Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Phương Dung
LỜI MỞ ĐẦU
Vốn là điều kiện không thể thiếu khi tiến hành thành lập doanh nghiệp và tiến hành
hoạt động kinh doanh. Ở bất kỳ doanh nghiệp nào, vốn được đầu tư vào quá trình sản
xuất kinh doanh nhằm tăng thêm lợi nhuận, tăng thêm giá trị của doanh nghiệp. Ngày nay
một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường đòi hỏi doanh nghiệp đó phải biết
quản lý và không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh mà đặc biệt là vốn
lưu động. Vốn lưu động là bộ phận rất quan trọng trong vốn sản xuất kinh doanh và nó
thường chiếm tỷ trọng rất lớn ở những doanh nghiệp sản xuất và thương mại. Chỉ khi nào
doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì doanh nghiệp đó mới có vốn để tái đầu tư giản
đơn và tái đầu tư mở rộng nhằm đem lại lợi nhuận ngày càng cao cho doanh nghiệp.
Việc nâng cao hiệu quả quản lý vốn lưu động là hết sức quan trọng trong giai đoạn
hiện nay, khi mà đất nước đang trong giai đoạn nền kinh tế thị trường rất cần vốn để hoạt
động sản xuất kinh doanh không chỉ để tồn tại, thắng trong cạnh tranh mà còn đạt được
sự tăng trưởng vốn chủ sở hữu. Một thực trạng nữa hiện nay các doanh nghiệp đặc biệt là
các doanh nghiệp Nhà nước vốn được cấp nhỏ bé so với nhu cầu, tình trạng thiếu vốn
diễn ra liên miên gây căng thẳng trong quá trình sản xuất.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, qua thời gian thực tập tại Công ty
cổ phần dệt may 29/3 được sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn cùng tập thể cán
bộ công nhân viên trong công ty, em xin nghiên cứu đề tài “ Phân tích hiệu quả quản lý
vốn lưu động tại công ty cổ phần dệt may 29/3”
Đề tài nghiên cứu gồm 3 phần:
Chương I: Cơ sở lý luận về vốn lưu động và hiệu quả quản lý vốn lưu động trong
doanh nghiệp
Chương II: Thực trạng quản lý vốn lưu động tại Công ty cổ phần dệt may 29/3
Chương III: Các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý vốn lưu động tại Công
ty cổ phần dệt may 29/3
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ- Lớp 34K15 trang 1
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Phương Dung
MỤC LỤC
Chương 1 : Cơ sở lý luận về vốn lưu động và hiệu quả quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp
- Vốn bằng tiền và vốn trong thanh toán
+ Vốn bằng tiền: gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, kể cả
kim loại quý (Vàng, bạc, đá quý …)
+ Vốn trong thanh toán: Các khoản nợ phải thu của khách hàng, các khoản tạm
ứng, các khoản phải thu khác
- Vốn vật tư hàng hóa (hay còn gọi là hàng tồn kho) bao gồm nguyên, nhiên vật
liệu, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ lao động, sản phẩm dở dang và thành phẩm.
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ- Lớp 34K15 trang 3
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Phương Dung
- Vốn về chi phí trả trước: Là những khoản chi phí lớn hơn thực tế đã phát sinh có
liên quan đến nhiều chu kỳ kinh doanh nên được phân bổ vào giá thành sản phẩm của
nhiều chu kỳ kinh doanh như: chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, chi phí thuê tài sản, chi phí
nghiên cứu thí nghiệm, cải tiến kỹ thuật, chi phí xây dựng, lắp đặt các công trình tạm
thời, chi phí về ván khuôn, giàn giáo, phải lắp dùng trong xây dựng cơ bản …
b) Phân loại vốn theo vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất kinh
doanh. Theo cách phân loại này vốn lưu động được chia thành 3 loại:
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: Bao gồm giá trị các khoản nguyên, vật
liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu động lực, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ lao động
nhỏ.
- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: Bao gồm giá trị sản phẩm dở dang và vốn về
chi phí trả trước.
