DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu Nguyên từ
NHTM
NHNN
NH
TTKDTM
UNC
UNT
BKNS
BIDV
Ngân hàng Thương mại
Ngân hàng Nhà Nước
Ngân hàng
Thanh toán không dùng tiền mặt
Uỷ nhiệm chi
Uỷ nhiệm thu
Bảng kê nộp séc
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
1
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền
kinh tế, Ngân hàng thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền
tệ, vì vậy, là một kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính phủ.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay làm tốt công tác thanh toán không dùng
tiền mặt có vai trò rất lớn, góp phần cải thiện công tác thanh toán, ổn định lưu
thông tiền tệ, khống chế được lạm phát, thúc đẩy tăng nhanh vòng quay của
vốn và một điều quan trọng là nó thể hiện được vai trò quản lý của Nhà nước
trong kinh tế.
Nước ta từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc sử dụng các công cụ thanh toán
không dùng tiền mặt được chú ý. Thế nhưng, cho đến nay thì thanh toán không
1.1.1. Những vấn đề cơ bản về thanh toán không dùng tiền mặt
Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ thanh toán chi trả lẫn nhau phải
dùng hình thức tiền tệ, vì vậy, thanh toán tiền tệ là một yêu cầu khách quan, là
điều cần thiết phục cho quá trình tái sản xuất xã hội. Thanh toán tiền tệ được
thực hiện dưới hai hình thức là thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán không
dùng tiền mặt. Thanh toán bằng tiền mặt là việc chi trả trực tiếp bằng tiền mặt
trong các quan hệ thanh toán thu chi giữa nhân dân với nhau, giữa các xí
nghiệp, tổ chức kinh tế, cơ quan Nhà nước với nhân dân…. Thanh toán bằng
tiền hợp với vai trò của tiền tệ làm vật môi giới trong quá trình lưu thông. Sau
khi xuất chuyển hàng hoá hay cung ứng dịch vụ cho người mua, người bán
nhận được tiền ngay và quá trình thanh toán cũng chấm dứt ở đó. Nhưng khi
sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đến một trình độ cao hơn, thì việc
thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt không còn tỏ ra là một phương thức duy nhất
nữa, lúc đó nó đòi hỏi một phương thức hiện đại hơn, bên cạnh đó với sự phát
triển vượt bậc của hệ thống Ngân hàng, các dịch vụ, các công cụ thanh toán đã
được Ngân hàng nghiên cứu đưa ra để khách hàng lựa chọn cho mình một hình
thức thanh toán thích hợp thay cho thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán không
dùng tiền mặt phát sinh từ đó. Thanh toán không dùng tiền mặt là phương thức
thanh toán "phi tiền mặt" thực chất là dùng các công cụ khác để thay thế tiền
mặt trong thanh toán.
Thanh toán không dùng tiền mặt là cách thức thanh toán tiền hàng hoá
dịch vụ không có sự xuất hiện của tiền mặt mà vẫn được tiến hành bằng cách
trích tiền từ tài khoản của người chi trả chuyển vào tài khoản của người thụ
hưởng hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của các tổ
chức cung ứng dịch vụ thanh toán về mặt bản chất thì TTKDTM phản ánh sự
4
vận động của vật tư hàng hoá, dịch vụ lưu thông. Sự phát triển rộng khắp của
TTKDTM trong nền kinh tế thị trường hiện đại là yêu cầu tất yếu của sự phát
triển vượt bậc của nền kinh tế hàng hoá, do kinh tế hàng hoá phát triển mạnh,
khối lượng hàng hoá, dịch vụ trao đổi lớn, tất yếu phải có cách thức trả tiền
trước đây trong nền sản xuất hàng hoá còn nhỏ lẻ, khối lượng hàng hoá ít thì
việc thanh toán sử dụng tiền mặt là rất thuận tiện, nhưng trong nền kinh tế thị
trường hiện nay sản xuất hàng hoá phát triển ở trình độ cao, khối lượng hàng
hoá vô cùng lớn, việc trao đổi hàng hoá đa dạng và trên diện rộng, các hoạt
động giao dịch thương mại, dịch vụ hàng hóa ngày nay diễn ra mọi lúc, mọi
nơi, vượt cả giới hạn về khoảng cách thì hình thức thanh toán bằng tiền mặt
không còn phù hợp nữa.
