Lời nói đầu
Trong điều kiện nền kinh tế từng bước chuyển đổi sang cơ chế thị trường,
vấn đề quan trọng hàng đầu đặt ra cho các doanh nghiệp là phải chú ý đến hiệu quả
của hoạt động sản xuất kinh doanh và thực hiện đúng các mục tiêu kinh tế - xã hội
do Nhà nước giao phó cho các doanh nghiệp. Quá trình kinh doanh ngày càng mở
rộng và sự cạnh tranh trên thương trường ngày càng gay gắt, đòi hỏi các doanh
nghiệp phải càng năng động, sáng tạo trong quá trình kinh doanh cũng như việc
phát triển sản phẩm và đáp ứng một cách tốt nhất mọi nhu cầu của khách hàng.
Đối với Hợp tác xã Cổ phần Sản xuất Vật liệu Xây dựng THANH CHÂU thì
việc tự hoàn thiện và không ngừng phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm
tạo dựng một niềm tin vững bền trong cộng đồng bằng chính chữ “TÍN” của mình,
không những đem đến cho khách hàng những sản phẩm có chất lượng cao nhất mà
doanh nghiệp còn coi đây là mục tiêu thực hiện hàng đầu để góp phần phát triển
kinh tế đất nước nói chung và thị trường vật liệu xây dựng nói riêng.
Với đề tài: “LẬP DỰ ÁN ĐẦU TƯ NHÀ MÁY SẢN XUẤT GẠCH TUYNEL
THANH CHÂU” tại Hợp Tác xã Cổ phần Sản xuất Vật liệu xây dựng THANH
CHÂU và những kiến thức về môn học Dự án Đầu tư đã được trang bị tại trường,
qua quá trình thực tập thực tế tại doanh nghiệp, em xin góp một vài ý kiến nhỏ để
góp phần trong quá trình hoàn thiện, xây dựng và phát triển của THANH CHÂU
ngày càng giàu mạnh.
Được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của Ban quản trị doanh nghiệp, sự quan
tâm chỉ bảo của giảng viên hướng dẫn Trương Văn Hào nên em đã hoàn thành được
chuyên đề tốt nghiệp này.
Với thời gian thực tập ngắn ngủi, kiến thức về môn học Dự án Đầu tư còn sơ
sài nên chuyên đề không tránh khỏi thiếu sót. Em xin chân thành tiếp nhận ý kiến
đóng góp của Quý thầy, cô và các bạn.
Xin trân trọng cảm ơn.
Trang: 1
Phần I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN
A. SỰ CẦN THIẾT PHẢI TIẾN HÀNH CÁC HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ THEO
thúc sự phát huy tác dụng theo dự kiến trong dự án), có ảnh hưởng đến sự thành bại
của công cuộc đầu tư. Mọi sự xem xét, tính toán và chuẩn bị này được thể hiện
trong dự án đầu tư. Thực chất của sự xem xét và chuẩn bị này chính là lập dự án đầu
tư. Có thể nói dự án đầu tư (được soạn thảo tốt) là kim chỉ nan, là cơ sở vững chắc,
là tiền đề cho việc thực hiện các công cuộc đầu tư đạt hiệu quả kinh tế - xã hội
mong muốn.
II. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ:
Để quá trình soạn thảo các dự án đầu tư được tiến hành nghiêm túc, bản dự
án lập ra có chất lượng tốt, quá trình thực hiện dự án đã được soạn thảo tiến triển
thuận lợi, quá trình hoạt động của dự án sau này đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao
đòi hỏi phải làm tốt công tác tổ chức, phân công, phan nhiệm giữa các bộ phận có
liên quan, giám sát điều phối thực hiện các hoạt động, các công việc của từng bộ
phận, kịp thời có biện pháp xử lý các tình huống nảy sinh. Tất cả những vấn đề này
thuộc chức năng của quản lý dự án.
Có thể nói, có dự án mới chỉ là điều kiện “cần” còn để đảm bảo cho công
cuộc đầu tư theo dự án thành công, mục tiêu của dự án được thực hiện thì điều kiện
“đủ” chính là quản lý tốt các hoạt động ở mỗi giai đoạn của chu kỳ dự án đầu tư về
tất cả các mặt chất lượng, tiến độ và chi phí gọi chung là quản lý dự án đầu tư.
B. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ VÀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ:
I. ĐẦU TƯ:
1. Khái niệm:
Trang: 3
Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư chúng ta có
thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tư (còn gọi là hoạt động đầu tư)
Đầu tư theo nghĩa rộng, nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để
tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định
trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó. Nguồn lực
đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ.
Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài
sản vật chất (nhà máy, đường sá, các của cải vật chất khác ) tài sản trí tuệ (trình độ
kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh thường đòi hỏi nhiều năm tháng và do đó
không tránh khỏi sự tác động 2 mặt tích cực và tiêu cực của các yếu tố không ổn
định về tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế
- Các thành quả của hoạt động đầu tư là các công trình xây dựng sẽ hoạt
động ở ngay nơi mà nó được tạo dựng nên. Do đó, các điều kiện về địa hình tại đó
có ảnh hưởng lớnđến quá trình thực hiện đầu tư cũng như tác dụng sau này của các
kết quả đầu tư. Việc xây dựng nhà máy ở nơi có địa chất không ổn định sẽ không
đảm bảo an toàn trong quá trình hoạt động sau này, thậm chí cả trong quá trình xây
dựng công trình.
- Mọi thành quả và hậu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu ảnh hưởng
nhiều của các yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý của không
gian.
- Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao
đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị.
3. Nguồn vốn đầu tư:
3.1. Vốn đầu tư của đất nước: nói chung được hình thành từ 2 nguồn cơ
bản. Đó là vốn huy động trong nước và vốn huy động từ nước ngoài.
- Vốn đầu tư trong nước được hình thành từ các nguồn vốn sau đây:
+ Vốn tích luỹ từ ngân sách.
+ Vốn tích luỹ của các doanh nghiệp.
Trang: 5
+ Vốn tiết kiệm của dân cư.
- Vốn huy động từ nước ngoài bao gồm vốn đầu tư trực tiếp và vốn đầu tư
gián tiếp.
+ Vốn đầu tư trực tiếp là vốn của các doanh nghiệp, các cá nhân người nước
ngoài đầu tư sang các nước khác và trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý quá
trình sử dụng và thu hồi vốn đã bỏ ra.
+ Vốn đầu tư gián tiếp là vốn của các chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ
chức phi chính phủđược thực hiện dưới các hình thức viện trợ không hoàn lại, có
hoàn lại, cho vay ưu đãi có thời hạn dài và lãi suất thấp, vốn viện trợ phát triển
Tầm quan trọng của hoạt động đầu tư, đặc điểm và sự phức tạp về mặt kỹ
thuật, hậu quả và hiệu quả tài chính, kinh tế -xã hội của hoạt động đầu tư đòi hỏi để
tiến hành một công cuộc đầu tư phải có sự chuẩn bị cẩn thận và nghiêm túc. Sự
chuẩn bị này được thể hiện ở việc soạn thảo các dự án đầu tư. Có nghĩa la mọi công
cuộc đầu tư phải được thực hiện theo dự án thì mới đạt hiệu quả mong muốn.
1. Khái niệm về dự án đầu tư:
Dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ, về mặt hình thức, dự án
đầu tư là 1 tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt
động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được
những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn,
vật tư lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trong một thời gian
dài.
Trên góc độ kế hoạch hoá, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi
tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội, làm
tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ. Dự án đầu tư là 1 hoạt động kinh tế
riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế nói chung.
Xét về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan
với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết
Trang: 7
quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác
định.
Như vậy, một dự án đầu tư bao gồm 4 thành phần chính:
- Mục tiêu của dự án được thể hiện ở 2 mức:
+ Mục tiêu phát triển là những lợi ích kinh tế - xã hội do thực hiện dự án đem
lại.
+ Mục tiêu trước mắt là các mục đích cụ thể cần đạt được của việc thực hiện
dự án.
- Các kết quả: đó là những kết quả cụ thể, có thể định hướng, được tạo ra từ
các hoạt động khác nhau của dự án. Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện được các
3. Quá trình hình thành và thực hiện một dự án đầu tư:
Quá trình hình thành và thực hiện một dự án đầu tư trải qua 3 giai đoạn:
Chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư.