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông: Bao gồm giá trị thành phẩm, vốn bằng tiền,
các khoản đầu tư ngắn hạn (đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn …) các
khoản vốn trong thanh toán (các khoản phải thu, tạm ứng …)
c) Phân loại theo quan hệ sở hữu về vốn
- Vốn chủ sở hữu: là số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của công ty, công ty có
đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt. Tuỳ theo loại hình công ty
thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như:
vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước; vốn do chủ công ty tư nhân tự bỏ ra; vốn góp cổ phần
trong công ty cổ phần; vốn góp từ các thành viên trong công ty liên doanh; vốn tự bổ
trong xây lắp việc sử dụng các thể thức thanh toán khác nhau tổ chức thủ tục thanh toán,
tình hình chấp hành kỷ luật thanh toán có ảnh hưởng nhiều đến tỷ trọng vốn bỏ vào khâu
sản xuất và khâu lưu thông.
Ngoài các nhân tố nêu trên, kết cấu VLĐ còn lệ thuộc vào tính chất thời vụ sản
xuất, trình độ tổ chức và quản lý doanh nghiệp. Tìm hiểu thành phần cũng như nghiên
cứu kết cấu nội dung vốn lưu động là rất cần thiết đối với việc sử dụng chính xác và có
hiệu quả số vốn đó trong mỗi doanh nghiệp.
1.1.5 Vai trò vốn lưu động trong hoạt động sản xuất của doanh nghiệp:
Như đã trình bày, một doanh nghiệp, trong nền kinh tế thị trường, muốn hoạt động
kinh doanh thì cần phải có vốn. Vốn lưu động là một thành phần quan trọng cấu tạo nên
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ- Lớp 34K15 trang 5
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Phương Dung
vốn của doanh nghiệp, nó xuất hiện và đóng vai trò quan trọng trong tất cả các khâu của
quá trình sản xuất kinh doanh.
Trong khâu dự trữ và sản xuất, vốn lưu động đảm bảo cho sản xuất của doanh
nghiệp được tiến hành liên tục, đảm bảo quy trình công nghệ, công đoạn sản xuất. Trong
lưu thông, vốn lưu động đảm bảo dự trữ thành phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ được liên
tục, nhịp nhàng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Thời gian luân chuyển vốn lưu
động ngắn, số vòng luân chuyển vốn lưu động lớn khiến cho công việc quản lý và sử
dụng vốn lưu động luôn luôn diễn ra thường xuyên, hàng ngày. Với vai trò to lớn như
vậy, việc tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
trong doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu.
VLĐ còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình hoạt động của hàng hoá, cũng
như phản ánh và kiểm tra quá trình mua sắm, dự trữ bán hàng của doanh nghiệp. Mặt
khác vốn lưu động luân chuyển nhanh hay chậm còn phản ánh thời gian lưu thông có hợp
lý hay không. Do đó thông qua tình hình luân chuyển VLĐ của doanh nghiệp, các nhà
hàng quản doanh nghiệp có thể đánh giá kịp thời đối với các mặt hàng mua sắm dự trữ
sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng vốn ảnh hưởng tới kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh trong kỳ, do vậy việc quản lý vốn có ý nghĩa quan trọng. Sử
dụng vốn hợp lý sẽ cho phép khai thác tối đa năng lực hoạt động của TSLĐ góp phần hạ
* Vòng quay vốn lưu động
Vòng quay vốn lưu động = ————————————————
Đây là một chỉ tiêu phản ánh chất lượng tổng hợp phản ánh hiệu quả chung của
doanh nghiệp trong việc quản lý và sử dụng vốn lưu động trong mối quan hệ so sánh giữa
kết quả sản xuất kinh doanh (tông doanh thu thuần) và số vốn lưu động bình quân
(VLĐBQ) tháng, quý, năm được tính như sau:
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ- Lớp 34K15 trang 7
Doanh thu thuần
Vốn lưu động bình quân trong kì
VLĐ đầu tháng + VLĐ cuối tháng
2
VLĐBQ tháng =
VLĐBQ tháng 1+ VLĐBQ tháng 2+ VLĐBQ tháng 3
3
VLĐBQ quý =
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Phương Dung
Chỉ tiêu này cho chúng ta biết số vốn lưu động quay được mấy vòng trong một chu
kỳ kinh doanh. Về phương diện hiệu quả sử dụng vốn lưu động chỉ tiêu này càng cao
càng tốt. Điều đó có nghĩa là vòng quay vốn lưu động càng nhiều cho thấy doanh nghiệp
ít phải sử dụng nợ để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
* Chỉ tiêu thời gian luân chuyển vốn lưu động
Chỉ tiêu này cho biết độ dài của vòng quay vốn lưu động, tức là số ngày cần thiết
của một vòng quay vốn lưu động. Chỉ tiêu này có ý nghĩa ngược với chỉ tiêu vòng quay
vốn lưu động có nghĩa là số ngày luân chuyển vốn lưu động mà càng ngắn chứng tỏ vốn
lưu động được luân chuyển ngày càng nhiều trong kỳ phân tích, chứng tỏ doanh nghiệp
sử dụng vốn lưu động hiệu quả.
