độc quyền và những tổn thất phúc lợi do độc quyền gây ra - Pdf 21

I Độc quyền thường
1.1 Khái niệm:
Độc quyền thường là trạng thái thị trường chỉ có duy nhất một
người bán và sản xuất ra sản phẩm không có loại hàng hóa nào
thay thế gần gũi. Mọi quyết định của nhà độc quyền về mặt sản
lượng đều có ảnh hưởng đến giá cả thị trường.
Một ngành được xem là độc quyền hoàn toàn khi hội đủ 2
điều kiện:
 Đối thủ cạnh tranh không thể gia nhập ngành.
 Không có những sản phẩm thay thế tương tự.
1.2 Nguyên nhân xuất hiện độc quyền
- Là kết quả của quá trình cạnh tranh. Những doanh nghiệp nào
có những quyết định kinh doanh sai lầm sẽ bị những doanh nghiệp
khác làm ăn hiệu quả hơn thôn tính, chiếm lĩnh thị phần và rốt
cuộc sẽ bị đào thải. Trong trường hợp cực đoan nhất, cạnh tranh
tự do đã để lại một doanh nghiệp duy nhất trên thị trường và
doanh nghiệp đó đương nhiên có được vị thế độc quyền.
- Do được chính phủ nhượng quyền khai thác thị trường. Với
những ngành được coi là chủ đạo của quốc gia (quốc phòng hay
công nghiệp sản xuất vũ khí), chính phủ thường tạo cho nó một cơ
chế có thể tồn tại dưới dạng độc quyền nhà nước.
- Do chế độ bản quyền đối với phát minh, sáng chế và sở hữu trí
tuệ. Những qui định này đã tạo cho người có bản quyền một vị thế
độc quyền lớn.
- Do sở hữu được một nguồn lực đặc biệt. Chẳng hạn, Nam Phi
có một lợi thế gần như độc quyền về khai thác và bán kim cương
vì những mỏ kim cương lớn nhất chủ yếu tập trung tại đây.
- Do có khả năng giảm giá thành khi mở rộng sản xuất.
1.3 Tổn thất phúc lợi do độc quyền thường gây ra
Hình1.1: Độc quyền thường
Trong đó MC: chi phí biên.

I
P
B
B
O
Q
Q
E
E
P
A
=P
E
MC=AC
Tổn thất phúc lợi do độc
quyền
A
Q
A
Vậy thặng dư người tiêu dùng đã mất đi một phần là
“P
B
BEP
E
”. Trong đó, P
B
BP
A
A là lợi nhuận độc quyền, tức phần
lợi nhuận mà người sản xuất được hưởng, phần còn lại không ai

quyền tự nhiên sẽ giảm dần khi qui mô sản xuất mở rộng, do đó
đường chi phí biên MC cũng đi xuống và luôn nằm dưới đường
AC. Nếu nhà độc quyền tự nhiên không bị điều tiết, họ sẽ sản xuất
tại Q
1
là nơi MR=MC theo nguyên tắc thông thường và đặt giá tại
P
1
. Lợi nhuận siêu ngạch mà hãng nhận được là hình chữ nhật
P
1
EGF.
Mức sản lượng Q
1
này không hiệu quả, mức hiệu quả phải đạt
tại Q
0
ở đó P=MC hay MB=MC. Nhưng nếu đặt giá ở P
0
thì một
khó khăn đặt ra là tại Q
0
, mức giá (P
0
) thấp hơn chi phí sản xuất
trung bình. Như vậy, hãng không đủ bù đắp các chi phí sản xuất
và không thể tồn tại được trong thị trường. Tổng mức lỗ của hãng
khi sản xuất tại mức sản lượng này sẽ bằng chênh lệch giữa chi
phí trung bình và giá (NP
0

1
AC
MC
A
D
Định giá bằng chi phí trung bình. Có thể loại bỏ được hoàn
toàn lợi nhuận siêu ngạch của hãng độc quyền nhưng vẫn chưa đạt
tới mức sản lượng hiệu quả.
Định giá bằng chi phí biên cộng với một khoản thuế khoán.
Đạt tới mức sản lượng hiệu quả nhưng hãng độc quyền phải chịu
một khoản lỗ, có thể bù đắp bằng trợ cấp của nhà nước thông qua
thuế khoán.
Định giá hai phần. Một phần cố định để bù đắp khoản lỗ cho
hãng độc quyền khi sản xuất ở mức sản lượng hiệu quả. Phần còn
lại định giá bằng MC tính theo lượng tiêu dùng của người mua. Ví
dụ: dịch vụ viễn thông
Phân biệt giá cả. Bán cùng một loại sản phẩm tại nhiều mức
giá khác nhau cho các đối tượng khách hàng khác nhau, mặc dù
chi phí sản xuất cho hai đối tượng khách hàng này là như nhau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status