giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất-kinh doanh của công ty cổ phần giầy cẩm bình-hải dương - Pdf 21

LỜI MỞ ĐẦU
Không loại trừ bất cứ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động
sản xuất kinh doanh lại không xem sản xuất kinh doanh có hiệu quả là điều
kiện sống còn của doanh nghiệp co dù đó là doanh nghiệp công ích hay
doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp thuộc khu
vực tư nhân. Hiệu quả được xem là phương thức hữu hiệu nhất để thực hiện
mục tiêu của doanh nghiệp. Nếu các doanh nghiệp công ích hoạt động vì
mục tiêu phục vụ cộng đồng thì doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh
doanh hay doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân lại vì mục đích bao trùm
là tối đa hoá lợi nhuận. Trong chuyên đề này tôi chỉ đề cập đến doanh
nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh hay doanh nghiệp thuộc khu vực tư
nhân khi phân tích các chỉ tiêu hiệu quả.
Rõ ràng muốn tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa tiến tới hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay, công
ty phải có biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất –kinh doanh.
Thực tế đáng mừng là trong những năm gần đây các doanh nghiệp
Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả
sản xuất-kinh doanh và đã được nhiều thành tựu trông thấy. Tuy không
phải là công việc có thể giải quyết ngay được mà đòi hỏi thực hiện đồng bộ
nhiều biện pháp có hướng đích, sự phối hợp nhịp nhàng của nhiều bộ phận
và để có được sự chyển biến tích cực thì cần phải có một thời gian dài.
Từ thực tiễn đó, cùng với sự chỉ dẫn của thầy giáo-Tiến sĩ Phạm
Ngọc Linh, bác Đinh Tuấn Dũng-PGĐ công ty, và các cô chú nhân viên
của công ty cổ phần giầy Cẩm Bình, em đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp
nâng cao hiệu quả sản xuất-kinh doanh của công ty cổ phần giầy Cẩm
Bình-Hải Dương”.
Mục đích nghiên cứu của chuyên đề.
- Hệ thống hoá một số cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất-kinh doanh.
Sinh viên: Nguyễn Thị Liên Lớp KTPT 44A
- Phân tích thực trạng hiệu quả sản xuất-kinh doanh của công ty cổ
phần giầy Cẩm Bình.Từ đó đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm

được hiệu quả sản xuất-kinh doanh ở phạm vi doanh nghiệp cũng như ở
từng bộ phận của nó. Và mặc dù có sự thống nhất quan điểm cho rằng
phạm trù hiệu quả sản xuất-kinh doanh phản ánh mặt chất lượng của hoạt
động sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp song lại khó tìm thấy sự thống
nhất trong quan niệm về hiệu quả sản xuất-kinh doanh.
Khái niệm hiệu quả sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp ở đây
không phải là hiệu quả tài chính mà là hiệu quả kinh tế. Tức là ngoài việc
quan tâm đến hiệu quả tài chính còn quan tâm đến tác động của hoạt động
sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp đến nền kinh tế-xã hội nói chung.
Điều này càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết trong xu thế hiện đại ngày nay.
Trước khi đưa ra khái niệm về hiệu quả sản xuất-kinh doanh, cần tìm
hiểu xem hiệu quả kinh tế nói chung cũng như hiệu quả kinh tế của hoạt
động sản xuất-kinh doanh là gì?
Đã có sự thống nhất quan điểm cho rằng phạm trù hiệu quả kinh tế
phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh tế, song rất khó tìm thấy sự
Sinh viên: Nguyễn Thị Liên Lớp KTPT 44A
thống nhất trong quan niệm về hiệu quả kinh tế. Có quan điểm cho rằng:
“Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại
hang hoá mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hoá khác. Một nền
kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của
nó”(P.Samueleson và W.Nordhaus). Thực chất của quan điểm này đã đề
cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã
hội. Trên phương diện này, rõ ràng phân bố các nguồn lực của nền kinh tế
sao cho đạt được việc sử dụng mọi nguồn lực sản xuất trên đường giới hạn
khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả và có thể (và cần
phải) bổ sung thêm rằng quan niệm này đã đưa ra hiệu quả cao nhất (mức
hiệu quả lý tưởng) mà mỗi nền kinh tế có thể đạt được, không thể có mức
nào cao hơn. Một số quan điểm khác lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác
định bởi tỷ lệ giữa sự tăng lên của hai đại lượng kết quả và chi phí. Thực
chất các tác giả có quan niệm như thế chỉ đề cập đến hiệu quả kinh tế của