* Chỉ tiêu hệ số đảm nhiệm vốn lưu động
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động phản ánh để được một đồng doanh thu tiêu thụ thì cần
này được xác định theo công thức:
Các khoản phải thu bình quân
Kỳ thu tiền bình quân = ———————————————
Doanh thu bình quân ngày
- Số vòng quay hàng tồn kho: là số lần mà hàng hoá tồn kho bình quân luân chuyển
trong kỳ. Số vòng hàng tồn kho càng cao việc kinh doanh được đánh giá càng tốt, bởi lẽ
doanh nghiệp chỉ cần đầu tư cho hàng tồn kho thấp nhưng vẫn đạt được doanh số cao. Số
vòng quay hàng tồn kho được xác định theo công thức:
- Thời gian một vòng quay hàng tồn kho
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ- Lớp 34K15 trang 9
Vòng quay nợ phải thu=
Doanh thu thuần + GTGT đầu ra
Nợ phải thu khách hàng bình quân
Vòng quay HTK =
Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho bình quân
Vòng quay tiền =
Tiền mặt và các tài sản tương đương tiền bình quân
Doanh thu thuần
Thời gian 1 vòng quay HTK =
360
Số vòng quay hàng tồn kho
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Phương Dung
Chỉ tiêu này cho biết kỳ đặt hàng bình quân của doanh nghiệp là bao nhiêu ngày.
1.2.3 Nội dung công tác quản lý vốn lưu động:
1.2.3.1 Quản lý vốn bằng tiền:
Hoạt động thu chi vốn tiền mặt của công ty diễn ra hàng ngày, hàng giờ, hơn nữa vốn
tiền mặt là một loại tài sản đặc biệt, có khả năng thanh khoản cao, dễ dàng chuyển sang
TK
C
2
=
Trong đó: F: chi phí cố định phát sinh khi bán chứng khoán ngắn hạn
T: tổng số tiền mặt mới cần thiết cho mục đích giao dịch trong
Thời kỳ hoach định là một năm
K: chi phí cơ hội do giữ tiền mặt
Mô hình Miller-Orr:
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ- Lớp 34K15 trang 11
Chi phí giữ tiền mặt
Tổng chi phí giữ tiền mặt
Chi phí cơ hội
Chi phí giao dịch
Quy mô tiền mặt
C*
Hình 1: Tổng chi phí giữ tiền mặt
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Phương Dung
Khác với Baumol. Merton Miller và Daniel Orr phát triển mô hình tồn quỹ mục với
dòng tiền vào và dòng tiền ra biến động ngẫu nhiên hằng ngày. Mô hình Miller-Orr liên
quan đến cả dòng tiền vào và dòng tiền ra với giả định dòng tiền ròng bằng dòng tiền vào
trừ dòng tiền ra có phân phối chuẩn. Dòng tiền ròng hằng ngày có thể ở mức kỳ vọng, ở
mức cao nhất hoặc thấp nhất. Tuy nhiên giả định dòng tiền trong bằng 0, tức dòng tiền
vào đủ bù đắp dòng tiền ra.