Xét trên nhiều góc độ, khi hoạt động thanh toán trong xã hội còn phổ biến
bàng hình thức tiền mặt nhất là trong thanh toán các khoản có giá trị lớn có thể
dẫn đến một số bất lợi như:
• Chi phí của xã hội để tổ chức hoạt động thanh toán (như chi phí của
chính phủ cho việc in ấn, chi phí vận chuyển, bảo quản, kiểm, đếm tiền của hệ
thống ngân hàng, các chủ thể tham gia giao dịch) là rất tốn kém.
• Việc thực hiện giao dịch thanh toán bằng tiền mặt với khối lượng
lớn dễ bị các đối tượng phạm pháp lợi dụng để gian lận, trốn thuế, trì hoãn
hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng hoặc chủ nợ.
• Vấn đề an ninh trong thanh toán, bảo quản, vận chuyển tiền luôn
luôn tiềm ẩn nhiều nguy hiểm.
• Sử dụng nhiều tiền mặt trong giao dịch thanh toán của xã hội sẽ là
môi trường thuận lợi cho tội phạm lưu hành tiền giả, đe doạ trực tiếp tới lợi ích
của các tổ chức, cá nhân và tình hình an ninh quốc gia.
Các bất lợi và rủi ro trên đây là vấn đề xảy ra với bất kỳ quốc gia nào,
song với các nước mà thanh toán bằng tiền mặt còn phổ biến thì trong xã hội
tình hình sẽ càng phức tạp hơn và khó kiểm soát hơn. Mặt khác, khi nền kinh tế
càng ngày càng phát triển cả về chất lượng và số lượng thì việc thanh toán bằng
tiền mặt không còn đủ khả năng đáp ứng được nhu cầu thanh toán của toàn bộ
nền kinh tế nữa. Từ thực tế đó thì đòi hỏi phải có sự ra đời của một phương
6
thức tiên tiến và hiện đại hơn để có thể đáp ứng được nhu cầu thanh toán ngày
càng cao của xã hội, do vậy, sự ra đời của phương thức thanh toán không dùng
chính, khả năng thanh toán… của khách hàng, để thực hiện kiểm soát đồng tiền
thông qua việc có các chính sách kịp thời, hợp lý đối với các quyết định về huy
động vốn, cho vay và thực hiện các dịch vụ khác của Ngân hàng.
Góp phần tạo thêm nguồn vốn đầu tư: đối với Ngân hàng thì thanh toán
qua Ngân hàng làm tăng thêm nguồn vốn vì nó sử dụng được số tiền tạm thời
nhàn rỗi của khách hàng gửi vào để đáp ứng nhu cầu thanh toán. Mỗi một
doanh nghiệp, cá nhân đều giữ một lượng tiền mặt nhất định để chờ sử dụng.
Nếu khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để thanh toán bằng chuyển khoản thì
số tiền này sẽ giảm, Ngân hàng sẽ huy động thêm nhiều nguồn vốn để đầu tư
cho nền kinh tế. Như vậy, việc thanh toán qua Ngân hàng sẽ giúp cho khả năng
tạo tiền của NHTM, đảm bảo được nhu cầu thanh toán ngày càng tăng trong
nền kinh tế. Mặt khác ngân hàng thu phí dịch vụ do thực hiện nghiệp vụ thanh
toán giữa các khách hàng.
TTKDTM có vai trò làm giảm khối lượng tiền mặt, hỗ trợ cung ứng tiền
mặt, điều hoà lưu thông tiền tệ của NHNN: khối lượng tiền mặt và khối lượng
tiền ghi sổ được quyết định bởi tổng giá cả hàng hoá - dịch vụ và tốc độ lưu
thông tiền tệ bình quân. Vì vậy, sự vận động của tiền tệ trong nền kinh tế sẽ
bao gồm sự vận động của tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt qua
Ngân hàng, tức là thanh toán không dùng tiền mặt tăng thì lưu thông tiền mặt
giảm và ngược lại, do NHNN là cơ quan duy nhất phát hành, kiểm soát và cung
ứng tiền mặt cho nền kinh tế thông qua các kênh như nghiệp vụ thanh toán thị
trường mở, tái chiết khấu, dự trữ bắt buộc, từ đó điều tiết khối lượng tiền ghi
sổ tại các NHTM.