Nội dung các bước công việc ở mỗi giai đoạn của các dự án không giống
nhau, tuỳ thuộc vào lĩnh vực đầu tư (sản xuất kinh doanh hay kết cấu hạ tầng), sản
xuất công nghiệp hay nông nghiệp), vào tính chất tái sản xuất (đầu tư chiều rộng
hay chiều sâu), đầu tư dài hạn hay ngắn hạn. Trong tất cả các loại hình hoạt động
đầu tư, dự án đầu tư chiều rộng phát triển sản xuất công nghiệp nói chung có nội
dung phức tạp hơn, khối lượng tính toán nhiều hơn, mức độ chính xác của các kết
quả nghiên cứu có ảnh hưởng lớn đến sự thành bại trong hoạt động sau này của dự
án. Các nội dung và các bước công việc được trình bày trong phần này thuộc loại
dự án đầu tư chiều rộng phát triển sản xuất công nghiệp. Từ những vấn đề về
phương pháp luận ở đây khi vận dụng cho các dự án thuộc các ngành, các lĩnh vực
khác có thể lược bớt một số nội dung.
Các bước công việc của giai đoạn hình thành và thực hiện 1 dự án đầu tư sản
xuất công nghiệp có thể được minh hoạ tóm tắt trong bảng sau.
Các bước công việc, các nội dung nghiên cứu ở các giai đoạn được tiến hành
tuần tự nhưng không biệt lập mà đan xen gối đầu cho nhau, bổ sung cho nhau nhằm
nâng cao dần mức độ chính xác của các kết quả nghiên cứu và tạo thuận lợi cho
việc tiến hành nghiên cứu ở các bước kế tiếp.
Bảng: Các bước công việc của một dự án đầu tư
Chuẩn bị đầu tư Thực hiện đầu tư
Vận hành kết quả đầu
tư (SX,KD,Dvụ)
Nghiên Nghiên Nghiên Đánh Hoàn Thiết Thi Chạy Sử Sử Công
Trang: 9
cứu
phát
hiện
các cơ
hiện
đầu tư
kế và
lập dự
toán thi
công
xây lắp
công
trình
công
xây lắp
công
trình
thử và
nghiệm
thu sử
dụng
dụng
chưa
hết
công
suất
dụng
công
suất ở
mức
cao
nhất
suất
giảm
năm thực hiện đầu tư. Đây là những năm vốn không sinh lời, thời gian thực hiện
đầu tư càng kéo dài, vốn ứ đọng càng nhiều, tổn thất càng lớn. Lại thêm những tổn
thất do thời tiết gây ra đối với vật tư thiết bị chưa hoặc đang được thi công, đối với
những công trình đang được xây dựng dở dang. Đến lượt mình, thời gian thực hiện
đầu tư lại phụ thuộc nhiều vào chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư, vào việc quản
lý quá trình thực hiện đầu tư, quản lý việc thực hiện những hoạt động khác có liên
quan trực tiếp đến các kết quả của quá trình thực hiện đầu tư đã được xem xét trong
dự án đầu tư.
Giai đoạn 3: vận hành các kết quả của giai đoạn thực hiện đầu tư (giai đoạn
sản xuất kinh doanh dịch vụ) nhằm đạt được các mục tiêu của dự án. Nếu các kết
quả của giai đoạn thực hiện đầu tư tạo ra đảm bảo tính đồng bộ, giá thành thấp, chất
lượng tốt, đúng tiến độ, tại địa điểm thích hợp, với quy mô tối ưu thì hiệu quả trong
hoạt động của các kết quả này và mục tiêu của dự án chỉ còn phụ thuộc trực tiếp vào
quá trình tổ chức quản lý hoạt động của kết quả đầu tư. Làm tốt các công việc của
giai đoạn chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư tạo thuận lợi cho quá trình tổ chức
quản lý phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư. Thời gian phát huy tác dụng của
các kết quả đầu tư chính là đời (kinh tế) của dự án , nó gắn liền với đời sống của sản
phẩm (do dự án tạo ta trên thị trường) .
Soạn thảo dự án nằm trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư.
Công tác soạn thảo dự án được tiến hành qua 3 mức độ nghiên cứu.
- Nghiên cứu của cơ hội đầu tư.
- Nghiên cứu tiền khả thi.
- Nghiên cứu khả thi.