Vậy hiệu quả sản xuất-kinh doanh là gì mà các doanh nghiệp lại luôn
theo đuổi? Câu hỏi này sẽ được làm rõ trong phần khái niệm, bản chất hiệu
quả sản xuất-kinh doanh và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất-
kinh doanh.
2.Khái niệm hiệu quả sản xuất-kinh doanh
2.1.Khái niệm hiệu quả sản xuất.
2.2.Khái niệm hiệu quả kinh doanh.
Trước khi đi vào nội dung của khái niệm hiệu quả kinh doanh, cần
điểm qua đôi chút về khái niệm và nhiệm vụ của hoạt động kinh doanh.
Hoạt động kinh doanh, theo luật định, là việc thực hiện một, một số
hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, sản xuất, chế biến, các hoạt
động thương mại thuần tuý và các hoạt động cung cấp dịch vụ.
Hoạt động kinh doanh có thể được tiếp cận theo nhiều cách khác
nhau, chẳng hạn:
Sinh viên: Nguyễn Thị Liên Lớp KTPT 44A
• Theo tính chất của hoạt động chúng ta có hoạt động sản xuất (sản
phẩm hoặc dịch vụ).
• Theo bản chất kinh tế, chúng ta có thể có các doanh nghiệp công
nghiệp, thương nghiệp, nông nghiệp, tài chính,…
Do hoạt động kinh doanh có nội dung rất rộng, trong đó sản xuất lại là một
nội dung lớn nên trong chuyên đề này em đã tách nội dung sản xuất ra
thành một mảng nội dung phân tích riêng để làm rõ hơn bản chất hiệu quả
sản xuất-kinh doanh.
Hoạt động sản xuất-kinh doanh nhằm mục đích tạo ra của cải vật
chất cho xã hội và tạo ra lọi nhuận cho các chủ thể tham gia hoạt động sản
xuất-kinh doanh. Bản chất của hoạt động này là tạo ra giá trị cho các loại
sản phẩm hoặc dịch vụ. Giá trị của sản phẩm và dịch vụ được tạo ra nhờ
vào các giá trị sử dụng cho phép thoả mãn các nhu cầu khác nhau của
khách hàng. Những nhu cầu này có thể mang tính hữư hình (làm sạch quần
áo, vận chuyển hàng hoá từ địa điểm này đến địa điểm khác,…) và cũng có

chuẩn để phản ánh hiệu quả của mỗi chỉ tiêu.
Có nhiều phương pháp để xác định tiêu chuẩn hiệu quả. Trong thực
tế thì người ta hay sử dụng phương pháp tính trung bình để tính giá trị
trung bình của mỗi chỉ tiêu hiệu quả cụ thể của một ngành hoặc của nền
kinh tế quốc dân được coi là tiêu chuẩn hiệu quả của chỉ tiêu đó.
2.Các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất.
2.1 Hiệu quả sử dụng lao động
Lao động là nhân tố sáng tạo trong kinh doanh, số lượng và chất
lượng lao động là nhân tố quan trọng tác động đến hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng lao động được biểu hiện ở các chỉ tiêu
năng suất lao động, mức sinh lời của lao động và hiệu suất tiền lương.
Sinh viên: Nguyễn Thị Liên Lớp KTPT 44A
2.1.1 Năng suất lao động
- Năng suất lao động bình quân của thời kì tính toán:
AP
N
= (1)
Với AP
N
: năng suất lao động bình quân của thời kỳ tính toán (hiện
vật, giá trị).
Q: Sản lượng đo bằng đơn vị hiện vật hay giá trị.
AL: Số lao động bình quân.
Thời gian của một thời kỳ tính toán thường là một năm. Năng suất
lao động năm chịu ảnh hưởng lớn của việc sử dụng thời gian lao động trong
năm. Số ngày làm việc trong năm, số giờ làm việc trong ngày và năng suất
bình quân của mỗi giờ. Vì vậy, năng suất lao động bình quân năm còn được
tính cho các khoảng thời gian ngắn hơn.
- Năng suất lao động bình quân/giờ
AG

