Trước hết tôi xin trân trọng cám ơn các thầy cô giáo khoa Luật
trường Đại học Khoa học Huế đã tận tình truyền đạt cho tôi những
kinh nghiệm, kiến thức quý báu trong suốt thời gian học ở trường.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cám ơn ThS. Thái Tăng Bang
đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và
hoàn thành khóa luận này.
Đồng thời tôi xin gửi lời cám ơn đến Sở Kế hoạch và Đầu tư
tỉnh Thừa Thiên Huế đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc
thu thập thông tin nghiên cứu.
Do thời gian thực tập hạn chế nên Khóa luận còn nhiều thiếu
sót. Kính mong quý thầy cô giáo và những người quan tâm tiếp tục
giúp đỡ, đóng góp ý kiến để Khóa luận được hoàn thiện hơn.
Huế, tháng 5 năm 2009
Sinh viên thực hiện
Đoàn Thò Cẩm Vân
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNXH : Chủ nghĩa xã hội.
XHCN : Xã hội chủ nghĩa.
UBND : Uỷ ban nhân dân.
1
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài.
FIE : Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
KCN : Khu công nghiệp.
TKCN : Tiểu khu công nghiệp.
KCNC : Khu công nghệ cao.
KCX : Khu chế xuất.
WTO : Tổ chức thương mại quốc tế.
AFTA : Khu vực mậu dich tự do Đông Nam Á.
MUTRAP : Dự án hỗ trợ thương mại đa biên.
MỤC LỤC
Trang
thể thấy các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Tình hình kinh tế thời gian qua đã trải qua nhiều biến động. Điều đó đã
tác động không nhỏ đến nền kinh tế nuớc ta. Trong khi đó chính sách pháp luật
tại Việt Nam mới ở mức “tháo gỡ”. Còn nhiều quy định cản trở đầu tư cần gỡ
bỏ. Không nói đến việc các luật, nghị định bị “treo”, mà tư duy quản lý kinh tế
ở Việt Nam nói chung và Thừa Thiên-Huế nói riêng cũng còn nhiều điểm đáng
lo nghĩ. Đây chính là một trong những nguyên nhân hạn chế sự phát triển của
kinh tế nước ta.
Vì các lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: “Pháp luật về quản lý nhà
nuớc đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thực tiễn áp dụng
tại Thừa Thiên-Huế” nghiên cứu đề tài này sẽ tìm ra được những giải pháp
nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nuớc đối với các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài. Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý Nhà nước đối với khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài tiến tới hoàn thiện một số điều của Luật đầu tư,
xây dựng Luật doanh nghiệp thống nhất góp phần khắc phục những khó khăn
trong quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam cũng như tại Thừa Thiên-Huế trong thời gian tới.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu đề tài “Pháp luật về quản lý nhà nuớc đối với các doanh
4
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và thực tiễn áp dụng tại Thừa Thiên-Huế” với
những mục đích sau:
Nghiên cứu lý luận pháp luật về quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài.
Nhằm củng cố kiến thức đã học, nâng cao sự hiểu biết về quản lý nhà
nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nói chung
và Thừa Thiên-Huế nói riêng.
Nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật về quản lý Nhà nước đối với
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Từ đó tìm ra những bất cập, hạn chế
vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về quản lý Nhà nước đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Thừa Thiên-Huế. Giải pháp và kiến nghị.
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và vai trò quản lý của Nhà nước
1.1.1. Khái niệm quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp
Nói một cách khái quát, quản lý Nhà nước là sự tác động của Nhà nước
vào toàn bộ hoạt động của nền kinh tế quốc dân nói chung, doanh nghiệp nói
riêng bằng hệ thống luật pháp, chính sách tổ chức, các chế tài về kinh tế - tài
chính và các công cụ quản lý để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với
nền kinh tế, nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, ổn định tình hình chính trị
- xã hội của đất nước. Ở mỗi quốc gia, khi vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị
trường đều có sự giống nhau là chịu sự chi phối và tác động của các quy luật
kinh tế bằng hệ thống pháp luật, chính sách cơ chế thực hiện. Và tùy theo bản
chất kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và trình độ khác nhau về nhận thức, vận
dụng các quy luật kinh tế của Nhà nước mà nền kinh tế cũng như hệ thống các
6
doanh nghiệp của nước đó phát huy hiệu lực và hiệu quả khác nhau. Điều đó
càng nói nên tầm quan trọng đặc biệt của hoạt động quản lý Nhà nước đối với
doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Như vậy, có thể hiểu: quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp là sự tác động
có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước và thông qua một hệ thống các chính
sách kinh tế với các công cụ kinh tế lên hệ thống các doanh nghiệp trong nền kinh
tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực phát triển kinh tế, các
cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đã đặt ra.