Có ba khái niệm cần chú ý trong mô hình này: giới hạn trên (H), giới hạn dưới (L),
tồn quỹ mục tiêu (Z). Ban quản lý công ty thiết lập H căn cứ vào chi phí cơ hội giữ tiền
và L căn cứ vào mức độ rủi ro do thiếu tiền mặt. Công ty cho phép tồn quỹ biến động
ngẫu nhiên trong phạm vi giới hạn và nếu như tồn quỹ vẫn nằm trong mức giữa giới hạn
dưới và giới hạn trên thì công ty không cần thiết thực hiện giao dịch mua hay bán chứng
khoán ngắn hạn. Khi tồn quỹ đụng giới hạn trên, công ty mua (H-Z) đồng chứng khoán
L: tồn quỹ thấp nhất
Trong các mô hình, chúng ta đều giả định rằng để bù đắp lại số tiền mặt đã chi tiêu,
công ty bán chứng khoán ngắn hạn nhưng thực ra công ty còn có cách khác là vay ngân
hàng. Tuy nhiên cần lưu ý là vay ngân hàng lãi suất thường cao hơn bán chứng khoán.
Quyết định và đầu tư tiền tạm thời nhàn rỗi:
Công ty, đặc biệt là các công ty hoạt động mang tính thời vụ, đôi khi có một số
lượng tiền mặt tạm thời nhàn rỗi. Trong thời gian nhàn rỗi tiền cần được đầu tư nhằm
mục đích sinh lợi bằng cách mua các chứng khoán ngắn hạn. Ở các nước phát triển, thị
trường tiền tệ phát triển với rất nhiều công cụ khác nhau. Các công ty lớn thường đầu tư
tiền tạm thời nhàn rỗi vào các loại tài sản tài chính ngắn hạn thông qua ngân hàng thương
mại hoặc thông qua các nhà kinh doanh môi giới đầu tư. Các công ty nhỏ thường sử dụng
các quỹ đầu tư trên thị trường tiền tệ và trả một khoản phí nhất định
1.2.3.2 Quản lý khoản phải thu:
Khoản phải thu (accounts receivables) là số tiền khách hàng nợ công ty do mua chịu
hàng hóa hoặc dịch vụ. Có thể nói hầu hết các công ty đều phát sinh các khoản phải thu
nhưng với mức độ khác nhau, từ mức không đáng kể cho đến mức không thể kiểm soát
nổi, Kiểm soát khoản phải thu liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi nhuận với chi phí và
rủi ro. Nếu không bán chịu hàng hóa thì sẽ mất cơ hội bán hàng, do đó mất lợi nhuận.
Nếu bán chịu quá nhiều thì chi phí cho khoản phải thu tăng và nguy cơ phát sinh các
khoản nợ khó đòi, do đó, rủi ro không thu hồi được nợ cũng gia tăng.
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ- Lớp 34K15 trang 13
Bán hàng Thu tiền ngay
Bán chịu
-Không tốn chi phí
-Không rủi ro
-Kết thúc vòng quay vốn
-Tăng doanh thu, tăng chi phí
-Giảm chi phí SXKD
Tăng lợi nhuận
- Rủi ro
Các tài liệu được sử dụng để phân tích khách hàng có thể là kiểm tra bảng cân đối
tài sản, bảng kế hoạch ngân quỹ, phỏng vấn trực tiếp, xuống tận nơi để kiểm tra hay tìm
hiểu qua các khách hàng khác.
Điều khoản bán chịu:
Thời hạn bán chịu:
Khi xác định thời hạn cấp tín dụng, cần quan tâm các yếu tố sau:
+ Rủi ro do khách hàng không trả tiền: Khách hàng hoạt động ở những ngành có
mức độ rủi ro cao hay khả năng thanh toán kém thì doanh nghiệp nên giảm bớt thời
hạn tín dụng để giảm rủi ro.