4. Nội dung chủ yếu của dự án đầu tư:
Trang: 11
Nội dung chủ yếu của 1 dự án đầu tư bao gồm các khía cạnh kinh tế vi mô và
vĩ mô, quản lý và kỹ thuật. Những khía cạnh này ở các dự án thuộc các ngành khác
nhau đều có những nét đặc thù riêng. Tuy nhiên việc xem xét các khía cạnh này đối
với dự án công nghiệp là phức tạp hơn cả. Do đó việc chọn lĩnh vực công nghiệp để
mô tả kỹ thuật soạn thảo và phân tích dự án sẽ tạo ra một mô hình tương đối hoàn
Năm 1979, Hợp tác xã Sản xuất Vật liệu Xây dựng Thanh Châu được thành
lập theo quyết định số 211/QĐUB ngày 17/9/1979 của Chủ tịch UBND huyện Hoà
Vang - Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ). Trong quá trình hoạt động và phát triển,
doanh nghiệp là 1 đơn vị kinh tế tập thể có quá trình tồn tại hơn 30 năm, là 1 trong
những đơn vị chuyên sản xuất và kinh doanh gạch, ngói từ đất sét nung theo công
nghệ thủ công truyền thống có nhiều uy tín trên thương trường. Góp phần giải quyết
việc làm cho hàng trăm lao động tại địa phương, đóng góp nhiều ngân sách cho Nhà
nước.
Đến năm 1996, doanh nghiệp được chuyển đổi theo mô hình Hợp tác xã kiểu
mới “Hợp tác xã cổ phần” theo Quyết định số 1329/QĐ-UB ngày 23/12/1996 của
Chủ tịch UBND huyện Hoà Vang Thành phố Đà Nẵng. Nguồn vốn hoạt động của
doanh nghiệp do các cổ đông tự nguyện đóng góp. Giấy phép đăng ký kinh doanh
số 0006.HV ngày 30/10/1997 của UBND huyện Hoà Vang.
Hợp tác xã Cổ phần Sản xuất VLXD Thanh Châu có Ban quản trị, chủ nhiệm
HTX, họ là những người được đại hội cổ đông bầu ra, thay mặt cho các xã viên để
Trang: 13
điều hành quá trình sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm về hiệu quả sản xuất
kinh doanh trước cổ đông và pháp luật của Nhà nước.
Tên giao dịch : HỢP TÁC XÃ CỔ PHẦN SẢN XUẤT VLXD THANH CHÂU
Địa điểm : Thôn Giáng Nam 2, xã Hoà Phước, huyện Hoà Vang, TPĐN.
Mã số thuế : 0400128131-1.
Tổng vốn KD : 360.000.000VNĐ.
Vốn cổ phần : 30.000.000VNĐ/1 cổ đông.
Vốn tích luỹ : 120.000.000VNĐ
Điện thoại : 0511.879307.
Đây là mô hình doanh nghiệp cổ phần, tuân theo luật HTX đã được Quốc hội
nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua. Tất cả mọi hoạt động đều
do đại hội cổ đông quyết định, cử người giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị,
chủ nhiệm HTX, các chức vụ phó chủ nhiệm, trưởng ban kiểm soát do Hội đồng
quản trị bầu các thành viên sáng lập khác nắm giữ.
Thực hiện vai trò của 1 doanh nghiệp đối với thị trường, góp phần tạo ra
nguồn thu ngân sách cho Nhà nước, đồng thời hoàn thành các mục tiêu kinh doanh
của cấp trên giao phó.
Bảo toàn và phát triển tối đa nguồn vốn do các cổ đông đóng góp, làm tốt
công tác bảo vệ tài sản XHCN.
Tận dụng các máy móc thiết bị sẵn có của doanh nghiệp cũng như tích cực
khai thác các nguồn lực, lợi thế của doanh nghiệp về kinh nghiệm, nguồn vốn, nhân
lực để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Áp dụng những kiến thức tiên tiến cũng như chế độ quản lý thích hợp vào
hoạt động kinh doanh để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại doanh nghiệp.
III. CƠ CẤU TỔ CHỨC:
Trang: 15
1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức:
Trang: 16
i h i c ôngĐạ ộ ổ đ
Ban ki m soát ể
H i ng qu n tr ộ đồ ả ị
Ch nhi m ủ ệ
Hành chính T s n xu t ổ ả ấT khai thác ổ K toán ế
Quan h ch c n ng ệ ứ ă
Quan h tr c tuy n ệ ự ế
2. Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban:
- Ban hành chính:
+ Đảm nhận công tác hành chính, văn thư.
+ Công tác bảo vệ, lái xe
- Kế toán tài chính:
+ Tổ chức hạch toán kế toán theo chế độ kế toán hiện hành của Nhà nước.
+ Quản lý các nguồn vốn, sử dụng vốn và tài sản.
+ Theo dõi và hạch toán tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.
