LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian dài học tập, tìm hiểu và nghiên cứu, cùng với sự nỗ lực
của bản thân, sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè. Em đã hoàn
thành bài khoá luận này.
Trước tiên em xin chân thành cảm ơn TS. Phạm Huy Vinh, người đã trực
tiếp hướng dẫn em từ khi lựa chọn đề tài, cho đến khi hoàn thành khoá luận. Sự chỉ
bảo tận tình của thầy đã giúp em định hướng được tốt hơn trong quá trình thực hiện
đề tài.
Em xin cảm ơn Cô giáo Nhữ Kim Huế, giáo viên chủ nhiệm lớp Kinh tế
K11 cùng các thầy cô giáo trong khoa Quan Hệ Quốc Tế đã nhiệt tình giúp đỡ,
cung cấp thông tin và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em có thể hoàn thành bài khoá
luận này.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã ủng
hộ em trong suốt thời gian vừa qua.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 01 tháng 0 5 năm 2009.
Sinh viên
Bùi Thị Quỳnh Trang
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT Nội dung cần viết tắt Từ viết tắt
1 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài DNVNN
2 Doanh nghiệp trong nước DNTN
3 Đầu tư nước ngoài ĐTNN
4 Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
5 Tổ chức Thương mại Thế giới WTO
6 Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình
Dương
APEC
7 Diễn đàn kinh tế Khu vực Á - Âu ASEM
8 Đô la Mỹ USD
9 Quản lý nhà nước QLNN
10.Http:// www.mof.gov.vn.Deffault. Aspx?tabid=612<emID=31186
DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG
STT Kí hiệu Tên Hình,Bảng Trang
I/ Các Hình
1 Hình 1.1 Các công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước đối với các
DNVNN
5
2 Hình 2.1 Vòng luẩn quẩn của các nước có nền kinh tế chậm
phát triển
21
3 Hình 2.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
tính đến ngày 19/12/2008 (theo tỷ trọng dự án)
22
4 Hình 2.3 Cơ cấu vốn FDI cấp mới năm 2008 phân theo lĩnh
vực đầu tư
32
5 Hình 2.4 Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện theo giá thực tế phân
theo thành phần kinh tế
38
II/ Các Bảng
1 Bảng 2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép thời kì
1988 - 2007
25
2 Bảng 2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2008 27
3 Bảng 2.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài cấp mới năm 2008 theo
hình thức đầu tư
28
4 Bảng 2.4 Tăng vốn 12 tháng 2008 phân theo ngành 30
5 Bảng 2.5 FDI được cấp phép thời kì 1988 – 2007 phân theo
ngành
Bên cạnh Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục chữ viết tắt, Danh mục tài liệu
tham khảo và Phụ lục, Nội dung chính của bài viết được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài và kinh nghiệm của một số nước
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với các DNVNN ở
Việt Nam.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN đối với
các DNVNN.
Trong quá trình thực hiên khoá luận, mặc dù nhận được sự giúp đỡ nhiệt
tình của thầy giáo hướng dẫn cũng như các thầy cô giáo trong khoa Quan Hệ
Quốc Tế, sự nỗ lực của bản thân, nhưng do kiến thức và trình độ của em còn
hạn chế, thời gian nghiên cứu có hạn nên khoá luận sẽ không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong sẽ nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các
bạn để em có được nhận thức toàn diện hơn, sâu sắc hơn về vấn đề này.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH
NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT
SỐ NƯỚC
1. Cơ sở lý luận về Quản lý Nhà nước đối với các Doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài.
1.1. Chức năng quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước.
1.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế và phát triển các
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước ở Việt Nam, việc thu hút các
nguồn vốn nước ngoài là vấn đề cấp bách nhằm thực hiện mục tiêu, chiến lược
phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 mà Đại hội Đảng X đã đề ra là đưa nước ta
cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Muốn đạt được mục tiêu trên, nước ta phải
hoàn thành sự nghiệp CNH – HĐH, nói cách khác chúng ta phải tăng cường thu
hút và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN).
Nghị quyết Trung ương 9 khoá IX năm 2004 đã đề ra nhiêm vụ: “Tạo
Đảm bảo tăng trưởng, phát triển nền kinh tế một cách mạnh mẽ, ổn định và bền
vững.
