Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty cổ phần Liên Hợp Thực Phẩm - Pdf 29

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
MỞ ĐẦU
Vốn là một yếu tố cần thiết và quan trọng để tiến hành sản xuất kinh doanh
đồng thời nó cũng là tiền đề để các doanh nghiệp tồn tại, phát triển, đứng vững trong
cơ chế thị trường. Đối với các doanh nghiệp, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung chế
độ cấp phát và giao nộp sản phẩm đã không chú trọng đến vai trò của vốn cũng như
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Trong tình hình mới, cùng với sự chuyển đổi cơ chế
kinh tế là quá trình mở rộng quyền tự chủ, giao vốn cho các doanh nghiệp tự quản lý
và sử dụng, đòi hỏi các doanh nghiệp bảo toàn và phát triển vốn. Điều này đã tạo nên
những cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh
doanh. Bên cạnh những doanh nghiệp kinh doanh năng động thích nghi với cơ chế thị
trường đã sử dụng vốn có hiệu quả còn không ít những doanh nghiệp gặp khó khăn
bởi việc sử dụng vốn kém hiệu quả. Vì vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đối với các
doanh nghiệp là vấn đề cấp bách hiện nay. Công ty cổ phần Liên Hợp Thực Phẩm là
một doanh nghiệp đã tự khẳng định mình bằng các kết quả sản xuất kinh doanh mà
Công ty đạt được trong thời gian qua. Công ty đã đạt được những thành tựu nhất định
trong quá trình đổi mới.Việc tăng cường nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề
đang được Công ty quan tâm.
Với những ý nghĩ trên, qua thời gian thực tập tại Công ty cổ phần Liên Hợp
Thực Phẩm em đã chọn chuyên đề tốt nghiệp là : "Giải pháp nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn của Công ty cổ phần Liên Hợp Thực Phẩm".
Kết cấu chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1 : Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đối với các doanh
nghiệp.
Chương 2 : Thực trạng sử dụng vốn của Công ty cổ phần Liên Hợp Thực
Phẩm thời gian qua.
Chương 3 : Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty
cổ phần Liên Hợp Thực Phẩm.

1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

vụ sản xuất kinh doanh.
Xét về hình thái vật chất vốn sản xuất bao gồm ba yếu tố cơ bản: tư liệu lao
động, đối tượng lao động và lao động. Đối tượng lao động và lao động tạo nên thực tế

3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
sản phẩm, còn tư liệu lao động là phương tiện chuyển hoá đối tượng lao động thành
thực tế sản phẩm.
Quá trình tái sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện liên tục, do
vậy vốn của doanh nghiệp được vận động không ngừng tạo ra sự tuần hoàn và chu
chuyển vốn. Sự vận động của vốn sản xuất kinh doanh theo sơ đồ :
TLLĐ
T H SX H' T'
ĐTLĐ
(T' > T)
Bắt đầu là hình thái vốn tiền tệ sang hình thái vốn sản xuất (TLLĐ, ĐTLĐ).
Sau quá trình sản xuất vốn chuyển hoá thành hình thái vốn hàng hoá. Cuối cùng trở
lại hình thái vốn tiền tệ.
Do sự luân chuyển không ngừng của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
nên cùng một lúc vốn của doanh nghiệp tồn tại dưới các hình thái khác nhau trong quá
trình sản xuất kinh doanh.
2. Phân loại vốn sản xuất:
Căn cứ vào phương thức chu chuyển khác nhau về mặt giá trị của vốn sản xuất,
có thể chia nó thành 2 loại : vốn cố định và vốn lưu động.
2.1. Vốn cố định:
2.1.1. Khái niệm và đặc điểm:
Vốn cố định là một bộ phận của vốn sản xuất, là hình thái giá trị của những tư
liệu lao động đang phát huy tác dụng trong sản xuất.
Vốn cố định là biểu hiện thành giá trị của những máy móc, thiết bị, nhà
xưởng... tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng về mặt giá trị của nó lại

quản lý khác nhau nhưng chúng đều giống nhau ở giá trị ban đầu (lớn) và thời gian
thu hồi vốn (trên 1 năm).
2.1.2 - Cơ cấu vốn cố định:

