nâng cao năng lực cạnh tranh trong họat động nhập khẩu máy và phụ tùng của công ty cổ phần xuất nhập khẩu máy và phụ tùng (spj) - Pdf 21

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Hoà cùng với xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá, hội nhập và hợp tác kinh tế
đang nổi trội, với sự phát triển mạnh của kinh tế thị trường, với tính phụ thuộc lẫn
nhau về kinh tế và thương mại giữa các quốc gia ngày càng sâu sắc, Việt nam đã và
đang không ngừng cố gắng đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước đưa nền kinh tế hoà nhập vào sự năng động của khu vực Đông Nam Á, hay
nói rộng hơn là khu vực vành đai Châu Á - Thái Bình Dương.
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang gia tăng áp lực cạnh tranh đối
với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực xuất nhập khẩu nói riêng, đặc biệt là hoạt động nhập khẩu máy móc và phụ
tùng.
Trong cơ chế thị trường, năng lực cạnh tranh là yếu tố mang tính quyết định sự
thành bại của doanh nghiệp, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm được các lợi thế,
năng lực cạnh tranh của mình để các sản phẩm, dịch vụ cung cấp ra thị trường được
nổi bật, nổi trội so với các đối thủ trong cùng lĩnh vực, ngành kinh doanh.
Với xuất phát điểm từ một nước nông nghiệp lạc hậu, còn nhiều hạn chế về
trình độ khoa học và kỹ thuật thì con đường nhanh nhất để tiến hành công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nước là nhanh chóng tiếp cận những công nghệ và kỹ thuật tiên
tiến của nước ngoài. Để làm được điều này thì nhập khẩu nói chung và nhập khẩu
máy và phụ tùng nói riêng đóng góp một vai trò vô cùng quan trọng cho phép phát
huy tối đa nội lực trong nước đồng thời tranh thủ được các tiến bộ khoa học kỹ
thuật, công nghệ của thế giới. Nhập khẩu thúc đẩy tái sản xuất mở rộng liên tục và
có hiệu quả vì vậy khuyến khích sản xuất phát triển
Nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực nhập khẩu máy và phụ tùng là
một việc làm vô cùng cần thiết và cấp bách hiện nay nhằm đem về những công nghệ
tốt nhất, hiện đại nhất với thời gian và chi phí ít nhất, đạt hiệu quả cao, góp phần
nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như góp phần phát triển kinh
tế nói chung. Mặc dù là một doanh nghiệp có bề dày truyền thống về nhập khẩu
1
máy móc và phụ tùng nhưng Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Máy và Phụ Tùng

chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh trong họat động nhập khẩu máy và
phụ tùng của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Máy và Phụ Tùng (SPJ)” đề
nghiên cứu và làm luận văn thạc sỹ trên cơ sở kế thừa song không trùng lặp với
những công trình đã nghiên cứu.
3. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh, năng lực
cạnh tranh, dựa trên thực trạng nhập khẩu máy và phụ tùng của Công ty Cổ phần
xuất nhập khẩu Máy và Phụ Tùng để tìm ra những giải pháp có tính khoa học và
thiết thực nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động nhập khẩu máy và phụ tùng
cho công ty trong tiến trình hội nhập.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh
trong hoạt động nhập khẩu máy và phụ tùng và thực trạng năng lực cạnh tranh của
Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Máy và Phụ Tùng trong tiến trình hội nhập, thực
trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh.
- Phạm vi nghiên cứu: là hoạt động nhập khẩu máy và phụ tùng của Công ty
cổ phần xuất nhập khẩu Máy và Phụ Tùng trong tiến trình hội nhập (từ sau đổi mới
năm 1986 đến nay)
5. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp phân tích,
tổng hợp, kết hợp với so sánh và phân tích thống kê thông qua các bảng biểu số
liệu.
6. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh
và hoạt động nhập khẩu máy và phụ tùng
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh trong hoạt động nhập khẩu máy
và phụ tùng của Công ty cổ phần XNK Máy và Phụ tùng (SPJ)
3