+Độ lớn của khoản cấp tín dụng: Khoản tín dụng càng nhỏ thì thời hạn thanh toán
càng ngắn và ngược lại
+Đặc điểm, tính chất của hàng hóa: Hàng lượng thực, thực phẩm thường có kỳ thu
tiền ngắn hơn hàng công nghệ phẩm. Hàng có giá trị lớn thường có kỳ thu tiền dài/
Chính sách chiết khấu:
Khi cấp tín dụng thương mại cho khách hàng thì doanh nghiệp sẽ bị chậm trễ trong
việc thu tiền. tăng chi phí sử dụng vốn…do đó doanh nghiệp thường tính giá cao hơn
giá thanh toán ngay. Để khuyến khích khách hàng thanh toán sớm doanh nghiệp đề ra
chính sách chiết khấu thanh toán. Chiết khấu thanh toán là khoản tiền thưởng cho
khách hàng mua chịu họ thanh toán sớm hơn theo hợp đồng thỏa mãn yêu cầu người
mua.
Xây dựng hạn mức tín dụng:
Do mỗi khách hàng có khả năng tài chính, tính cách…khác nhau, mặt khác, bản
thân doanh nghiệp cũng có năng lực và yêu cầu quản lý khác nhau trong mỗi giai đoạn vì
vậy để giảm thiểu rủi ro cần phải xây dựng hạn mức tín dụng cho từng khách hàng hay
nhóm khách hàng.
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ- Lớp 34K15 trang 15
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Phương Dung
b) Quyết định bán chịu:
Dựa trên cơ sở đánh giá uy tín tín dụng khách hàng công ty đưa ra quyết định bán
chịu hay không. Để tránh những tổn thất do nợ không thể thu hồi được xảy ra khi bán
*Quản lý dự trữ theo phương pháp cổ điển hay mô hình đặt hàng hiệu quả nhất –
EOQ (Economic Odering Quantity). Mô hình EOQ dựa trên các giả định:
- Nhu cầu hàng tồn kho là đều đặn
- Giá mua hàng mỗi lần bằng nhau
- Không có yếu tố chiết khấu thương mại
- Không tính đến dự trữ an toàn
Theo mô hình này, mức dự trữ tối ưu là:
C
OS
Q
2
*
=
Trong đó:
Q* : Mức dự trữ tối ưu.
O : Chi phí đặt hàng
C : Chi phí duy trì tồn kho đơn vị
- Điểm đặt hàng lại:
Về mặt lý thuyết ta giả định khi nào lượng hàng kỳ trước hết mới nhập kho lượng
hàng mới nhưng trên thực tế hầu như không bao giờ như vậy. Nhưng nếu đặt hàng quá
sớm sẽ làm tăng lượng nguyên liệu tồn kho. Do vậy, các doanh nghiệp cần phải xác định
thời điểm đặt hàng mới.
- Lượng dự trữ an toàn
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ- Lớp 34K15 trang 17
Lượng tồn kho tại
điểm đặt hàng lại =
Số lượng HTK sử
dụng mỗi ngày X
Độ dài của thời
gian giao hàng
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Phương Dung
Những hàng hoá có chu kỳ sản xuất dài vốn hàng hoá lớn sẽ làm cho tốc độ chu
chuyển VLĐ chậm và ngược lại bên cạnh sự phân bổ hàng hoá giữa nơi sản xuất và tiêu
dùng cũng ảnh hưởng tới tốc độ chu chuyển hàng hoá.
- Nhu cầu thị trường, giá cả hàng hoá dịch vụ. Trong thị trường cạnh tranh hoàn
hảo, nhu cầu về thị trường và giá cả hàng hoá và dịch vụ là những biến số rất khó xác
định. Sự thay đổi của cũng cũng ảnh hưởng đến hiệu quả việc sử dụng vốn hay lợi nhuận
thu được của doanh nghiệp.
- Giá cả cũng tác động tương tự như vậy, sự thay đổi giá cả có thể cho sự biến động
đột ngột của nhu cầu hoặc số lượng cung ứng. Giá cả thay đổi sẽ làm tăng lên hoặc giảm
đi mức độ lãi mà doanh nghiệp thu được trên một đơn vị hàng hoá tiêu thụ.