Đảm bảo phân phối một cách công bằng các nguồn lực cũng như kết quả đạt
được của nền kinh tế. Trong đó, việc phân phối nguồn lực được thực hiện theo
nguyên tắc cạnh tranh, bình đẳng trước pháp luật và đảm bảo hiệu quả cao. Nghĩa
là, Nhà nước phải tạo lập môi trường pháp lý sao cho mỗi đơn vị sản xuất kinh
doanh trong nền kinh tế, trong đó có các DNVNN đều có cơ hội bình đẳng như
nhau.
Bên cạnh môi trường pháp lý đồng bộ, hoàn chỉnh thì các môi trường khác
cũng phải được đảm bảo: Môi trường kinh tế nhiều tiềm năng; môi trường các
nguồn lực dồi dào, phong phú; môi trường hành chính thuận tiện, nhanh chóng, đáp
ứng được yêu cầu của quản lý kinh tế, quản lý sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp cũng như tăng khả năng giải quyết quan hệ lợi ích giữa các chủ thể kinh tế
trong nền kinh tế thị trường.
Để tạo lập những môi trường trên, Nhà nước đã sử dụng các công cụ quản lý
vĩ mô bao gồm:
Hình 1.1: Các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với các DNVNN.
Các chính sách kinh tế - xã hội: là tổng thể các quan điểm, chuẩn mực, các
biện pháp mà chủ thể quản lý – Nhà nước sử dụng nhằm tác động lên đối tượng để
đạt được những mục tiêu chung của đất nước.
Bộ máy nhà nước: Bao gồm các cơ quan quyền lực Nhà nước, các cơ quan
quản lý Nhà nước, các cơ quan kiểm sát và xét xử, các cán bộ công chức Nhà
nước. Bộ máy Nhà nước khi phối hợp hoạt động nhịp nhàng sẽ thực hiện tốt các
chức năng nói chung của Nhà nước, trong đó có chức năng quản lý kinh tế - xã hội.
Các công cụ quản lý vĩ
mô của Nhà nước đối với
các DNVNN
Các
chính
sách
Kết cấu
hạ tầng
Các
DNV
NN
Tài sản công: Bao gồm các nguồn vốn, các phương tiện vật chất mà Nhà
nước thay mặt quản lý và sử dụng để điều hành xã hội như: Ngân sách, tài sản tự
nhiên, Kho bạc Nhà nước, kết cấu hạ tầng v.v…
Pháp luật: là hệ thống các quy tắc xử xự mang tính bắt buộc chung do Nhà
nước đặt ra và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và cộng
đồng xã hội. Pháp luật là công cụ quản lý quan trọng nhất của bất kì một xã hội
nào, pháp luật cũng giữ vai trò quan trọng trong quản lý kinh tế.
Kế hoạch và các quyết định hành chính: trong đó, kế hoạch là tập hợp các
mục tiêu, nhiệm vụ, nguồn lực phải có để thực hiện mục tiêu chung. Các quyết
định hành chính Nhà nước là sản phẩm trí tuệ của các nhà lãnh đạo, công chức nhà
nước để điều hành, quản lý thông qua các mệnh lệnh đơn phương và duy trì sự ổn
định.
Ngoài các công cụ trên, Nhà nước còn sử dụng công cụ văn hoá truyền
thống để quản lý kinh tế - xã hội. Văn hoá là toàn bộ của cải vật chất và tinh thần
do con người tạo ra trong thực tiễn lịch sử dân tộc. Văn hoá vừa là nền tảng, thước
đo, chuẩn mực, vừa là mục tiêu, động lực, lại vừa là hệ điều tiết sự phát triển kinh
tế - xã hội của mỗi Quốc gia.
1.1.3. Sự cần thiết phải sử dụng các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước
đối với các DNVNN.