: Hiệu suất tiền lương của thời kỳ tính toán
ΣTL: Tổng quỹ tiền lương và tiền thưởng có tính chất tiền
lương trong kỳ.
Hiệu suất tiền lương tăng lên khi tốc độ tăng năng suất lao động lớn
hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân.
2.2.Hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu
2.2.1.Vòng luân chuyển nguyên vật liệu
SV
NVL
= (5)
Với SV
NVL
: số vòng luân chuyển nguyên vật liệu trong kỳ
NVL
SD
: Giá vốn nguyên vật liệu đã dùng
NVL
DT
: Giá trị nguyên vật liệu dự trữ của kỳ tính toán
2.2.2.Vòng luân chuyển vật tư trong sử dụng dở dang
SV
SPDD
= (6)
Với SV
SPDD
: số vòng luân chuyển vật tư trong sản phẩm dở dang
Z
HHCB
: tổng giá trị thành hàng hoá đã chế biến
VT

-Doanh lợi của toàn bộ vốn kinh doanh :
D
VKD
(%) = (7)
Với :
D
VKD
(%): Doanh lợi của toàn bộ vốn kinh doanh của một thời kỳ
Π
R
: lãi ròng thu được của các thời kỳ tính toán
TL
W
: Lãi trả vốn vay của thời kỳ đó
V
KD
:Tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Sinh viên: Nguyễn Thị Liên Lớp KTPT 44A
-Doanh lợi vốn tự có:
D
VTC
(%) = (8)
Với:
D
TC
: Doanh lợi vốn tự có của một thời kỳ tính toán
V
TC
: Tổng vốn tự có của thời kỳ đó
Nhiều nhà quản trị học cho rằng phải xem xét xem liệu chỉ tiêu

thu bán hàng có thể sử dụng chỉ tiêu giá trị tổng sản lượng của thời kỳ thay
Sinh viên: Nguyễn Thị Liên Lớp KTPT 44A
cho chỉ tiêu doanh thu bán hàng, chỉ tiêu chi phí kinh doanh của thời kỳ
thay cho chỉ tiêu chi phí kinh doanh của sản phẩm tiêu thụ trong kỳ.
-Hiệu quả kinh doanh theo tiềm năng của một thời kỳ:
H
TN
(%) = (11)
Với:
H
TN
: hiệu quả kinh doanh tính theo tiềm năng
TC
KDTT
: chi phí kinh doanh thực tế phát sinh của kỳ
TC
KDPĐ
: chi phí kinh doanh phải đạt.
Chi phí kinh doanh phải đạt của một thời kỳ xác định thường được
xác định trên cơ sở các mức tiên tiến (chi phí kinh doanh định mức) hoặc
chi phí kinh doanh kế hoạch của thời kỳ đó.
Cần chú ý rằng các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp được sử
dụng để đánh giá hiệu quả kinh doanh ở phạm vi toàn doanh nghiệp cũng
như từng đơn vị bộ phận trên trong doanh nghiệp. Các chỉ tiêu trên cũng
được xác định dễ dàng, đặc biệt ở các đơn vị bộ phận hạch toán độc lập.
Tiêu chuẩn hiệu quả tốt nhất của các chỉ tiêu trên là giá trị bình quân đạt
được của ngành, của một khu vực hay của quốc tế trong một thời kỳ đánh giá.
Sinh viên: Nguyễn Thị Liên Lớp KTPT 44A
3.2 Một số chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh bộ phận
3.2.1.Nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

Chỉ tiêu này cho biết một đồng giá trị TSCĐ trong kỳ tạo ra bao
nhiêu đồng lợi nhuận, thể hiện trình độ sử dụng tài sản cố định, khả năng
sinh lời của tài sản cố định trong sản xuất kinh doanh.
(1/H
TSCĐ
): chỉ tiêu này cho biết giá trị tài sản cố định cần thiết để tạo
ra một đồng lãi.
Phân tích chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản cố định để xác định tính
hiệu quả và nguyên nhân của việc sử dụng không có hiệu quả TSCĐ.
Sinh viên: Nguyễn Thị Liên Lớp KTPT 44A
Thông thường, trước hết là do đầu tư TSCĐ quá mức cần thiết, đầu tư vào
TSCĐ không dùng đến, sử dụng TSCĐ không hết công suất.
_Hiệu quả sử dụng vốn lưu động:
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của một thời kỳ tính toán được xác
định theo công thức:
H
VLĐ
= (14)
Với:
H
VLĐ
: hiệu quả sử dụng vốn lưu động
V