TTKDTM gắn với sự phát triển của hệ thống tài chính – tín dụng, đặc
biệt là sự phát triển của hệ thống Ngân hàng. Sự tồn tại và phát triển của hệ
thống này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước, các tổ chức
xã hội và cá nhân mở tài khoản tiền gửi và thanh toán tiền hàng dịch vụ thông
qua việc trích chuyển tài khoản trong hệ thống này.
Như vậy, TTKDTM giữ một vai trò hết sức quan trọng. Đứng trên giác
độ của ngành Ngân hàng, nó phản ánh khá trung thực trình độ quản lý, trình độ
9
a, Mở tài khoản
Theo thông tư số 08/TT-NH2, ngày 21/02/1994 của NHNN Việt Nam,
hướng dẫn về thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt thì việc mở và sử dụng tài
khoản tiền gửi phải chấp hành đúng những quy định sau:
- Đối với khách hàng là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức đoàn thể, đơn vị
vũ trang:
+ Giấy đăng ký mở tài khoản do chủ tài khoản (Tổng Giám đốc, Giám
đốc, thủ trưởng đơn vị, chủ doanh nghiệp) ký tên đóng dấu trong đó phải ghi
rõ:
• Tên đơn vị
• Họ tên chủ tài khoản
• Địa chỉ giao dịch của đơn vị
• Mã số thuế, giấy phép đăng ký kinh doanh của đơn vị.
• Số chứng minh thư, ngày tháng năm cấp, nơi cấp của chủ tài khoản.
• Tên NH nơi mở tài khoản
+ Bảng đăng ký mẫu dấu chữ ký để giao dịch với NH
• Chữ ký mẫu của chủ tài khoản và người được uỷ quyền
• Chữ ký mẫu của kế toán trưởng và người được uỷ quyền
• Mẫu dấu của đơn vị
- Đối với khách hàng là cá nhân
+ Giấy đăng ký mở tài khoản của chủ tài khoản, trong đó ghi rõ: Họ tên
của chủ tài khoản; Địa chỉ giao dịch của chủ tài khoản; Số, ngày tháng năm,
nơi cấp chứng minh thư của chủ tài khoản; Tên NH nơi mở tài khoản.
+ Bảng đăng ký mẫu chữ ký của chủ tài khoản để giao dịch với NH. Đối
với tài khoản là cá nhân thì không được uỷ quyền, tất cả các giấy tờ thanh toán,
giao dịch với NH buộc phải là chữ ký của chủ tài khoản.
Sau khi chấp nhận mở tài khoản cho khách hàng thì NH thông báo cho
khách hàng biết số hiệu tài khoản, ngày bắt đầu hoạt động của tài khoản.
10
trong quá trình sử dụng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
11
Trong trường hợp có đóng chủ tài khoản thì mọi giao dịch thanh toán trên
tài khoản chỉ được thực hiện khi có sự chấp thuận của những người đồng chủ
tài khoản.
1.1.4.2. Quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng và khách hàng sử
dụng dịch vụ thanh toán
Quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng
Ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán có quyền quy định khách hàng
phải nộp phí khi nhận dịch vụ thanh toán, quy định hạn mức thấu chi đối với
từng khách hàng. Yêu cầu khách hàng cung cấp các thông tin có liên quan
trong quá trình sử dụng dịch vụ thanh toán, từ chối thanh toán khi khách hàng
không đáp ứng đủ để sử dụng dịch vụ thanh toán, hoặc vi phạm nguyên tắc
thanh toán.
Ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán có nghĩa vụ thanh toán chính xác,
kịp thời và an toàn tài sản theo yêu cầu của khách hàng. Niêm yết công khai phí
dịch vụ thanh toán, giữ bí mật về số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng theo
đúng quy định của pháp luật. Từ chối thực hiện các giao dịch thanh toán đã có
bằng chứng về nguồn gốc bất hợp pháp. Cung cấp thông tin định kỳ hoặc đột
xuất (nếu cần) cho chủ tài khoản về số dư tài khoản và các giao dịch thanh toán
trên tài khoản của chủ tài khoản.