5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tài sản cố định có nhiều loại, nhiều thứ, có đặc điểm và yêu cầu quản lý rất
khác nhau. Để thuận tiện cho công tác quản lý và hạch toán tài sản cố định, cần thiết
phải phân loại tài sản cố định. Phân loại tài sản cố định là sắp xếp tài sản cố định
thành từng loại, từng nhóm theo những đặc trưng nhất định như theo hình thái biểu
hiện, theo nguồn hình thành, theo công dụng và tình hình sử dụng…
Vốn cố định của doanh nghiệp được biểu hiện bằng hình thái giá trị của các loại
tài sản cố định sau đang dùng trong sản xuất kinh doanh:
a. Tài sản cố định vô hình :
Là các TSCĐ không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do
doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất kinh doanh. Thuộc về TSCĐ vô hình
gồm có: Quyền sử dụng đất; Quyền phát hành; Bản quyền, bằng sáng chế; Nhãn hiệu
hàng hóa; Phần mềm máy vi tính; Giấy phép và giấy nhượng quyền; TSCĐ vô hình
khác.
b. Tài sản cố định hữu hình:
Là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể. Thuộc về loại này gồm có: Nhà
cửa vật kiến trúc; Máy móc thiết bị; Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn; Thiết bị,
dụng cụ dùng cho quản lý; Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm; Tài
sản cố định hữu hình khác.
Cơ cấu vốn cố định chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố trong đó chủ yếu là các
nhân tố: Đặc điểm về kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp, sự tiến bộ kỹ thuật, trình độ
tổ chức sản xuất, điều kiện địa lý tự nhiên, sự phân bố sản xuất. Khi xây dựng và cải
tiến cơ cấu vốn cố định cần chú ý xem xét tác động ảnh hưởng của các nhân tố này.
2.1.3 - Quản lý vốn cố định:
a. Hao mòn và khấu hao tài sản cố định:

đó được chuyển dịch dần vào giá thành sản phẩm gọi là khấu hao tài sản cố định. Bộ
phận giá trị này là một yếu tố của chi phí sản xuất và cấu thành trong giá thành sản
phẩm được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ gọi là tiền khấu hao tài sản cố định. Sau
khi sản phẩm hàng hoá được tiêu thụ, số tiền khấu hao được trích lại và tích luỹ thành
quĩ khấu hao tài sản cố định.

7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Khấu hao có ý nghĩa quan trọng đối với bảo toàn, phát triển vốn và kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh. Thực hiện khấu hao đúng, đủ hao mòn thực tế giá trị tài
sản cố định không những phản ánh đúng thực chất kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh mà còn đảm bảo quĩ khấu hao, duy trì được số vốn bỏ ra.
b. Kế hoạch khấu hao tài sản cố định:
Kế hoạch khấu hao tài sản cố định hàng năm là một nội dung của công tác kế
hoạch tài chính. Nó là biện pháp quan trọng để quản lý vốn cố định trên phương diện
bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định. Đồng thời nó là căn cứ để xây
dựng các quyết định tài chính về đầu tư.
Khi lập kế hoạch khấu hao tài sản cố định trước hết cần xác định tổng giá trị tài
sản cố định hiện có vào đầu năm kế hoạch, cơ cấu theo nguồn hình thành của giá trị
đó và phạm vi tài sản cần tính khấu hao. Tiếp theo căn cứ vào kế hoạch đầu tư dài hạn
và tình hình thực hiện kế hoạch để dự kiến điều chỉnh tăng giảm tài sản cố định năm
kế hoạch. Sau đó xác định tổng giá trị bình quân tài sản cố định cần trích khấu hao
trong năm kế hoạch. Từ đó tính được số tiền trích khấu hao năm kế hoạch.
Việc tính khấu hao TSCĐ có thể tiến hành theo nhiều phương pháp khác nhau,
theo quy định hiện hành (QĐ số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài
chính) có ba phương pháp khấu hao:
- Phương pháp khấu hao đường thẳng.
- Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh.
- Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm.
Căn cứ vào khả năng đáp ứng các điều kiện áp dụng quy định cho từng phương

vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất được liên tục (nguyên, nhiên, vật
liệu...), một bộ phận khác là những vật tư đang trong quá trình chế biến (sản phẩm
đang chế tạo, bán thành phẩm). Hai bộ phận này biểu hiện dưới hình thái vật chất gọi
là tài sản lưu động trong sản xuất.
Mặt khác, quá trình sản xuất của doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình lưu
thông. Do đó hình thành một số khoản hàng hoá và tiền tệ, các khoản phải thu... trong
khâu lưu thông được gọi là tài sản lưu động trong lưu thông.