: vốn lưu động bìn quân của thời kỳ tính toán
_Số vòng luân chuyển của vốn lưu động:
SV
VLĐ
= (15)
Với:

: sản lượng thực tế đạt được
Sinh viên: Nguyễn Thị Liên Lớp KTPT 44A
Q
TK
: sản lượng thiết kế
Cần chú ý rằng nhiều chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp được
tính toán và sử dụng không chỉ ở phạm vi doanh nghiệp mà còn ở phạm vi
các bộ phận nhỏ bên trong doanh nghiệp. Việc phân tích hệ thống chỉ tiêu
này xuyên suốt các cấp khác nhau trong doanh nghiệp sẽ xác định được
hiệu quả kinh doanh ở từng cấp, từng bộ phận.
II.CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SẢN XUẤT-KINH
DOANH
1. Các nhân tố bên trong.
1.1 Lực lượng lao động.
Người ta thường nhắc tới luận điểm: ngày nay khoa học kĩ thuật
công nghệ đã trở thành lực lượng lao động trực tiếp, để tăng hiệu quả sản
xuất của các doanh nghiệp. Lực lượng lao động này bao gồm: lực lượng
nghiên cứu và phát triển, lực lượng lao động sản xuất, lực lượng lao động
quản trị. Cả ba lực lượng trên đều đóng vai trò quyết định đến hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Áp dụng kĩ thuật tiên tiến là điều kiện tiên quyết để tăng hiệu quả
sản xuất của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, cần thấy rằng máy móc dù tối
tân đến đâu cũng là do sự sáng tạo của con người mà có. Máy móc dù có
hiện đại thì cũng phải phù hợp với trình độ sử dụng của người lao động.
Ngày nay, sự phát triển của khoa học kĩ thuật đã thúc đẩy sự phát
triển của nền kinh tế tri thức. Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức là
hàm lượng khoa học kết tinh trong sản phẩm( dịch vụ) rất cao. Nó đòi hỏi
lực lượng lao động phải thực sự là lực lượng rất tinh nhuệ, có trình độ khoa
học kĩ thuật cao. Điều này càng khẳng định vai trò ngày càng quan trọng
của lực lượng lao động đối với việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

1.3 Nhân tố quản trị doanh nghiệp.
Có thể khẳng định rằng, quản trị đóng vai trò quan trọng đối với
việc đảm bảo và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
Sinh viên: Nguyễn Thị Liên Lớp KTPT 44A
Việc xác định một hướng đi đúng đắn là nhân tố đầu tiên và quan
trọng nhất quyết định sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp.
Muốn tồn tại và phát triển doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh,
chiếm ưu thế về chất lượng, mẫu mã sản phẩm, giá cả và tốc độ cung ứng.
Điều này phụ thuộc chủ yếu vào khả năng quản trị của doanh nghiệp. Bên
cạnh đó việc khai thác và thực hiện phân bổ các nguồn lực sản xuất cũng là
một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Thật vậy, ở mọi doanh nghiệp kết quả và hiệu quả hoạt động đều phụ thuộc
rất lớn vào trình độ chuyên môn của đội ngũ các nhà quản trị cũng như cơ
cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp và việc xác định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cá
nhân và thiết lập mối quan hệ giữa các bộ phận trong cơ cấu tổ chức đó.
1.4. Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin.
Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật đặc
biệt là công nghệ thông tin, nền kinh tế thị trường được coi như là nền kinh
tế thông tin. Để đạt được thành công trong kinh doanh, doanh nghiệp phải
cần rất nhiều thông tin chính xác về nhu cầu thị trường, về công nghệ kỹ
thuật, về đối tác, đối thủ cạnh tranh cũng như những thông tin về kinh
nghiệm thành công hay thất bại của các doanh nghiệp khác trong và ngoài
nước, các chính sách kinh tế của Nhà nước và của các nhà nước khác có
liên quan. Việc nắm bắt những thông tin chính xác, xử lý và sử dụng những
thông tin đó sẽ giúp cho doanh nghiệp xác định được phương hướng kinh
doanh, xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn cũng như hoạch định các
chương trình sản xuất ngắn hạn.
Do đó, thông tin,trao đổi và xử lý thông tin là một điều kiện quan
trọng đem lại hiệu quả kinh doanh cao, tổ chức khoa học hệ thống thông tin