Sự tồn tại và phát triển của các DNVNN ở mỗi Quốc gia nói chung và đặc
biệt ở các nước có nền kinh tế chậm phát triển nói riêng là một tất yếu khách quan
và có sự tác động tích cực đến nền kinh tế các Quốc gia bởi:
Thông qua các DNVNN, việc thu hút vốn ĐTNN đã tạo ra nguồn vốn bổ
sung quan trọng, bù đắp cho sự thiếu hụt vốn trong nước ở nước nhận đầu tư.Việc
phát triển kinh tế đòi hỏi phải huy động mọi nguồn vốn trong nước và ngoài nước,
nhập, thu hút ĐTNN, kết hợp sức mạnh nội lực với sức mạnh ngoại lực, còn Quốc
gia nào biết tận dụng và phát huy sự ủng hộ từ bên ngoài sẽ đạt được tốc độ tăng
trưởng cao hơn.
Một trong những chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tư và đóng
góp của nó đối với nền kinh tế một quốc gia là chỉ số ICOR (Incremental Capital
Output Ratio).
ICOR = I/∆ GDP
(∆ GDP = GDPt – DGPt-1)
Ý nghĩa: Để GDP tăng trưởng một đơn vị cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư
Triển khai chỉ số ICOR:
Lấy k = I/GDP, g = ∆ GDP/GDP vậy ICOR = k/g
Trong đó: ICOR: tỷ lệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng kinh tế
I: vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế
∆ GDP: mức tăng tổng sản phẩm quốc nội
k: tỷ lệ giữa vốn đầu tư và tổng sản phẩm quốc nội
g: tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
suy ra: k = ICOR . g
Như vậy, nếu hệ số ICOR không đổi thì tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP (k) sẽ
quyết định tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế (g). Tỷ lệ đầu tư càng cao thì tốc độ
tăng trưởng càng cao và ngược lại.
Năm 1995, ICOR của Việt Nam là 3,39 thì năm 2007, 2008 đã lên tới gần 6.
(theo http:// www.mof.gov.vn/Default.aspx?tabid=612&ItemID=31186).
FDI thông qua các DNVNN giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế do tác động của
vốn và khoa học công nghệ. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là đòi hỏi của
bản thân mỗi nền kinh tế trong quá trình phát triển mà còn là đòi hỏi của xu thế hội
nhập ngày nay. Các nước khi hội nhập vào nền kinh tế Thế giới là tham gia vào
quá trình phân công lao động Quốc tế, muốn đạt được lợi ích các Quốc gia phải
thực hiện chuyển dịch cơ cấu, tập trung chuyên môn hoá vào những ngành là lợi
thế của Quốc gia mình. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế khi phù hợp với trình độ
phát triển chung trên Thế giới sẽ tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước
là bước quan trọng nhất chi phối toàn bộ quá trình quản lý các DNVNN.
Bước 2: Hình thành, tổ chức bộ máy thích hợp để quản lý và sử dụng tài sản
quốc gia có hiệu quả.
Bước 3: Sử dụng đội ngũ cán bộ, người quản lý phù hợp với mục tiêu của bộ
máy để quản lý DNVNN cũng như tham gia trực tiếp tại các doanh nghiệp đó.
Bước 4: Lựa chọn phương pháp và hình thức quản lý các DNVNN có hiệu
quả trong từng phạm vi cụ thể.
Bước 5: Tạo lập và khai thác các thời cơ có lợi cho việc sử dụng các
DNVNN, đổi mới cơ chế và phương thức quản lý cho phù hợp với sự thay đổi
khách quan.
Tăng cường công tác quản lý của Nhà nước đối với các DNVNN bằng các
công cụ vĩ mô là hết sức cần thiết để tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp này phát
triển có hiệu quả, đồng thời hạn chế tối đa những rủi ro gặp phải trong quá trình
tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài.
1.2. Quá trình hình thành pháp luật để quản lý các DNVNN ở Việt Nam.
1.2.1. Giai đoạn 1987-1996.
Việc quản lý Nhà nước đối với hoạt động đầu tư ở Việt Nam lần đầu tiên
được thể hiện bằng văn bản pháp luật với sự ra đời của điều lệ ĐTNN do Hội đồng
Bộ trưởng ban hành kèm theo Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977. Điều lệ
ĐTNN (1977) được coi là văn kiện pháp lý đầu tiên hướng vào nền kinh tế thị
trường, thể hiện bước đầu quan điểm của Đảng và Nhà nước về nguồn vốn đầu tư
nước ngoài.