5
Ở Việt Nam, khi đề cập đến cạnh tranh, một số nhà khoa học đã cho rằng:
cạnh tranh là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hoá, dịch vụ (mua và bán) và đó là
con đường, phương thức để giành lấy lợi thế cao cho các chủ thể kinh tế. Từ điển
Bách khoa Việt Nam [4, tập 1] định nghĩa: Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt
động ganh đua giữa nhứng người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà
kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phố bởi quan hệ cung - cầu, nhằm
giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất. Quan niệm này đã xác
định rõ các chủ thể của cạnh tranh là các chủ thể kinh tế và mục đích của họ là
nhằm giành được các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất.
Giáo trình Kinh tế học chính trị Mác-Lênin[1] nêu ra định nghĩa: Cạnh tranh
là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất - kinh
doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất - kinh doanh,
tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Mục tiêu của
cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của
chủ thể tham gia cạnh tranh.
Nhận thức về cạnh tranh như trên giúp ta hiểu được tính động lực và sự quyết
liệt của cạnh tranh, cũng như các phương thức cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế. Từ
đó, có thể hiểu được bản chất của cạnh tranh, các loại hình cạnh tranh và năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường vốn đa dạng và rất phức
tạp.
Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và coi
cạnh tranh không những là môi trường và động lực của sự phát triển mà còn là một
yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội, tạo động lực cho sự phát
triển. Từ đó, có thể đưa ra một khái niệm khá đầy đủ về cạnh tranh như sau:
“Cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các nhà sản xuất, kinh
doanh với nhau dựa trên chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất nhằm đạt
được những điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện thúc
đẩy sản xuất phát triển”
6

số năng suất là có nghĩa cho khái niệm tính cạnh tranh quốc gia bởi vỡ đây là yếu tố
cơ bản quyết định việc nâng cao mức sống của quốc gia về dài hạn.
Ngược lại với khái niệm năng lực cạnh tranh mang tính tổng quát áp dụng ở
cấp quốc gia nói trên, quan điểm tân cổ điển dựa trên lý thuyết thương mại truyền
thống mang xem xét lợi thế cạnh tranh hay tính cạnh tranh đối với, một sản phẩm
(đồng nhất) thông qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất. Theo
Westgren (1991), năng lực cạnh tranh của một ngành/DN là năng lực duy trỡ được
lợi nhuận và thị phần trên thị trường trong và ngoài nước. Định nghĩa này được xem
là nhất quán với mục tiêu kinh doanh, đồng thời phù hợp với các mục tiêu của chính
sách kinh tế và chính sách thương mại của chính phủ.
Tuy nhiên, trong phạm vi và giới hạn đề tài nghiên cứu, tác giả sẽ chỉ đi sâu
nghiên cứu năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và ngành thường được phân tích theo
ba quan điểm chính. Theo quan điểm quản trị chiến lược chính là việc nhỡn nhận
những ưu thế về cấu trúc ngành/DN. Quan điểm này cũng đũi hỏi phải tớnh tới cỏc
nguồn lực cú tớnh “riờng biệt” cũng như những ý tưởng quản trị mới gắn liền với sự
phát triển nhảy vọt của công nghệ thông tin và thương mại điện tử. Quan điểm tân
cổ điển là tiền đề cho những phân tích dựa trên lợi thế so sánh, chi phí và các nhân
tố, đặc biệt; là các nhân tố chính sách có thể làm chệch hướng việc phân bổ các
nguồn lực. Quan điểm tổng hợp cố gắng thể hiện cả những phân tích định tính và
định lượng và cả những quan sát tĩnh và động để tạo ra một khung khổ đánh giá
hoàn chỉnh khả năng cạnh tranh ngành/DN.
Trên thực tế, quan niệm tương đối phổ biến cho rằng: “Năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp chính là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của
doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước”. Theo đó, mở
8
rộng thị phần và thu lợi nhuận cao là mục tiêu của việc nâng cao năng lực cạnh
tranh.
Từ các quan điểm và quan niệm trên tác giả có thể đưa ra khái niệm về năng
lực cạnh tranh như sau: “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo

Chất lượng sản phẩm là yếu tố cấu thành quan trọng trong năng lực cạnh
tranh của sản phẩm mà năng lực cạnh tranh của sản phẩm là yếu tố cấu thành năng
lực cạnh tranh doanh nghiệp. Vì lẽ đó mà chất lượng sản phẩm là tiêu chí để xem
xét năng lực cạnh tranh doan nghiệp. Nâng cao chất lượng của sản phẩm một mặt
làm tăng uy tín, danh tiếng của sản phẩm đó, tạo ra nhiều giá trị hơn cho khách
hàng và do đó, doanh nghiệp có thể định giá bán cao hơn (lợi thế về sự khác biệt).
Mặt khác, chất lượng của các quá tình trong nội bộ doanh nghiệp (thu mua đầu vào,
sản xuất, marketing ) được nâng cao sẽ làm tăng hiệu quả, hạ thấp chi phí đơn vị
sản phẩm.
1.1.3.4 Khả năng đổi mới của doanh nghiệp
Đổi mới được hiểu là bất ký cái gì mới trong cách thức mà doanh nghiệp hoạt
động cũng như trong sản phẩm, dịch vụ mà nó sản xuất và cung ứng. Đổi mới bao
gồm sự cải tiến hoặc sáng tạo mới các sản phẩm, quá trình sản xuất, cơ cấu tổ chức
quản lý và sản xuất - kinh doanh, các chiến lược mà doanh nghiệp xây dựng và thực
hiện. Do vậy, đổi mới thể hiện tính linh hoạt và năng động của doanh nghiệp thích
ứng với các điều kiện môi trường xung quanh.
1.1.3.5 Khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Muốn có năng lực cạnh tranh cao hơn doanh nghiệp cần phải xác định và
thoả mãn tốt hơn nhu cầu khách hàng so với đối thủ cạnh tranh. Khả năng đáp ứng
nhu cầu khách hàng của doanh nghiệp được thể hiện trên nhiều khía cạnh:
10
- Khả năng cung cấp cho khách hàng đúng hàng hoá, dịch vu họ cần, vào
đúng thời điểm mà họ muốn.
- Phạm vi danh mục sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào
cung ứng được nhiều loại và chủng loại sản phẩm sẽ có khả năng đáp ứng nhu cầu
đa dạng của khách hàng và do đó có năng lực cạnh tranh cao hơn.
- Thời gian đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Điều này tuỳ thuộc vào hoạt
động đặc thù của doanh nghiệp, thời gian đáp ứng nhu cầu được tính toán khác
nhau. Thời gian đáp ứng nhu cầu khách hàng càng được rút ngắn, năng lực cạnh
tranh càng cao.

1.1.3.7 Khả năng liên kết và hợp tác với doanh nghiệp khác và hội nhập kinh tế
quốc tế
Mỗi doanh nghiệp tồn tại trong mối liên hệ nhiều chiều với các đối tượng hữu
quan trong môi trường kinh doanh. Trong kinh doanh thường xuất hiện các nhu cầu
liên kết và hợp tác qua nhiều đối tác với nhau làm tăng năng lực cạnh tranh. Khả
năng liên kết và hợp tác của doanh nghiệp thể hiện ở việc nhận biết các cơ hội kinh
doanh mới, lựa chọn đúng đối tác liên minh và khả năng vận hành liên minh đó một
cách có kết quả và hiệu quả cao, đạt được các mục tiêu đã đặt ra. Khả năng liên kết
và hợp tác cũng thể hiện sự linh hoạt của doanh nghiệp trong việc chủ động nắm bắt
các cơ hội kinh doanh trên thương trường.
1.1.3.8 Uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp và của sản phẩm, dịch vụ.
Uy tín của doanh nghiệp với các đối tác kinh doanh (người cung ứng, khách
hàng, đối tác liên minh ) cũng là yếu tố quan trọng tạo nên lợi thế và góp phần
nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Chữ “tín” trong kinh doanh ngày
nay càng có ý nghĩa quan trọng vì nó giúp làm giảm thiểu các chi phí giao dịch,
nuôi dưỡng các mối quan hệ bền vững giữa doanh nghiệp và đối tác.
12
Một vấn đề rất quan trọng liên quan đến nâng cao uy tín của doanh nghiệp là
khả năng doanh nghiệp sẽ phát triển thành công các thương hiệu mạnh. Nếu sản
phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp có thương hiệu mạnh sẽ kích thích người mua
nhan chóng đi đến quyết định mua, nhờ đó mà thị phần của doanh nghiệp gia tăng.
Nhưng đánh giá thương hiệu của doanh nghiệp không chỉ ở số lượng các thương
hiệu mạnh và doanh nghiệp đang có mà quan trọng là đánh giá được khả năng phát
triển thương hiệu của doanh nghiệp. Khả năng đó cho thấy sự thành công tiềm tàng
của doanh nghiệp trong tương lai. Nếu doanh nghiệp có khả năng phát triển thương
hiệu thành công các sản phẩm và dịch vụ mới thì sẽ có khả năng thành công lớn hơn
trên thương trường.
1.1.4 Nội dung nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động nhập khẩu máy
và phụ tùng
Hoạt động nhập khẩu máy và phụ tùng có những đặc thù riêng về sự phức tạp