Sinh viên: Nguyễn Thị Liên Lớp KTPT 44A
kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó việc tạo ra môi trường pháp luật lành
mạnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiến hành hàng loạt
các hoạt động kinh doanh của mình bên cạnh việc điều chỉnh các hoạt động
kinh tế vĩ mô theo hướng không chỉ chú ý đến kết quả, hiệu quả riêng mà
còn chú ý đến lợi ích của các thành viên khác trong xã hội. Hơn nữa, nó
đảm bảo tính bình đẳng của mọi loại hình doanh nghiệp, tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp cạnh trah một cách lành mạnh. Mặt khác, các doanh
nghiệp cũng phải có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh mọi quy định của
pháp luật khi kinh doanh. Đặc biệt, khi kinh doanh trên thị trường quốc tế,
doanh nghiệp phải nắm chắc luật pháp của nước sở tại và tiến hành các
hoạt động kinh doanh trên cơ sở trên cơ sở tôn trọng luật pháp của nước đó.
Tính nghiêm minh của pháp luật thể hiện trong môi trường kinh
doanh, thực tế mức độ nào cũng có tác động mạnh mẽ đến kết quả và hiệu
quả kinh doanh. Kinh doanh sẽ đem lại hiệu quả tích cực nếu mọi thành
viên đều tuân thủ pháp luật. Nếu ngược lại, nó sẽ dẫn đến những thiệt hại
rất lớn về kinh tế, làm xói mòn đạo đức xã hội.
2.2.Môi trường kinh tế .
Môi trường kinh tế bao gồm các chính sách đầu tư, phát triển kinh tế,
chính sách cơ cấu… là nhân tố bên ngoài tác động rất lớn đến hiệu quả
kinh doanh của từng doanh nghiệp. Các chính sách kinh tế vĩ mô này tạo ra
sự ưu tiên hay sự kìm hãm phát triển của từng ngành, từng vùng kinh tế cụ
thể, do đó tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của các
doanh nghiệp thuộc ngành, vùng kinh tế nhất định. Bên cạnh đó, việc tạo ra
môi trường kinh doanh lành mạnh, các cơ quan quản lý Nhà nước về kinh
tế làm tốt công tác dự báo để điều tiết đúng đắn các hoạt động đầu tư, hạn
chế độc quyền, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, việc đưa ra các chính
sách thuế phù hợp với trình độ kinh tế và đảm bảo tính công bằng, tác động
mạnh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
2.3.Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng.

+Trong đó số lao động nữ chiếm 1.485/1.748 = 84,9% tổng số LĐ
+Lao động nam chiếm:263/1.748=15,1 % tổng số LĐ
Công ty được xây dựng nằm cạnh quốc lộ 5A nối liền với thành phố
Hà Nội với thành phố Hải Phòng, thuộc địa bàn thị trấn Lai Cách, huyện
Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, nên rất thuận tiện cho việc nắm bắt các thông
tin kinh tế cần thiết. Công ty với tổng diện tích nhà máy 56.206 m2. Phần
đường đi bộ khoảng 9000 m2, diện tích đất trồng cây xanh tạo cảnh quan
bóng mát chiếm tỷ lệ 10% tổng diện tích mặt bằng của công ty.
2. Quá trình phát triển của công ty cổ phần giầy Cẩm Bình - Hải Dương
 Giai đoạn I ( Năm 1988-1990 ):
Sinh viên: Nguyễn Thị Liên Lớp KTPT 44A
Phương án sản phẩm của xí nghiệp là sản xuất kinh doanh hàng dệt
khăn mặt, khăn tắm xuất khẩu sang các nước Đông Âu với quy mô nhỏ,
công nghệ, thiết bị lạc hậu ( với hơn 200 máy dệt vải đã qua sử dụng từ
những năm 1960 của nhà máy dệt 8/3 được cải tiến để dệt khăn mặt, khăn
tắm ). Cùng một số máy chuẩn bị ( là máy thủ công, bán cơ khí) cán bộ
công nhân cón rất hạn chế, tổng số lao động có 255 người, sản xuất kinh
doanh kém hiệu quả, trong khi đó vốn lưu động chỉ có: 177.000.000đ, vốn
cố định chỉ có: 834.000.000đ.
 Giai đoạn II ( Năm 1991-5/1995 ):
Sau khi các nước Đông Âu có biến động, mặt khác để phú hợp với
cơ chế mới ( chuyển từ hành chính quan liêu bao cấp sang hạch toán kinh
doanh theo cơ chế thị trường). Từ năm 1991-5/1995 Công ty lại chuyển đổi
từ sản xuất kinh doanh khăn mặt, khăn tắm xuất khẩu sang sản xuất kinh
doanh mặt hàng may mặc quần áo xuất khẩu với tên gọi : “ Công ty dệt
may Cẩm Bình” song vẫn trong vòng luẩn quẩn, vẫn không thoát ra khỏi
những khó khăn của ngành may mặc nói chung vào thời điểm này, nhất lại
là đơn vị lần đầu tiên chân ướt chân ráo bước vào ngành may mặc.
 Giai đoạn III: (5/1995-30/9/2000):
Xuất phát từ những đặc điểm khó khăn trên, cộng với ngành sản xuất