Tuy nhiên, điều lệ ĐTNN (1977) nói chung vẫn là sự thể chế hoá chính sách
nên còn thiếu những quy định cụ thể và chưa tạo được cơ sở, hiệu lực pháp lý cao.
Mặt khác, từ năm 1977 đến năm 1986 do sự bao vây, cấm vận kinh tế của Mỹ,
những khó khăn về kinh tế - xã hội của đất nước, hệ thống pháp luật chưa hoàn
chỉnh làm cho hoạt động ĐTNN chưa thu được nhiều thành tựu.
Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam (1986) đã đề ra đường lối
đổi mới với nội dung chủ yếu là xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,
cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Lúc này,
Bộ, Ngành, Địa phương; cơ chế phối hợp, báo cáo giữa các cơ quan cấp giấy phép
đầu tư với nhau. Lần sửa đổi này đã bổ sung và sửa đổi một số vấn đề cơ bản nhằm
tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động của các
DNVNN; mở rộng quyền tự chủ trong quản lý kinh doanh của các DNVNN, giảm
sự can thiệp không cần thiết của nhà nước, bên cạnh đó là những điều chỉnh về
miễn thuế nhập khẩu, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.
1.2.3. Quá trình tiếp tục hoàn thiện pháp luật, chính sách liên quan đến đầu
tư nước ngoài giai đoạn mới.
Trong những năm qua, hệ thống các văn bản pháp luật về đầu tư của Việt
Nam đã góp phần điều chỉnh khá toàn diện hoạt động đầu tư trong và ngoài nước.
Tuy nhiên, trước yêu cầu tăng cường hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế mà trực
tiếp nhất là thực hiện các thoả thuận trong Hiệp định Đầu tư Khu vực ASEAN,
Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, pháp luật về đầu tư ở Việt Nam đã
bộc lộ nhiều hạn chế cần khắc phục. Sự chưa hoàn thiện và thiếu đồng bộ của hệ
thống pháp luật điều chỉnh các hoạt động kinh doanh nói chung chính là trở ngại
lớn nhất cho các nhà đầu tư tại Việt Nam.
Thực tế đã đặt ra yêu cầu phải không ngừng hoàn thiện môi trường pháp lý
về đầu tư. Trong nhiều nỗ lực nhằm cải thiện môi trường đầu tư ở Việt Nam thời
gian qua, tâm điểm phải kể đến việc Quốc hội thông qua Luật Đầu tư ngày
29/11/2005. Việc ban hành Luật Đầu tư (2005) là một bước tiến lớn trong sự phát
triển của pháp luật đầu tư hướng vào việc tạo cơ sở pháp lý bình đẳng, thống nhất
trong khuyến khích, đảm bảo đầu tư trong và ngoài nước.
Trong Luật Đầu tư (2005), chế định QLNN về đầu tư được quy định rất rõ
ràng và cụ thể. So với các văn bản pháp luật về đầu tư trước đây, có thể nói đây là
đạo luật có những quy định chi tiết nhất về nội dung, trách nhiệm của QLNN về
đầu tư nói chung và đầu tư nước ngoài nói riêng.
1.2.4. Các thoả thuận pháp lý song và đa phương của Chính phủ Việt Nam
về ĐTNN.
Đến nay, Việt Nam đã kí hơn 45 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư
với nước ngoài và vùng lãnh thổ, trong đó có Hiệp định Thương mại Việt Nam –
Là một quốc gia nhỏ nhưng Singapo đã đạt được những thành tựu rất ấn
tượng về phát triển kinh tế, điều đó là do một phần quốc gia này đã xây dựng được
một khung pháp luật về đầu tư được đánh giá là thông thoáng nhất trên thế giới.
Singapo khuyến khích ĐTNN, nhất là đối với những dự án đầu tư vào các ngành
công nghiệp mũi nhọn với mục tiêu cải tạo cơ sở công nghệ trong nước và nâng
cao hơn nữa chất lượng nhân công. Singapo không giới hạn liên kết giữa các công
ty của các nước khác nhau, trái lại, Singapo công nhận và khuyến khích sự phát
triển của các công ty đa quốc gia hoạt động trên lãnh thổ quốc gia này.