Thành tựu cơ bản của đất nước là đã thoát khỏi khủng hoảng KT-XH và kinh tế
tăng trưởng với nhịp độ ngày càng cao. Cụ thể tốc độ tăng trưởng GDP qua các năm
6,89% (2001); 7,04% (2002); 7,50% (2003). Thu nhập bình quân đầu người qua các
năm có sự gia tăng rõ rệt như năm 2000 là 250USD/người/năm; 2002 là
Trang: 18
Môi tr ng dân ườ
s ố
Môi tr ng công ườ
nghệ
Môi tr ng t ườ ự
nhiên
Môi tr ng ườ
kinh t ế
Môi tr ng ườ
pháp lu t ậ
Môi tr ng ườ
v n hoá ă
Doanh nghi p ệ
581USD/người/năm. Điều này cho thấy đời sống của người dân ngày càng được
nâng cao sẽ có tác động lớn đến nhu cầu nhà ở, tiêu dùng tỷ lệ hộ nghèo giảm trừ
1,3% năm 1999 xuống còn 1,1% năm 2000 và đạt mục tiêu xoá đói giảm nghèo của
Chính phủ. Mỗi năm có từ 1,2 đến 1,4 triệu lao động có việc làm mới, tỷ lệ thất
nghiệp giảm, số người lao động Việt Nam ở nước ngoài ngày càng tăng năm 2003
là 80.000 người. Việt Nam coi xuất khẩu lao động là 1 trong những biện pháp làm
giảm nạn thất nghiệp và là 1 nguồn kiều hối quan trọng nhờ các công nhân người
Việt Nam ở nước ngoài gởi về Việt Nam khoảng 1,4 tỷ USD. Riêng tại Thành phố
Đà Nẵng tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 5,5% năm 2000 xuống còn 4,92% năm 2001.
Với chính sách mở cửa nền kinh tế có sự điều tiết của Nhà nước, hoạt động
đầu tư bắt đầu sôi động. Nguồn vốn FDI cùng với vốn ODA đã giải ngân là 7 tỷ
USD và trở thành nguồn vốn của nền kinh tế, đảm bảo cho sự phát triển và tăng
trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực cũng như việc hình thành nên thị trường.
Các sản phẩm của doanh nghiệp sẽ có được thị trường rộng lớn để khai thác sẽ là 1
nguồn lợi không nhỏ đối với việc phát triển doanh nghiệp.
1.4. Môi trường tự nhiên:
Nước ta nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa phân biệt rõ rệt mùa
khô và mùa mưa, tài nguyên nước ta rất phong phú nhưng chưa được khai thác một
cách có tổ chức và có hiệu quả đã làm cho tài nguyên ngày càng cạn kiệt. Rừng
nguyên sinh từ chỗ gần bằng diện tích cả nước nay chỉ còn 66.432km
2
, trong đó
rừng bảo vệchiếm 7.367km
2
. Độ che phủ của rừng từ 48% tổng diện tích cả nước
nay còn dưới 20%. Tốc độ trồng rừng không theo kịp tốc độ tàn phá rừng. Diện tích
đất nông nghiệp không chỉ bị thu hẹp do lũ lụt xói mòn mà còn bị ô nhiễm một cách
nghiêm trọng bởi các chất hoá học trong chiến tranh, trong phân bón, trong các chất
phòng trừ dịch hại đã dẫn đến ô nhiễm nguồn nước Hàng năm, chúng ta sử dụng
khoảng 15.000 -> 20.000 tấn thuốc phòng trừ dịch hại và bảo vệ thực vật. Kết quả
đó gây tác hại không nhỏ đến giới tự nhiên, con người và tiến trình phát triển đất
nước.