tổng thể nhãn tiên,một điều thấy rất rõ cán bộ,CNVC,lao động Công ty
luôn có việc làm ổn định, đời sống người lao động luôn được đảm bảo về
vật chất lẫn tinh thần, thu nhập bình quân hàng năm của người lao động :
trên 600.000đ/người/tháng, đó là mức thu nhập khá trong khu vực.Thêm
một sự thật hiển nhiên là sau 03 năm cổ phần hoá,lợi tức được chia cho cổ
đông là :15%,ngoài ra còn có tích luỹ để đầu tư mới từ 10323 triệu đồng
(năm 2000)lên 9.300 triệu đồng(năm 2003).từ chổ nhà xưởng lúc đầu chỉ
có:6.800m2 đến nay đã là :21.340m2.tiếp tục tăng cường mở rộng thị
trường đối tác (kể cả trong và ngoài nước).do đó cán bộ,cvnc,lao động ngày
càng thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của đảng uỷ - HĐQT-BGĐ công ty,từ
Sinh viên: Nguyễn Thị Liên Lớp KTPT 44A
đó mang hết sức mình phấn đấu,xây dựng công ty ngày một không ngừng
lớn mạnh.
-Tên doanh nghiệp :Công ty cổ phần giày Cẩm Bình-Tỉnh Hải Dương
-Tên viết tắt :Công ty cổ phần giày Cẩm Bình
-Tên giao dịch:Cam Binh shoes join-stock Company
-Địa chỉ:Thị trấn Lai Cách -Cẩm Giàng-Hải Dương
-Điện thoại(0320)786414-(0320)785416
-Fax(0320)786104
-Email: CamBinhShoes [email protected]
(Công ty cổ phần giày Cẩm Bình chính thức đi vào hoạt động từ ngày
06/10/2000).
II.Các đặc điểm kinh tế kĩ thuật có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty.
1. Đặc điểm về sản phẩm và thị trường
a. Đặc điểm về sản phẩm
Sản phẩm của công ty cổ phần giầy Cẩm Bình là giầy thể thao xuất
khẩu,dép sandal. Sản phẩm được sản xuất chủ yếu theo đơn đặt hàng của
nước ngoài như Đài Loan, Hồng Kông, Đức, Mĩ, Ý…vì vậy các loại sản
phẩm này đòi hỏi tiêu chuẩn khá cao, chất lượng phải đảm bảo, mẫu mã

sang các nước khác theo đơn đặt hàng của khách hàng.
Đối với thị trường xuất khẩu: Việc xuất khẩu sản phẩm ra nước
ngoài do phòng kinh doanh xuất nhập khẩu phụ trách. Công ty sẽ xuất giao
hàng dựa trên các hợp đồng kí kết với nước ngoài. Công ty có quan hệ hợp
đồng với một số Công ty khác ở các nước như: Đài Loan, Hông Kông,
Trung quốc. Những công ty này đóng vai trò trung gian và công ty cổ phần
Giầy Cẩm Bình nhận được các đơn hàng của nước ngoài chủ yếu thông qua
các công ty này. Theo như hợp đồng, Công ty sẽ xuất hàng cho bên trung
gian và bên trung gian sẽ thanh toán tiền hàng cho công ty sau khi đã nhận
hàng. Nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm do công ty mua trong nước
Sinh viên: Nguyễn Thị Liên Lớp KTPT 44A

Trích đoạn II.MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GIẦY CẨM Giảm chi phí để hạ giá thành sản phẩm Giải pháp về vốn Xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO Đẩy mạnh hoạt động liên kết kinh tế với các đối tác trong và ngoài nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status