Cơ quan thực hiện chức năng QLNN về đầu tư là hội đồng phát triển kinh tế
Singgapo (EDB) trực thuộc Bộ thương mại và Công nghiệp Singapo. Hội đồng này
hoạt động theo cơ chế “một cửa” cho hoạt động đầu tư, chịu trách nhiệm cung cấp
thông tin hỗ trợ cho các nhà đầu tư.
Điểm khác biệt của pháp luật đầu tư tại Singapo là không có đạo luật đầu tư
riêng để điều chỉnh các quan hệ đầu tư nước ngoài mà các quan hệ ĐTNN được
điều chỉnh trong cùng một hệ thống pháp luật kinh doanh với các quan hệ ĐTTN.
Điều này chứng tỏ Singapo không phân biệt giữa ĐTTN và ĐTNN, thể hiện sự
bình đẳng giữa các nhà đầu tư.
Singapo là một trong những nước đi đầu và thành công trong việc thu hút
vốn ĐTNN phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế đất nước. Hệ thống pháp luật
nói chung và pháp luật đầu tư nói riêng rất phát triển và hoàn thiện, có hiệu quả
cao trong việc thu hút vốn đầu tư; Cơ quan QLNN về đầu tư hoạt động có hiệu
quả. Chính những điều này tạo nên một Singapo có khả năng cạnh tranh cao vào
bậc nhất trên Thế giới.
2.3. Trung Quốc.
Trung Quốc bắt đầu tiến hành mở cửa cải cách nền kinh tế từ năm 1978 và
đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn.
Các đạo luật chủ yếu quy định về ĐTNN tại Trung Quốc là Luật Liên doanh
góp vốn giữa Trung Quốc và nước ngoài, Luật Doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài, Luật liên doanh theo hợp đồng giữa Trung Quốc với nước ngoài, Luật thuế
thu nhập liên quan đến ĐTNN và DNVNN.
được những khoản tư bản to lớn nên đã tiến hành xuất khẩu tư bản ra khỏi nước
mình để tìm kiếm lợi nhuận, việc đầu tư tư bản ra nước ngoài là một quá trình phát
triển tất yếu khách quan của sản xuất kinh doanh, đó là quá trình tích tụ và tập
trung tư bản vượt quá giới hạn khuôn khổ một quốc gia, đòi hỏi phải được thoát ra
khỏi lãnh thổ để tiếp tục quá trình phát triển của các hoạt động kinh doanh.
Kết quả của hoạt động xuất khẩu tư bản là hình thành nên những nhà đầu tư
nước ngoài – các tổ chức kinh tế, các cá nhân nước ngoài, các nhà đầu tư nước
ngoài là những chủ thể quan trọng của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài hình
thành nên các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Như vậy, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một hình thức tổ chức
kinh doanh quốc tế trong đó có ít nhất một bên là nhà ĐTNN, bỏ vốn trực tiếp để
tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động dịch vụ hoặc các hoạt
động nghiên cứu vì mục tiêu sinh lời phù hợp với các quy định luật pháp của nước
sở tại và thông lệ quốc tế, DNVNN thực hiện việc đầu tư trực tiếp của các nhà
ĐTNN vào các nước sở tại, nó là hình thức mà nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp bỏ
vốn vào kinh doanh ở một nước khác.
Theo khái niệm của IMF: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt
động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh
nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế của nước chủ
đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự.
Luật Đầu tư năm 2005 mà Quốc hội khoá XI - nước CHXHCN Việt Nam đã
thông qua có các khái niệm “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp’’, “đầu tư nước ngoài”, “đầu
tư ra nước ngoài” nhưng không có khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài”. Tuy
nhiên, từ các khái niệm trên, có thể hiểu FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư
nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc
nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở nước
ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Như vậy, thực chất FDI là sự đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài đóng góp vốn
đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ và trực tiếp tham gia điều hành đối
tượng mà họ đã góp vốn tạo nên, về hình thức, FDI chỉ diễn ra dưới một số dạng.
vốn pháp định sau khi nộp thuế cho Nhà nước.