Khái niệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
thực hiện chiến lược, quy hoạch và kế hoạch định hướng phát triển kinh tế xã hội.
Dựa trên chiến lược phát triển kinh tế xã hội đã được hoạch định trong
từng thời kỳ, Nhà nước định hướng phát triển cho từng loại hình doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế trong từng thời kỳ đó, gắn chặt với các quy hoạch
phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung, từng ngành, từng lĩnh
vực, từng vùng lãnh thổ nói riêng. Trên cơ sở chiến lược phát triển doanh
nghiệp đó, Nhà nước mà củ thể là các cơ quan quản lý Nhà nước sẽ tiếp tục lập
ra các bản quy hoạch và các dự án đầu tư củ thể nhằm từng bước thực thi
những chỉ tiêu đã được đề cập trong chiến lược phát triển doanh nghiệp.
Tổ chức các hoạt động đào tạo. Bồi dưỡng nghiệp vụ nâng cao đạo đức
kinh doanh cho người quản lý doanh nghiệp, phẩm chất chính trị, đạo đức
nghiệp vụ cho cán bộ quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp đào tạo và xây
dựng đội ngũ công nhân lành nghề.
Thực hiện chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp theo định hướng và mục
tiêu của chiến lược quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội.
Nội dung quản lý Nhà nước này thể hiện ở việc Nhà nước xây dựng và
ban hành các cơ chế chính sách, biện pháp củ thể nhằm khuyến khích, hỗ trợ,
phát triển các doanh nghiệp phù hợp với định hướng mục tiêu phát triển trong
từng giai đoạn và phù hợp với đặc điểm của từng ngày, từng lĩnh vực và ở từng
địa bàn lãnh thổ. Đồng thời Nhà nước cũng áp dụng các biện pháp ưu đãi mang
tính chất bảo hộ quốc gia và đãi ngộ tối huệ quốc.
8
Kiểm tra thanh tra hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, xử lý các hành
vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp, của cá nhân và tổ chức có liên quan
theo quy định của pháp luật.
Hoạt động kiểm tra giám sát sự tuân thủ pháp luật của các doanh nhân
trong quá trình hoạt động trong nền kinh tế là một nội dung cơ bản của công
tác quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp. Hoạt động này sẽ được diễn ra
trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp, kể từ lúc doanh nghiệp được
“khai sinh” trong nền kinh tế. Tức là từ khi doanh nghiệp được các cơ quan
tăng trưởng kinh tế. Luật Đầu tư chung sẽ thay thế Luật khuyến khích
đầu tư trong nước và Luật đầu tư nước ngoài, góp phần tạo khuôn khổ
pháp lý thống nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế cho các hoạt động đầu
tư ở Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài. Luật đầu tư Việt Nam ra đời
năm 2005 trong thời kỳ mà Việt Nam đang chuẩn bị mọi mặt để hội nhập
kinh tế thế giới đã góp phần hoàn thiện và hệ thống hóa pháp luật về lĩnh
vực đầu tư của Việt Nam để từ đó hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân, mở
rộng hợp tác kinh tế với nước ngoài, khai thác có hiệu quả nguồn tài
nguyên và các tiềm năng khác của đất nước, tạo việc làm cho người lao
động, làm cho tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam bước
vào giai đoạn cất cánh của sự phát triển kinh tế.
Vai trò thứ nhất: Vai trò quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài chính là việc tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng
Đây là nội dung ưu tiên hàng đầu của bất cứ Chính phủ nào trong quản
lý Nhà nước đối với doanh nghiệp trong cơ chế thị trường. Tạo môi trường
kinh doanh chiếm nhiều nỗ lực nhất, xuyên suốt nhất đối với một Nhà
nước trong quản lý kinh tế nói chung và quản lý các doanh nghiệp nói
riêng. Tạo môi trường kinh doanh chính là việc xây dựng văn bản pháp
luật thống nhất, bình đẳng bao gồm nhóm luật chủ thể và nhóm luật hành
vi; xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng làm cho các vùng địa lý thông
thương dễ dàng, gia tăng mong muốn và cơ hội đầu tư của các doanh
nghiệp, đồng thời phát huy được lợi thế ở mỗi vùng địa lý. Hình thành các
loại thị trường cho các yếu tố đầu vào, đầu ra và cam kết tôn trọng các
10
quy luật của thị trường. Chính phủ chỉ làm thay đổi các thông số của các
quy luật đó với mong muốn các quy luật đó sẽ làm thay đổi hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp diễn ra theo đúng mục tiêu đề ra. Vai trò này
thực chất là làm giảm mặt bằng chi phí chung cho toàn bộ nền kinh tế, giải
phóng tiềm năng, lợi thế của doanh nghiệp, làm giàu hợp pháp.