- Các chính sách kinh tế của nhà nước: Để thực hiện chức năng quản lý vĩ mô nền
kinh tế của nhà nước, nhà nước đưa ra chính sách kinh tế phù hợp để thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế phù hợp với từng thời kỳ, giai doạn phát triển của nền kinh tế.
- Các chính sách thuế, đây là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của nhà nước, thuế
có tác động trực tiếp đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vì đây là khoản
chi phí bắt buộc. Nếu nhà nước đóng thuế thấp đối với ngành kinh doanh của doanh
nghiệp thì lợi nhuận thu được nhiều hơn, doanh nghiệp có xu hướng mở rộng quy mô
kinh doanh. Ngược lại với mức thuế cao, lợi nhuận giảm, doanh nghiệp không muốn mở
rộng quy mô kinh doanh mà còn thu hẹp dần quy mô hoạt động.
1.2.4.2 Các nhân tố chủ quan:
Ngoải các nhân tố khách quan nêu trên còn rất nhiều nhân tố chủ quan của chính bản
thân công ty làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động cũng như toàn bộ quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong công ty.
Một nhân tố quan trọng tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của
doanh nghiệp là kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay nói cách khác là
doanh thu và lợi nhuận. Doanh thu và lợi nhuận cao hay thấp phản ánh vốn lưu động sử
dụng hiệu quả hay không hiệu quả.
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ- Lớp 34K15 trang 19
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Phương Dung
- Sản phẩm: bao gồm sản phẩm may mặc: Quần Âu, Jacket, quần thể thao …và
sản phẩm dệt: khăn ăn, khăn mặt, khăn tắm, áo choàng với các kiểu trang trí Dobby,
Jacquard, in hoa, thêu, cắt vòng…
- Nhãn mác sản phẩm: HACHIBA
- Công ty Cổ phần Dệt may 29-3 được thành lập theo Giấy Chứng nhận Đăng ký
Kinh doanh Công ty Cổ phần số: 3203001358, đăng ký thay đổi lần thứ 1 ngày
19/7/2007 do Sở Kế hoạch & Đầu tư TP. Đà Nẵng cấp
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty:
Công ty Dệt May 29-3 Đà Nẵng là doanh nghiệp quốc doanh thuộc sở công nghiệp
thành phố với ngành sản xuất chính là dệt và may.
Ngày 29-3-1976, Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng ký quyết định thành
lập doanh nghiệp mang tên Tổ Hợp Dệt Bông 29-3 và từ đó doanh nghiệp chính thức đi
vào hoạt động
Tháng 11-1978 ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng lập quyết định đổi tên
Tổ Hợp Dệt Bông 29-3 thành Xí Nghiệp Hoạt Động Sản Xuất Kinh Doanh Dệt 29-3.
Ngày 30-11-1992 nhà máy được chính thức mang tên Công Ty Dệt May 29-3 với
tên giao dịch quốc tế là HACHIBA theo quyết định số 3156/QĐUB của Ủy Ban Nhân
Dân Tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng
Ngày 27/3/2007: Công ty cổ phần hóa thành “ Công ty Cổ Phần Dệt May 29-3”
2.1.3 Tổ chức bộ máy quản lý và chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận
Hội đồng quản trị: là cơ quan cao nhất có đủ quyền hạn để thực hạn các quyền
nhân danh Công ty. Hoạt động kinh doanh và các công việc của Công ty thuộc sự quản lý
hay chỉ đọa thực hiện của hội đồng quản trị.
Tổng giám đốc: là người chịu trách nhiệm trước Hội Đồng quản trị, thực hiện các
nghị quyết trước Hội Đồng quản trị, kế hoạch đầu tư về kinh doanh của Công ty đã được
hội đồng quản trị thông qua
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ- Lớp 34K15 trang 21
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Phương Dung
Phó tổng giám đốc: Là người giúp tổng giám đốc trong các lĩnh vực kỹ thuật và lĩnh
vực sản xuất dệ may.