9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Như vậy vốn lưu động là một bộ phận của vốn sản xuất, là biểu hiện bằng tiền
của toàn bộ giá trị tài sản lưu động trong sản xuất và tài sản lưu động trong lưu thông
nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp thường xuyên, liên tục.
Vốn lưu động được chuyển hoá qua nhiều hình thái khác nhau, bắt đầu từ hình
thái tiền tệ sang hình thái vật tư, hàng hoá và cuối cùng trở lại hình thái tiền tệ ban
đầu. Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục cho nên vốn lưu
động cũng tuần hoàn không ngừng có tính chất chu kỳ thành chu chuyển của tiền vốn.
Vốn lưu động thường xuyên có các bộ phận tồn tại cùng một lúc dưới các hình thái
khác nhau trong các lĩnh vực sản xuất và lưu thông. Thông qua tình hình luân chuyển
vốn lưu động có thể đánh giá một cách kịp thời đối với các mặt mua sắm dự trữ, sản
xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp. Việc tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn lưu động
có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao hiêụ quả sử dụng vốn.
2.2.2 - Cơ cấu vốn lưu động:
Cơ cấu vốn lưu động là số lượng các bộ phận cấu thành vốn lưu động và mối
quan hệ tỉ lệ giữa các bộ phận đó.
Xác định cơ cấu vốn lưu động hợp lý sẽ góp phần sử dụng tiết kiệm vốn lưu
động, đảm bảo kịp thời vốn lưu động cho từng khâu. Từ đó đảm bảo duy trì quá trình
sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
* Căn cứ vào quá trình tuần hoàn và luân chuyển vốn lưu động chia làm 3 loại:
- Vốn dự trữ: Là bộ phận vốn dùng để mua nguyên, nhiên, vật liệu, phụ tùng

gây nên tình trạng ứ đọng vật tư hàng hoá, lãng phí vốn, vốn lưu động chậm luân
chuyển và phát sinh chi phí là tăng giá thành. Do đó doanh nghiệp phải xác định
lượng vốn lưu động định mức một cách đúng đắn, hợp lý để đảm bảo cho quá trình
sản xuất được tiến hành một cách liên tục, nhưng đồng thời phải tiết kiệm một cách
hợp lý.
-> Muốn xác định vốn lưu động định mức kỳ kế hoạch doanh nghiệp phải lần
lượt tính toán vốn lưu động định mức ở từng khâu (dự trữ, sản xuất, lưu thông), sau
đó tổng hợp lại thành vốn lưu động định mức kế hoạch.
* Vốn lưu động định mức ở khâu dự trữ:
Vốn lưu động định mức ở khâu dự trữ được tính toán căn cứ vào mức luân
chuyển bình quân hàng ngày và định mức số ngày dự trữ.

11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mức luân chuyển bình quân hàng ngày là giá trị bình quân của nguyên vật liệu,
nhiên liệu... bỏ vào sản xuất trong một ngày đêm, được tính bằng mức luân chuyển cả
năm (theo dự toán chi phí sản xuất) chia cho 360 ngày. Định mức số ngày dự trữ được
xác định như sau:
- Đối với nguyên vật liệu nhập khẩu ( Nhà nước độc quyền quản lý) định mức
số ngày dự trữ được cơ qua quản lý cấp trên qui định cho doanh nghiệp.
- Đối với nguyên vật liệu mua trong nước có thể sử dụng công thức sau:
Định mức Số ngày Hệ số Số ngày Số ngày Số ngày
số ngày
dự trữ
= cách nhau
giữa 2 lần
mua
x thu mua
xen kẽ
+ vận

Tổng giá thành công xưởng sản
lượng hàng hoá
Số ngày dự trữ
x định mức
thành phẩm

Định mức Tổng mức luân Hệ số Chu kỳ
vốn lưu động
cho SPDD
= chuyển cả năm của
thành phẩm (tính theo
giá thành công xưởng)
360
x sản phẩm
dở dang
x sản xuất
sản phẩm
- Vốn lưu động định mức cho nửa thành phẩm tự chế được tính theo công thức:
Định mức Tổng mức luân chuyển Số ngày Hệ số
vốn lưu động
nửa thành
phẩm tự chế
= cả năm của thành
phẩm (theo giá thành
công xưởng)
360
x định mức
dự trữ
x nửa thành
phẩm

triển vốn lưu động nhằm đảm bảo duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh, thực chất