Trang: 20
Huyện Hoà Vang Thành phố Đà Nẵng là địa điểm có nhiều mỏ khoáng sản
phục vụ cho nền công nghiệp sản xuất VLXD. Theo danh mục các mỏ khoáng sản
đã được bộ Công nghiệp công nhận và bàn giao để UBND Thành phố Đà Nẵng tổ
chức quản lý và cấp giấy phép khai thác tận thu tại quyết định số 2906/QĐ-ĐCKS
của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp thì huyện Hoà Vang Thành phố Đà Nẵng có các mỏ
khoáng sản như:
TT Loại khoáng sản Tên mỏ Địa điểm
1 Đá xây dựng Đà Sơn 1
Đa Phước 1,2
Hoà Khương
Hoà Minh
4 Vật liệu sang lấp Đa Phước Hoà Mỹ
5 Than bùn Nam Ô 1 Hoà Khánh
6 Cát, cuội, sỏi Tuý Loan
Yến Nê
Hoà Nhơn
Hoà Tiến
Trang: 21
Theo kết quả khảo sát của đoàn địa chất 501 thuộc Liên đoàn Địa chất Trung
Trung Bộ đất sét tại các xã Hoà Tiến, Hoà Phước, Hoà Khương có các đặc tính
cơ lý và thành phần hoá học đạt yêu cầu kỹ thuật của đất sét sản xuất gạch nung
theo TCVN 4353-1986cho thấy tất cả các loại đất sét ở nhóm hạt >10mm và từ 10-
20mm (hạt sỏi sạn) đều không có. Nhóm hạt <0.005mm (hạt sét) từ 13,8 - 43,7%
thoả mãn yêu cầu sản xuất gạch nung. Về chỉ số dẻo tất cả mẫu đất sét có chỉ số dẻo
từ 10,93 đến 22,7% so với chỉ số dẻo của sét An Hoà Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam
là 10% đang khai thác để sản xuất gạch Tuynel thì đất sét ở Hoà Vang có độ dẻo
tương tự đủ điều kiện để sản xuất gạch nung. Về thành phần hoá học so với chỉ tiêu
yêu cầu kỹ thuật đất sét để sản xuất gạch nung theo TCVN 4353-1986 cho thấy đất
sét ở Hoà Vang nói chung hoàn toàn thoả mãn các yêu cầu về thành phần hoá học
đối với đất sét sản xuất gạch nung.
1.5. Môi trường kỹ thuật công nghệ:
Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của KH-KT đã tạo ra nhiều cơ hội và
cũng không ít đe doạ cho các doanh nghiệp. Quá trình quốc tế hoá đời sống với quá
trình chuyển giao công nghệ đã tác động tích cực đến đời sống KT-XH.
Nước ta có nền công - nông nghiệp lạc hậu, chủ yếu là sản xuất vừa và nhỏ,
máy móc thiết bị chưa được trang bị hiện đại, sản xuất chủ yếu là đáp ứng nhu cầu
trong nước. Tuy nhiên, từ khi đổi mới nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường.
Nhận thấy tầm quan trọng của công nghệ kỹ thuật trong hoạt động sản xuất kinh
doanh. Nhà nước ta đã mở rộng quan hệ ngoại giao, tiếp cận với công nghệ mới,
đã được Sở Tài nguyên và Môi trường đề nghị UBND Thành phố cho phép HTX
Cổ phần Sản xuất VLXD Thanh Châu khai thác tận thu theo công văn số
598/TNMT ngày 25/11/2003. HTX Cổ phần Sản xuất VLXD Thanh Châu đã được
UBND Thành phố Đà Nẵng cho phép HTX làm thủ tục khai thác tận thu theo công
văn số 5253/UB-VP ngày 4/12/2003 của Chủ tịch UBND Thành phố Đà Nẵng trữ
lượng từ 500.000 -> 550.000m
3
.
Trang: 23
2. Môi trường vi mô:
Là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoạt động của doanh
nghiệp. Bao gồm các yếu tố nội bộ ngành sản xuất kinh doanh và các yếu tố ngoại
cảnh có tác động quyết định đến tính chất và mức độ cạnh tranh ngành.
Trang: 24
2.1. Khách hàng:
Khách hàng và nhu cầu của khách hàng quyết định quy mô và cơ cấu nhu
cầu trên thị trường của doanh nghiệp và là yếu tố quan trọng hàng đầu khi xác định
chiến lược kinh doanh. Đối với những sản phẩm phục vụ ngành xây dựng, doanh
nghiệp đang tiến hành sản xuất ra các sản phẩm để nhằm đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của khách hàng. Vì là một doanh nghiệp chuyên về lĩnh vực sản xuất các
mặt hàng phục vụ cho ngành xây dựng nên khách hàng của doanh nghiệp bao gồm:
- Các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng và các tỉnh
lân cận.
- Các cá nhân có nhu cầu về sản phẩm của doanh nghiệp.
2.2. Các đối thủ cạnh tranh:
Kinh doanh và sản xuất trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh
nghiệp phải thận trọng, nhiệm vụ của nhà quản trị là phải đưa ra những chiến lược
kinh doanh phù hợp, chọn đúng thời điểm để thu hút khách hàng về phía mình mới
có thể loại bỏ đối thủ cạnh tranh ra khỏi cuộc chơi. Sự hiểu biết đối thủ cạnh tranh
có ý nghĩa cực kỳ to lớn đối với sự thành công của doanh nghiệp. Nhận biết được