Ngân hàng chủ động trích tài khoản của khách hàng trong các trường hợp
sau:
• Các khoản nợ đến hạn, quá hạn, các khoản lãi, chi phí hợp lệ khác
phát sinh trong quá trình quản lý tài khoản và cung ứng dịch vụ thanh toán theo
quy định.
• Các nghĩa vụ thanh toán theo quyết định của cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền buộc chủ tài khoản phải thanh toán.
• Các trường hợp khác theo thỏa thuận giữa NH và khách hàng.
NH có trách nhiệm phát hiện và điều chỉnh kịp thời các tài khoản mở sai
tính trên số tiền sai thiếu.
Khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán có nghĩa vụ phải trả phí đầy đủ,
đúng hạn và thực hiện đầy đủ các quy định khác của Ngân hàng. Hoàn trả
13
Ngân hàng trong trường hợp thụ hưởng số tiền không có căn cứ pháp luật
thông qua dịch vụ thanh toán do Ngân hàng thực hiện.
1.2. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt
1.2.1. Thanh toán bằng Séc
1.2.1.1. Khái niệm
Séc là phương tiện thanh toán do người ký phát lập dưới hình thức chứng
từ theo mẫu in sẵn, nó là một tờ lệnh vô điều kiện do khách hàng của Ngân
hàng ký phát, ra lệnh cho Ngân hàng trích một số tiền nhất định từ tài khoản
của mình để trả cho người thụ hưởng.
Séc do Ngân hàng cung ứng và được thiết kế theo đúng yêu cầu của pháp
luật, các ngân hàng sẽ chọn mẫu séc riêng cho hệ thông ngân hàng của mình và
đăng ký in ấn với nhà in của NHNN, các chi nhánh sử dụng Séc để cung ứng
cho khách hàng do Hội sở chính thống nhất in ấn và phân phối. Khách hàng mở
tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng nào thì sẽ được Ngân hàng đó nhượng Séc lại
để sử dụng.
Điều kiện khách hàng được cung ứng Séc đó là: đang được sử dụng tài
khoản tiền gửi thanh toán (Current Account - AC) tại Ngân hàng; không thuộc
đối tượng bị cấm sử dụng hoặc không đang trong thời gian bị đình chỉ quyền
ký phát Séc; khách hàng có nhu cầu sử dụng Séc lần đầu hoặc khách hàng đã
được cung ứng Séc của Ngân hàng nhưng có số lượng tờ Séc chưa thanh toán ít
hơn 10 tờ/ 01 tài khoản tiền gửi thanh toán.
Séc được sử dụng để thanh toán tiền hàng, dịch vụ nộp thuế, trả nợ….
hoặc rút tiền tại các chi nhánh Ngân hàng. Trong hình thức thanh toán bằng
séc, việc trả tiền do người trả tiền khởi sướng và kết thúc bằng việc ghi số tiền
trên tờ séc vào tài khoản của người nhận tiền.
Thời hạn xuất trình của tờ séc là trong vòng 30 ngày kể từ ngày ký phát
1.2.1.2. Các chủ thể tham gia
Các chủ thể tham gia thanh toán Séc bao gồm:
Người ký đó là người chủ tài khoản thanh toán tại ngân hàng, là người lập
và ký tên trên tờ Séc để ra lệnh cho người thực hiện thanh toán thay mặt mình
15
trả số tiền ghi trên Séc. Nghĩa vụ của người ký phát đó là đảm bảo số tiền được
sử dụng từ tài khoản tiền gửi thanh toán (số dư khả dụng) tại Ngân hàng đủ để
chi trả toàn bộ số tiền ghi trên Séc cho người thụ hưởng tại thời điểm xuất trình
Séc; chịu trách nhiệm về mọi thiệt hại do lỗi của mình gây ra hoặc để Séc bị lợi
dụng; chấp hành đúng các quy định về cung ứng séc của pháp luật và của Ngân
hàng.
Người thụ hưởng là người được hưởng số tiền ghi trên Séc, người thụ
hưởng có thể là người cầm tờ séc đó có ghi tên người được trả tiền là chính
mình hoặc không ghi tên người được trả tiền hoặc ghi cụm từ "Trả cho người
cầm séc", hoặc đã được chuyển nhượng bằng ký hậu cho mình thông qua dãy
chữ chuyển nhượng liên tục.