Doanh nghiệp có vốn nước ngoài thường được thực hiện thông qua việc xây
dựng doanh nghiệp mới hoàn toàn hoặc mua lại toàn bộ hay từng phần doanh
nghiệp đang hoạt động hoặc sáp nhập các doanh nghiệp với nhau. Ở Việt Nam,
mới chỉ có rất ít hoạt động mua lại và sáp nhập, có thể lấy một vài ví dụ như:
Unilever mua lại nhãn hiệu kem đánh răng P/S hoặc Kinh Đô mua lại nhãn kem
Wall’s trên thị trường Việt Nam của Unilever.
Việc tiếp nhận FDI của các DNVNN không gây nên tình trạng nợ nước ngoài
cho nước chủ nhà, mà ngược lại nước chủ nhà nhận được sự giúp đỡ của nước ngoài
đồng thời có thể sử dụng, định hướng vào những mục tiêu trong phát triển kinh tế
nước nhà.
Nhà đầu tư tham gia vào các DNVNN thường là các công ty xuyên quốc gia
(TNCs) và các công ty đa quốc gia (MNCs) – các công ty chiếm đến 90% nguồn
vốn FDI đang luân chuyển trên toàn Thế giới. Các chủ đầu tư này thường có tỷ lệ
góp vốn rất cao nên có khả năng trực tiếp kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp và
đưa ra những quyết định có lợi cho việc sản xuất kinh doanh do có kinh nghiệm
quản lý tốt.
Quyền lợi của nhà ĐTNN gắn chặt với nguồn vốn bỏ ra nên họ rất quan tâm
đến hiệu quả kinh doanh, từ đó họ lựa chọn công nghệ thích hợp kết hợp với nâng
cao trình độ quản lý và tay nghề cho người lao động, điều này không chỉ mang lại
hiệu quả cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mang lại lợi nhuận cho chủ
đầu tư nước ngoài mà nước nhận đầu tư cũng có lợi.
1.1.3. Tính tất yếu của việc tồn tại và phát triển các DNVNN.
Thực tế đã cho thấy việc di chuyển vốn ra nước ngoài để mở rộng sản xuất
kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận là một xu thế tất yếu, vốn đầu tư lại là yếu tố rất
cần thiết cho việc mở rộng quy mô sản xuất, thay đổi kỹ thuật, công nghệ cho hiện
đại và hiệu quả hơn.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế của các quốc gia không tồn
tại riêng lẻ mà tham gia vào nền kinh tế chung trên toàn Thế giới, hình thành nên
luồng vốn hai chiều giữa các Quốc gia để khai thác tối đa lợi thế so sánh của mỗi
19/12/2008 (theo tỷ trọng dự án)
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
1.2.1. Doanh nghiệp liên doanh.
Doanh nghiệp liên doanh là loại hình doanh nghiệp do hai bên hay nhiều bên
phía nước ngoài và nước nhận đầu tư (nước chủ nhà) hợp tác cùng góp vốn, cùng
kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận, cùng chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ góp vốn của mỗi
bên trong vốn pháp định.
Hình thức này thường được các nước chủ nhà ưa chuộng vì thông qua doanh
nghiệp này nước chủ nhà có điều kiện tiếp thu kỹ thuật, công nghệ mới, học tập
kinh nghiệm quản lý, đào tạo đội ngũ lao động và tiếp cận thị trường quốc tế.
Nhưng yêu cầu đặt ra đối với nước chủ nhà là phải đáp ứng được những điều kiện
về vốn, trình độ quản lý doanh nghiệp cùng với bên nước ngoài thì mới đạt được
hiệu quả mong muốn.
Doanh nghiệp liên doanh là loại hình DNVNN có vị trí quan trọng ở Việt
Nam cả về quy mô hợp tác lẫn hiệu quả mang lại. Một số doanh nghiệp điển hình
là Liên doanh dầu khí giữa Việt Nam và Liên Bang Nga thiết lập năm 1980, trong
năm 1998 bán được 12,3 triệu tấn dầu thô, trị giá 1,3 tỷ USD; Liên doanh Khách
sạn Hà Nội – Sheraton với số vốn đăng kí 780 triệu USD, Công ty liên doanh
Honda Việt Nam với vốn đăng kí 100 triệu USD v.v…
1.2.2. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà
đầu tư nước ngoài. Loại doanh nghiệp này có thể do một hoặc nhiều tổ chức hoặc
cá nhân người nước ngoài thành lập tại nước nhận đầu tư, họ tự đứng ra tổ chức