bộ máy tổ chức quản lý tốt với phương pháp quản lý thích hợp, hệ thống tổ chức
gọn nhẹ, linh hoạt, có văn hoá doanh nghiệp riêng và quản lý có hiệu quả.
- Ban lãnh đạo: Ban lãnh đạo có vai trò rất quan trọng, là người nắm toàn bộ
nguồn lực, tổ chức và vận dụng một cách có hiệu quả mang lại lợi nhuận cao. Để
nâng cao năng lực cạnh tranh cần có một ban lãnh đạo giỏi với kỹ năng quản lý tốt,
am hiểu mặt hàng máy móc thiết bị phụ tùng.
- Nguồn vốn: nhập khẩu máy móc phụ tùng nói chung và đặc biệt là những
máy móc thiết bị hiện đại đòi hỏi có nguồn vốn lớn ổn định nhằm đảm bảo ổn định
nguồn cung cấp từ đó giúp doanh nghiệp đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng.
- Nguồn nhân lực: kinh doanh nhóm hàng máy móc thiết bị phụ tùng nhập
khẩu đòi hỏi người thực hiện không những phải có trình độ nghiệp vụ kinh doanh
xuất nhập khẩu mà còn phải có kiến thức về kỹ thuật, hiểu được các tính năng kỹ
thụât, cách sử dụng, vận hành và bảo dưỡng máy móc thiết bị phụ tùng. Đội ngũ
14
nhân viên kinh doanh xuất nhập khẩu phải giỏi, có trình độ ngoại ngữ, thương mại
điện tử tốt. Nhân tố con người đóng vai trò quan trọng nhất trong hoạt động kinh
doanh của một công ty.
- Trình độ công nghệ thông tin: Để có năng lực cạnh tranh trong hoạt động
nhập khẩu nói chung và trong hoạt động nhập khẩu máy và phụ tùng nói riêng, khi
mà các tiến bộ khoa học kỹ thuật không ngừng được cải tiến, doanh nghiệp phải
được trang bị các công nghệ hiện đại giúp doanh nghiệp nhanh chóng tiếp cận thông
tin và ra được những quyết định đúng.
1.1.4.5 Uy tín, danh tiếng và thương hiệu của doanh nghiệp:.
Uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp được hình thành không phải trong chốc
lát và là bằng cả một quá trình phấn đấu lâu dài, kiên trì theo đuổi mục tiêu chiến
lược đúng đắn của mình. Với đặc thù riêng của nhóm hàng máy móc phụ tùng nhập
khẩu là thời gian sử dụng kéo dài, sản phẩm có kết cấu phức tạp nên việc giữ gìn uy
tín danh tiếng là đặc biệt quan trọng.
Trong bối cảnh cơ chế thị trường và tự do cạnh tranh như hiện nay, muốn
nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động nhập khẩu máy móc và phụ tùng thì