Người thụ lệnh đó là Ngân hàng thực hiện việc trích tài khoản người ký
phát séc trả cho người thụ hưởng.
1.2.1.3. Một số loại Séc thường dùng
1.2.1.3.1. Séc chuyển khoản
a, Khái niệm
Séc chuyển khoản là tờ séc do chủ tài khoản ký phát hành và trực tiếp
giao cho người thụ hưởng để thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình, nhưng
khả năng thanh toán của nó phụ thuộc vào số dư trên tài khoản thanh toán tiền
gửi của người ký phát.
Khi phát hành séc chuyển khoản, chủ tài khoản phải gạch 2 đường song
song chéo góc hoặc viết hay đóng dấu từ “chuyển khoản” ở góc phía trên bên
trái mặt trước tờ séc trước khi giao cho người thụ hưởng.
Séc chuyển khoản chỉ được sử dụng trong thanh toán chuyển khoản giữa
các khách hàng mở tài khoản tại một Ngân hàng hoặc hai Ngân hàng nhưng
- Trường hợp khách hàng mở tài khoản ở 2 ngân hàng
Sơ đồ 1.2.1.3.1.2: Quy trình luân chuyển chứng từ thanh toán séc chuyển
khoản giữa 2 khách hàng khác chi nhánh.
(2)
(1)
(7) (3)
(4)
(5)
(1) Đơn vị bán cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho bên mua theo hợp đồng ký
trước
(2) Đơn vị mua ký phát hành séc thanh toán cho bên hàng hoá, dịch vụ.
(3) Đơn vị bán chuyển Séc tới NH phục vụ mình để được thanh toán
(4) NH phục vụ người bán chuyển séc và BKNS cho NH phục vụ người mua
(5) NH phục vụ người mua thanh toán chuyển tiền cho NH phục vụ người bán
(6) NH phục vụ người mua ghi giảm tài khoản của người mua
(7) NH phục vụ người bán ghi tăng tài khoản cho người bán và báo Có cho
người bán.
Nhận xét: với những đặc điểm trên thì séc chuyển khoản có những ưu,
khuyết điểm sau:
Ưu điểm của séc chuyển khoản là: dễ phát hành, thủ tục thanh toán đơn
giản, người phát hành séc không phải đến NH làm thủ tục.
Nhược điển: Phương thức này người thụ hưởng sẽ nhận được séc chuyển
khoản ngay sau khi giao hàng, nhưng séc chuyển khoản ở đây mới chỉ được coi
18
Người ký phát Người thụ
hưởng
NH phục vụ
người bán
NH phục vụ
người mua
(1)
(4) (3)
(1) Người trả tiền làm thủ tục bảo chi séc
1a, Người trả tiền lập 2 liên giấy “yêu cầu bảo chi séc” kèm tờ séc đã ghi
đầy đủ các yếu tố nộp vào NH để xin bảo chi séc.
1b, NH đối chiếu giấy “yêu cầu bảo chi séc” và tờ séc, số dư tài khoản
của người phát hành, nếu đủ điều kiện thì tiến hành trích tiền từ tài khoản
chuyển vào tài khoản đảm bảo thanh toán séc. Sau đó đóng dấu “bảo chi” lên
tờ séc và giao cho khách hàng
(2) Người trả tiền giao séc cho người thụ hưởng để nhận hàng hoá, dịch
vụ.
(3) Người thụ hưởng lập BKNS kèm các tờ séc nộp vào NH xin thanh
toán
(4) NH kiểm tra ký hiệu mật trên tờ séc và các yếu tố cần thiết sau đó
ghi Có vào tài khoản tiền gửi và báo Có cho người thụ hưởng.
20
Người trả tiền Người thụ
hưởng
Ngân hàng
- Trường hợp khách hàng mở tài khoản tại 2 NH
Sơ đồ 1.2.1.3.2.2: Quy trình luân chuyển chứng từ thanh toán séc bảo chi
giữa 2 khách hàng khác chi nhánh.
(2)
(4a) (3)
(1)
(4b)
(5)
(1) Người trả tiền làm thủ thục bảo chi séc
séc.