thuật
cơ điện
Phòng
kỹ
thuật
công
nghiệp
dệt
Phòng
kiểm
tra chất
lượng
(QA)
Phòng
kinh
doanh
xuất
nhập
khẩu
Phòng
quản
trị đời
sống
Phòng
quản
trị đời
sống
Phòng
quản
trị đời
1
107.75
1 139.225 4.560 4,42 31.474 29,21
Nợ dài hạn 29.118 37.432 25.027 8.314 28,55 -12.405 -33,14
Vốn chủ sở hữu 50.524 52.821 57.924 2.297 4,55 5.103 9,66
Nguồn: Bảng cân đối kế toán của công ty 3 năm 2009, 2010, 2011
Nhìn vào biểu đồ ta thấy rằng vốn lưu động của công ty chủ yếu lấy từ nguồn nợ
ngắn hạn và một phần được bổ sung từ nguồn vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn. Tỷ trọng nợ
ngắn hạn luôn ở mức cao và có xu hướng tăng dần qua các năm. Năm 2010, nợ ngắn hạn
của công ty chỉ tăng nhẹ 4.560 triệu so với năm 2009 nhưng đến năm 2011 khoản mục
này đã tăng thêm đến 31.474 triệu. Trong khi đó, công ty lại không hề có kế hoạch mở
rộng quy mô hoạt động sản xuất nên việc tăng đột biến nợ ngắn hạn vào cuối năm 2011
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ- Lớp 34K15 trang 23
0
50,000
100,000
150,000
200,000
250,000
Triệu đồng
năm 2009 năm 2010 năm 2011
Biểu đồ 2: Nguồn hình thành vốn lưu động
Vốn chủ sở hữu
Nợ dài hạn
Nợ ngắn hạn
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Phương Dung
là một dấu hiệu không tốt cho vấn đề sử dụng vốn lưu động tại công ty. Để hiểu thêm
nguyên nhân gây tăng khoản mục nợ ngắn hạn ta đi xem xét cơ cấu nợ ngắn hạn như sau:
2.2.2 Cơ cấu nợ ngắn hạn:
Bảng 3: Cơ cấu nợ ngắn hạn của công ty (đvt: triệu vnđ)
1.475
-35, 31 -2.668 -98,69
6.Chi phí phải trả 1.126 1,09 933 0.87 2.196 1,58 -192 -17,10 1.262 135,29
7.Các khoản phải trả,
phải nộp ngắn hạn
khác
2.064 2,00 1.609 1.49 1.234 0,89 -454 -22,02 -376 -23,35
8.nợ ngắn hạn 103.192 100
107.75
2
100
139.22
6
100 4.560 4,42 31.474 29,21
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Phương Dung
vòng 3 năm qua. Trong khi đó, khoản phải trả người bán và người mua trả tiền trước chỉ
chiếm một tỷ trọng rất nhỏ (chưa đến 5%). Ngoài ra, cơ cấu nợ ngắn hạn còn phân bổ vào
các khoản khác như: các khoản phải nộp Nhà Nước, chi phí phải trả, phải trả người lao
động….nhưng hầu như là không đáng kể.
Ở các doanh nghiệp khác, cơ cấu nợ ngắn hạn thường tập trung vào khoản tín dụng
thương mại với người bán. Nhưng ở công ty dệt may 29/3, khoản mục này mặc dù có
tăng qua các năm nhưng so về tỷ trọng trong tổng nợ ngắn hạn vẫn ở mức rất thấp. Công
ty dệt mạy 29/3 với phương châm luôn đặt chữ tín hàng đầu trong quan hệ buôn bán với
đối tác nên thường ít chậm trễ trong việc trả nợ người bán. Thêm vào đó, trong ba năm
gần đây, với sự biến động giá và khan hiếm nguồn cung nguyên vật liệu trên thế giới nên
để không làm gián đoạn quá trình sản xuất, công ty buộc lòng phải rút ngắn thời hạn phải
trả người bán, dẫn đến khả năng chiếm dụng vốn kém. Khoản mục người mua trả tiền
trước năm 2010 tăng đột biến lên 385.75 % so với năm 2009 ứng với mức tăng là 572
triệu; chủ yếu là từ các đối tượng khách hàng mới, tiềm năng. Nhưng đến năm 2011
khoản mục này đã giảm xuống 57.91% còn 303 triệu.