầu ra
(UBND các cấp – Điều 123 Hiến pháp 1992), và được lập ra ( Chính phủ, các Bộ và cơ quan
ngang Bộ). Trình tự thành lập cơ quan rất phức tạp kết hợp cả bầu, bổ nhiệm, đề nghị danh
sách để phê chuẩn (xem khoản 7, 8 Điều 84 Hiến pháp 1992).
Có cơ quan hành chính nhà nước do cơ quan quyền lực nhà nước trực tiếp thành lập (Chính
phủ, Bộ và cơ quan ngang Bộ, UBND các cấp), do Chính phủ thành lập ( một số tổng cục,
viện, học viện … cơ quan thuộc Chính phủ), do UBND thành lập ( Sở, phòng, ban…).
3. Theo vị trí trong hệ thống bộ máy hành chính
Theo đó, các cơ quan hành chính nhà nước chia thành: cơ quan hành chính nhà nước cao nhất
đứng đầu hệ thống hành pháp là Chính phủ (Điều 109 Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi bổ sung năm 2001, về sau gọi là Hiến pháp 1992); các cơ quan hành chính nhà nước của Chính
phủ ở Trung ương (các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Tổng cục…), các cơ quan hành chình nhà

Những người là cấp phó thủ trưởng, người đứng đầu các bộ phận cơ quan chỉ là người giúp
thủ trưởng cơ quan thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công, phân cấp của thủ trưởng cơ quan.
Chế độ này được áp dụng đối với các cơ quan như Bộ, Tổng cục, Sở, phòng, ban. Trong quá
trình giải quyết công việc những cơ quan này có thể được sử dụng hình thức làm việc tập thể
để thảo luận những vấn đề quan trọng, nhưng quyết định của thủ trưởng cơ quan là quyết định
cao nhất.
6. Theo phân cấp nguồn tài chính được sử dụng
Theo tiêu chí này, các cơ quan hành chính nhà nước được phân cấp thành các cơ quan hành
chính nhà nước có tài chính cấp 1, cấp 2. Tất cả các cơ quan quản lý hành chính nhà nước đều
hoạt động dựa vào ngân sách của nhà nước, và nguồn tài chính được phân bổ hoặc trực tiếp từ
bộ tài chính hoặc phân qua cơ quan hành chính cấp trên.
Người làm: xam
Có thể phân loại các cơ quan hành chính nhà nước theo nhiều tiêu chí khác nhau:
Phân loại các tổ chức hành chính nhà nước theo lãnh thổ. Căn cứ vào tác động theo quy
mô lãnh thổ, có thể phân chia thành hệ thống tổ chức hành chính nhà nước ở trưng ương(chính phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ, các cơ quan thuộc chính phủ) hoạt động trên quy mô cả nước
và hệ thống các tổ chức hành chính nhà nước hoạt động trên cấp lãnh thổ hành chính- hệ thống tổ
chức hành chính nhà nước ở địa phương. ở việt nam, tổ chức hành chính nhà nước ở địa phương
được chia thành 3 cấp là UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện, UBND cấp xã.
Tổ chức hành chính nhà nước ở trung ương là chính phủ, được tổ chức theo mô hình chức
năng. Đó là mô hình phân chia hoạt động thực thi quyền hành pháp cho các bộ phận khác nhau
cấu thành tổ chức hành pháp trung ương.
Tổ chức hành chính địa phương cũng được hình thành trên nguyên tắc do luật định. Tuỳ thuộc
vào việc tổ chức phân chia các vùng lãnh thổ để quản lý mà các tổ chức hành chính nhà nước
được thành lập một cách tương ứng
Phân loại theo tính chất thẩm quyền. các cơ quan hành chính được phân thành 2 loại: các
cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung, quản lý hoạt động trên tất cả các lĩnh vực
trên lãnh thổ nhất định; và các cơ quan hành chính nhà nước thẩm quyền riêng, quản lý

(((((Dưới đây là những nội dung hoạt động định ra những kế hoạch lớn của chính phủ ở hầu hết
các nước trên thế giới:
- Định kế hoạch về việc sử dụng, khai thác và duy trì các nguồn tài nguyên - Định ra các kế hoạch phát triển các đô thị lớn, bao gồm quy hoạch chiến lược tổng thể, kế
hoạch xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, cung cấp dịch vụ công.
- Định ra các kế hoạch quốc gia đảm bảo việc làm cho mọi công dân, đối phó với nạn thất
nghiệp do kinh tế thị trường gây nên
- Có kế hoạch can thiệp thông qua hệ thống kho bạc và ngân hàng nhà nước để duy trì lạm phát
ở mức tối thiểu.
- Đề ta các kế hoạch phúc lợi xã hội như trợ cấp thất nghiệp, giúp đỡ người già…
- Lập kế hoạch tài chính….)))))
Chức năng kinh tế là chức năng quan trọng nhất của tổ chức hành chính nhà nước trong mỗi
quốc gia. Chức năng này xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước. Chức năng kinh tế của nền
hành chính nhà nước thông qua các bộ phận quản lý kinh tế cuả chính phủ (như các bộ, ngành )
để lãnh đạo, tổ chức và quản lý kinh tế- xã hội. Chức năng kinh tế trong nền hành chính nhà nước
của phần lớn các nước trên thế giới là: định ra chiến lược, kế hoạch phát triển xã hội và nền kinh
tế quốc dân, bao gồm các quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế, bố trí, và
sắp xếp hợp lý sức sản xuất, các hạng mục kinh tế quan trọng và các hạng mục kỹ thuật cần phải
cải tiến; định ra và ban bố các chính sách, văn bản pháp quy, điều lệ, chủ trương, quy định kinh
tế, kỹ thuật quan trọng, đồng thời ban bố các tiêu chuẩn, định mức, quy phạm kinh tế kỹ thuật
chủ yếu; phối hợp hài hòa những mối quan hệ kinh tế và kế hoạch phát triển giữa các ngành, các
địa phương, các xí nghiệp, chỉ đạo và thúc đẩy sự hợp tác kinh tế, sự liên kết kinh tế giữa các
ngành với các địa phương.
Chức năng văn hóa là một trong các chức năng truyền thống và quan trọng của tổ chức hành
chính nhà nước trong tất cả các quốc gia.
Chức năng văn hóa của nền hành chính quốc gia, đặc biệt là chức năng phát triển khoa học, văn
hóa, giáo dục chủ yếu bao gồm: định ra chiến lược quy hoạch, kế hoạch tổng thể phát triển khoa
học, văn hóa, giáo dục; định ra và ban bố các chính sách, văn bản pháp quy quan trọng trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status