của một tập thể và của toàn doanh nghiệp nhằm hướng tới mục tiêu chung của toàn
doanh nghiệp Về quan hệ đối ngoại, người lãnh đạo có năng lực là người biết nhìn
xa trông rộng, có óc quan sát và phân tích, phán đoán chính xác các cơ hội, nguy cơ
từ môi trường, có khả năng xử lý tốt các mối quan hệ với các đối tượng hữu quan
bên ngoài (như khách hàng, người cung cấp, các cơ quan nhà nước, cộng đồng địa
phương ) để tận dụng thời cơ và tránh nguy cơ cho doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được quan niệm là khả năng tạo
dựng, duy trì và phát triển liên tục các lợi thế cạnh tranh một cách bền vững. Điều
này có nghĩa, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần sự quyết tâm và
16
cam kết dài hạn của lãnh đạo doanh nghiệp. Chỉ có quyết tâm và cam kết dài hạn họ
mới luôn tìm cách phát huy những lợi thế hiện có, lãnh đạo toàn bộ tổ chức sáng tạo
những lợi thế mới và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
* Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
Chiến lược kinh doanh ảnh hưởng đến việc tạo dựng và nâng cao năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp. Một mặt, chiến lược được xây dựng dựa trên lợi thế
cạnh tranh, phát huy điểm mạnh của doanh nghiệp nhằm cạnh tranh với các thủ
đoạn của đối thủ qua đó giành thắng lợi trong cạnh tranh. Mặt khác, thông qua các
chiến lược, doanh nghiệp có thể tạo dựng, duy trì và phát triển các lợi thế cạnh tranh
mới, và do đó năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng cao.
* Văn hoá doanh nghiệp
Văn hoá doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp vì yếu tố này tác động đến cách thức cá nhân, nhóm,
bộ phận tương tác với nhau và khả năng sáng tạo của họ. Nếu doanh nghiệp xây
dựng được truyền thống văn hoá thích hợp sẽ là nhân tố thuận lợi khai thông mọi ý
tưởng sáng tạo, tìm ra những cách thực hiện tốt hơn những nhiệm vụ thông thường,
nhạy cảm hơn với những thay đổi của môi trường, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của
khách hàng Ngược lại, nếu văn hoá doanh nghiệp đề cao cách làm việc mang
tính “áp khuôn”, máy móc, thụ động, không khuyến khích những ý tưởng mới sẽ
làm hạn chế khả năng đổi mới của doanh nghiệp.

đúng chủng loại và đảm bảo các yêu cầu về chất lượng nếu không doanh nghiệp sai
hẹn với khách hàng và như vậy sẽ ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh. Mặt khác,
phải thiết lập mối quan hệ tốt với người cung cấp, giúp đỡ nhau giải quyết khó khăn
trong quá trình thực hiện hợp đồng.
* Thị trường tiêu thụ sản phẩm
18
Sản phẩm được tạo ra ngày càng nhiều, càng phong phú, đa dạng và chất
lượng ngày một cao, thị trường mở rộng vừa tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh
nghiệp vừa mang lại nhiều thách thức do cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn.
Với trình độ khoa học kỹ thuật cao, ngày càng có thêm nhiều sản phẩm thay
thế gây trở ngại cho việc tiêu thụ sản phẩm, làm cho môi trường cạnh tranh trở lên
gay gắt hơn.
Bên cạnh đó, còn có nhiều rủi ro ảnh hưởng tới thị trường như thay đổi giá,
thay đổi chính sách, những biến động về chính trị, về tỉ giá cũng làm ảnh hưởng tới
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
* Môi trường thể chế và các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước
Sự ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội là điều kiện cần thiết cho các
doanh nghiệp yên tâm đầu tư, phát triển sản xuất - kinh doanh, nâng cao khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp. Sự ổn định chính trị và đảm bảo trật tự an toàn xã hội
làm giảm rủi ro trong kinh doanh, hấp dẫn đầu tư nước ngoài.
1.2 Hoạt động nhập khẩu máy và phụ tùng.
1.2.1 Khái niệm
1.2.1.1 Khái niệm về nhập khẩu hàng hoá
Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của hoạt động ngoại thương, là một
trong hai hoạt động cơ bản cấu thành hoạt động ngoại thương. Theo Từ điển Tiếng
Việt của NXB Khoa học Xã hội năm 1998 “Nhập khẩu là một hoạt động chỉ hành
động mang một vật từ nước ngoài vào trong nước”. Trong giáo trình Kinh tế ngoại
thương của Trường Đại học Ngoại thương (NXB Giáo dục) định nghĩa “Nhập khẩu
là việc mua hàng hoá và dịch vụ của nước ngoài”. Theo Luật Thương mại 2005
được Quốc hội khoá XI thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 ở Điều 28 mục 2 nêu