14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
là đảm bảo cho số vốn cuối kỳ đủ mua ít nhất một lượng vật tư hàng hoá tương đương
với đầu kỳ khi giá cả tăng lên.
Để thực hiện tốt chế độ bảo toàn và phát triển vốn lưu động đòi hỏi các doanh
nghiệp phải tự bảo toàn và phát triển vốn ngay trong quá trình sản xuất kinh doanh
trên cơ sở mức giảm, tăng giá tài sản lưu động, thực tế tồn kho của các doanh nghiệp
ở các thời điểm có thay đổi về giá hàng tháng, quí, năm. Định kỳ tháng, quý, năm các
doanh nghiệp phải xác định khoản chênh lệch giá trị tài sản lưu động thực tế tồn kho ở
các khâu: Vật tư dự trữ, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang, chênh lệch tỉ giá số dư
ngoại tệ... để bổ sung vốn lưu động. Số vốn lưu động sau khi thực hiện điều chỉnh giá
tài sản lưu động ở thời điểm cuối năm là số vốn lưu động doanh nghiệp phải bảo toàn.
Số vốn lưu động
phải bảo toàn
đến cuối năm
Số vốn đã được
= giao hoặc phải
bảo toàn đầu năm
Hệ số trượt giá vốn
x lưu động của
DN trong năm
3. Nguồn hình thành vốn sản xuất:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể huy động vốn từ các
nguồn chủ yếu sau:
a. Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp:
Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp được hình thành từ hai nguồn chủ yếu sau:
- Vốn góp ban đầu khi thành lập của chủ doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp
Nhà nước vốn tự có ban đầu chính là vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước.

e. Nguồn vốn trong thanh toán:
Nguồn vốn trong thanh toán gồm:
- Các khoản phải nộp, phải trả trong doanh nghiệp: Các khoản này tuy không
lớn nhưng nó giúp doanh nghiệp giải quyết nhu cầu vốn mang tính tạm thời. Đó là các
khoản như thuế phải nộp chưa nộp, các khoản phải trả công nhân viên, người mua
ứng trước, các khoản phải trả cho các đơn vị nội bộ.
- Tín dụng nhà cung cấp: Nguồn vốn này được các doanh nghiệp khai thác
trong quan hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp. Đây là phương thức huy
động vốn tiện lợi và linh hoạt trong kinh doanh. Nó tạo ra khả năng mở rộng các quan

16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hệ hợp tác kinh doanh lâu bền. Tuy nhiên sẽ rủi ro nếu qui mô tài trợ vượt quá giới
hạn an toàn.
II. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN:
1. Khái niệm về hiệu quả:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử
dụng các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh (lao động, tư liệu lao động, đối
tượng lao động) để đạt kết quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với tổng chi phí
thấp nhất.
Cần hiểu phạm trù hiệu quả một cách toàn diện trên cả hai mặt định lượng và
định tính. Về mặt định lượng hiệu quả sản xuất kinh doanh biểu hiện ở mối tương
quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra. Nếu xét về tổng lượng chỉ đạt hiệu quả
khi kết quả lớn hơn chi phí, chênh lệch này càng lớn hiệu quả kinh tế càng cao và
ngược lại.
Về mặt định tính mức độ hiệu quả sản xuất kinh doanh cao phản ánh sự cố
gắng, nỗ lực, trình độ và khả năng sử dụng các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh
doanh. Để đánh giá chính xác, có cơ sở khoa học hiệu quả sản xuất kinh doanh cần
phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp bao gồm các chỉ tiêu tổng hợp và các chỉ
tiêu chi tiết.

Doanh thu (giá trị tổng sản lượng)
Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra 1 đồng doanh thu hoặc giá trị tổng sản lượng
cần bao nhiêu đồng vốn cố định.

18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Tỉ suất lợi nhuận vốn cố định: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định
trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
LN trước thuế (hoặc sau thuế thu nhập)
Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định = -------------------------------------------------
Số vốn cố định bình quân trong kỳ
* Các chỉ tiêu phân tích:
- Hệ số hao mòn tài sản cố định: Phản ánh mức độ hao mòn của tài sản cố định
trong doanh nghiệp so với thời điểm đầu tư ban đầu:
Số tiền khấu hao luỹ kế
Hệ số hao mòn TSCĐ = --------------------------------------------------
Nguyên giá TSCĐ ở thời điểm đánh giá
- Hiệu suất sử dụng TSCĐ: Phản ánh 1 đồng TSCĐ trong kỳ tạo ra được bao
nhiêu đồng doanh thu hoặc giá trị tổng sản lượng.
-
Doanh thu (giá trị tổng sản lượng)
Hiệu suất sử dụngTSCĐ = ------------------------------------------------
Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
- Hệ số trang bị TSCĐ cho 1 công nhân sản xuất trực tiếp: Phản ánh giá trị
TSCĐ bình quân trang bị cho 1 công nhân trực tiếp sản xuất:

Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
Hệ số trang bị TSCĐ = --------------------------------------------------
Số lượng công nhân trực tiếp sản xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status