Thủ tục phát hành séc lĩnh tiền mặt: Người phát hành séc phải ghi rõ tên
của pháp nhân (hoặc cá nhân), địa chỉ, số hiệu tài khoản, tên NH giữ tài khoản
của người thụ hưởng vào vị trí quy định trên tờ séc.
Cách thanh toán: Khi lĩnh tiền, người lĩnh tiền phải nộp tờ séc lĩnh tiền
mặt vào Ngân hàng nơi người phát hành séc mở tài khoản. Khi nhận được tờ
séc lĩnh tiền mặt và giấy uỷ quyền lĩnh tiền mặt (nếu có), cán bộ Ngân hàng
làm thủ tục chi tiền theo chế độ hiện hành.
1.2.2. Thanh toán bằng lệnh chi - uỷ nhiệm chi
1.2.2.1. Khái niệm
Lệnh chi hay uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền do chủ tài khoản lập theo mẫu
của ngân hàng để yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình trích một số tiền nhất định
từ tài khoản tiền gửi của mình để trả cho người thụ hưởng có tên trên lệnh chi
hoặc uỷ nhiệm chi.
Uỷ nhiệm chi hay lệnh chi được áp dụng trong thanh toán tiền hàng hoá,
dịch vụ, nộp thuế, trả nợ hoặc chuyển tiền của người sử dụng dịch vụ thanh
toán tại một chi nhánh Ngân hàng hoặc giữa các chi nhánh, cùng hoặc khác hệ
thống trong phạm vi cả nước. Trong vòng một ngày làm việc khi nhận được uỷ
nhiệm chi Ngân hàng phải thực hiện ngay yêu cầu đó của chủ tài khoản, nếu uỷ
nhiệm chi hợp lệ và số dư trên tài khoản đủ để thực hiện. Đây là hình thức
thanh toán đơn giản, nhanh chóng nên nó thường chiếm tỷ trọng lớn.
Trường hợp hai chủ thể thanh toán mở tài khoản tại hai Ngân hàng thì
đơn vị bán sau khi giao hàng cho đơn vị mua, đơn vị mua sẽ lập UNC gửi đến
Ngân hàng phục vụ mình. Tại Ngân hàng phục vụ đơn vị mua sau khi kiểm tra
22
tính hợp lệ của chứng từ sẽ tiến hành ghi nợ và chuyển theo liên hàng (nếu hai
Ngân hàng cùng hệ thống) hoặc chuyển sang tài khoản thanh toán bù trừ (nếu
hai Ngân hàng khác hệ thống nhưng tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn)
trong ngày làm việc.
1.2.2.2. Các trường hợp sử dụng uỷ nhiệm chi
Sơ đồ 1.2.2.1.2: Quy trình luân chuyển chứng từ thanh toán UNC giữa 2
khách hàng khác chi nhánh.
(1)
(2)
(3a) (4)
(3b)
(1) Người bán cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho người mua.
(2) Người mua lập UNC nộp vào NH phục vụ mình yêu cầu trích tài khoản
của mình để thanh toán cho người thụ hưởng.
(3) NH phục vụ người mua kiểm tra UNC, số dư tài khoản, sau đó tiến
hành ghi Nợ vào tài khoản người mua, rồi báo Nợ cho người mua. Đồng thời,
chuyển tiền sang cho NH phục vụ người bán.
(4) NH phục vụ người bán ghi Có vào tài khoản người bán và báo Có cho
họ.
24
Người trả tiền Người thụ
hưởng
NH phục vụ
người bán
NH phục vụ
người mua
Trường hợp người thụ hưởng chưa mở tài khoản tiền gửi tại bất cứ NH
nào đó thì NH phục vụ người thụ hưởng ghi Có vào tài khoản phải trả khách
hàng và báo cho người thụ hưởng đến nhận tiền.
Nhận xét: UNC hay lệnh chi có ưu điểm là rất đơn giản, tiết kiệm chi phí,
thuận tiện cho khách hàng sử dụng và thuận tiện trong việc ứng dụng công
nghệ thanh toán hiện đại, nên tốc độ thanh toán nhanh, phạm vi rộng rãi. Đây là
hình thức thanh toán chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh số thanh toán
qua NH. Hình thức thanh toán này không đảm bảo quyền lợi cho người bán vì