1.2.2.1 Đáp ứng nhu cầu thiếu hụt trong nước.
Việt Nam với xuất phát điểm là một nước còn lạc hậu về nhiều mặt. Tỉ lệ đầu
tư cho đổi mới công nghệ quá thấp, chỉ khoảng 0,2-0,3% doanh thu trong khi Ấn
20
Độ là 5% Hàn Quốc là 10%. Tỉ lệ đổi mới máy móc và thiết bị của Việt Nam hàng
năm cũng chỉ đạt 8-10% trong khi các nước trong khu vực tỉ lệ tương ứng là 15-
20%. Khả năng đáp ứng nhu cầu trong nước về máy và phụ tùng chỉ đạt 8-10% nhu
cầu ở những năm 1990 và tăng lên cũng chỉ đạt khoảng 35% nhu cầu trong giai
đoạn hiện nay. Như vậy, phần nhập khẩu máy và phụ tùng xây dựng nhà máy đã
chiếm từ 27,5% tới 30,5% tổng kim ngạch nhập khẩu[3] . Một số ngành nghề của
Việt Nam vẫn còn lạc hậu về công nghệ vì vậy hoạt động nhập khẩu không chỉ bù
đắp sự thiếu hụt về lượng mà còn bù đắp sự thiếu hụt về chất cho nền kinh tế Việt
Nam.
1.2.2.2 Thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế theo hướng công nghiệp
hoá
Cuối thế kỷ 20, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra nghị quyết chính thức
khởi xướng và lãnh đạo tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây là
một nhiệm vụ rất khó khăn trong bối cảnh quốc tế đa dạng, phức tạp và nhiều chông
gai. Buổi đầu bước vào thị trường, các doanh nghiệp chế tạo máy còn chưa bắt kịp
quy chế mới. Chính vì vậy, chúng ta phải chuyển giao công nghệ bằng cách nhập
khẩu sau đó ứng dụng, cải tiến có sáng tạo rồi mới đưa vào sản xuất.
1.2.2.3 Tăng tốc độ cơ khí, tự động hoá
Hiện nay ở Việt Nam, các thiết bị cơ điện của nhiều doanh nghiệp quá cũ,
mức tự động hoá thấp. Do đó, muốn tân trang lại các nhà máy, dây truyền tự động,
thay thế, sửa chữa các thiết bị cần nhập khẩu hàng từ nước ngoài.
1.2.2.4 Tăng năng suất lao động xã hội và đẩy mạnh phân công lao động và thúc
đẩy xuất khẩu.
Theo tiêu chuẩn thông thường trên thế giới, muốn trở thành một nước công
nghiệp thì tỉ trọng lao động làm nông nghiệp phải thấp hơn 10% trong tổng số
người trong độ tuổi lao động. Lao động của ngành công nghiệp sản xuất chủ chốt

Thuê
phươn
g tiện
vận tải
Mua
bảo
hiểm
h ng à
hoá
L m à
thủ
tục
hải
quan
Nhậ
n
h ngà
Kiểm
tra
h ng à
hoá
nhập
khẩu
L m à
thủ
tục
thanh
toán
Khiếu
nại

rất lớn đối với hiệu quả thương mại quốc tế.
24
* Lựa chọn khách hàng
Việc nghiên cứu tình hình thị trường giúp cho đơn vị kinh doanh lựa chọn thị
trường, thời cơ thuận lợi, lựa chọn phương thức mua bán và điều kiện giao dịch
thích hợp. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, kết quả hoạt động kinh doanh còn
phụ thuộc vào khách hàng. Trong cùng những điều kiện như nhau, việc giao dịch
với khách hàng cụ thể này thì thành công, với khách hàng khác thì bất lợi.
Để lựa chọn khách hàng, không nên căn cứ vào những lời quảng cáo, tự giới
thiệu, mà cần tìm hiểu khách hàng về thái độ chính trị của thương nhân, khả năng
tài chính, lĩnh vực kinh doanh và uy tín của họ trong kinh doanh.
* Lập phương án kinh doanh
Dựa trên cơ sở nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước ta tiến hành lập
phương án kinh doanh hàng nhập khẩu. Phương án kinh doanh được lập đầy đủ và
chính xác sẽ giúp cho doanh nghiệp lường trước được những rủi ro và đạt hiệu quả
cao trong kinh doanh.
Trình tự lập một phương án kinh doanh hàng nhập khẩu bao gồm các bước
sau:
- Nhận định tổng quát về tình hình diễn biến thị trường.
- Đánh giá khả năng của doanh nghiệp.
- Xác định thị trường, mặt hàng nhập khẩu và số lượng mua bán.
- Xác định đối tượng giao dịch để nhập khẩu.
- Xác định thị trường và khách hàng tiêu thụ.
- Xác định giá cả mua bán trong nước.
- Đề ra các biện pháp thực hiện.
1.2.3.2 Giao dịch đàm phán ký kết hợp đồng
* Giao dịch, đàm phán
Sau giai đoạn nghiên cứu môi trường marketing quốc tế, thị trường, lựa chọn
được khách hàng, mặt hàng kinh doanh, hoạch định phương án kinh doanh, bước
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status