Thứ hai: Tập chung nâng cao sức cạnh tranh và hội nhập của doanh nghiệp
tư nước ngoài
Thực tế đã chứng minh rằng: lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ
trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát
triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa hoặc quá lạc hậu so với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự thay đổi cơ sở hạ tầng sớm hay muộn
dẫn tới sự thay đổi trong kiến trúc thượng tầng. Tuy nhiên, kiến trúc thượng
tầng cũng có tính độc lập tương đối và có tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng.
Các bộ phận trong kiến trúc thượng tầng có quan hệ khăng khít với nhau. Một
số bộ phận của kiến trúc thượng tầng như nhà nước, pháp luật, các tổ chức
chính trị và hệ tư tưởng chính trị có liên hệ trực tiếp với cơ sở hạ tầng của xã
hội. Mối quan hệ giữa pháp luật và kinh tế chính là sự tác động qua lại lẫn
nhau, là mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Nền kinh tế
chỉ phát triển khi có một hệ thống pháp luật phù hợp điều chỉnh và ngược lại
khi hệ thống pháp luật hiện tại không đáp ứng được sự thay đổi trong quá trình
phát triển của nền kinh tế thì sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế. Sự tác động “hai
chiều” của pháp luật đối với kinh tế cũng vậy, giờ đây cần xác định, đánh giá
về vai trò của pháp luật đối với việc xác lập, bảo vệ các quan hệ kinh tế thị
trường. Nếu như các quan hệ thị trường được xác lập trong pháp luật đảm bảo
tự do và công bằng được vận hành trong hàng lang pháp lý thì không có sự đối
lập nào giữa thị trường, thương mại và pháp luật. Vì vậy vai trò của pháp luật
trong việc điều chỉnh các quan hệ kinh tế là hết sức quan trọng. Vai trò đó được
quy định như sau:
1.2.1. Về ban hành và tổ chức các văn bản quy phạm pháp luật về doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
12
Khoản 6 Điều 3 Luật đầu tư 2005 quy định: “Doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để
thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc là doanh nghiệp Việt Nam
do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sát nhập, mua lại”.
Một trong những cơ sở pháp lý quan trọng và có hiệu lực cao nhất
Quốc hội cũng đã ban hành một số luật có liên quan đến hoạt động của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như Luật thương mại 2005, Luật
doanh nghiệp 2005, Luật các tổ chức tín dụng đã sửa đổi bổ sung năm 2004,
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2007…
Bên cạnh đó việc ban hành các văn bản dưới Luật là một trong những
công cụ mà Nhà nước sử dụng để quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài:
Quyết định số 36/2003/QĐ-TTg ngày 11/3/2003 của thủ tướng Chính phủ
về việc ban hành quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài
mua cổ phần tại Việt Nam.
Nghị định số 139/2007/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều
của Luật doanh nghiệp 2005.
Quyết định số 238/2005/QĐ-TTg của thủ tướng Chính phủ về tỷ lệ tham
gia của bên nuớc ngoài vào thị trường chứng khoán tại Việt Nam.
Nghị định số 108/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật đầu tư 2005.
Nghị định số 101/2006/NĐ-CP đăng ký lại chuyển đổi doanh nghiệp theo
Luật doanh nghiệp mới và chuyển đổi giấy chứng nhận đầu tư.
Nghị định 23/2007/NĐ-CP quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt
động mua bán hàng hóa và các hoạt động có liên quan đến doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Công văn số 2513/BKH-ĐTNN của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư ký
ngày 13/04/2007 về tăng cường công tác quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài
trong tình hình mới.
Thông tư số 05/2008/TTLT/BKH-BTC-BCA ngày 29/07/2008 của Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công an về Hướng dẫn cơ chế phối hợp
14
giữa các cơ quan giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và đăng ký con
dấu đối với doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
Như vậy, trong giai đoạn vừa qua chính sách quản lý Nhà nước ta đối với
cửa thị trường. Đối với dự án đầu tư thuộc lĩnh vực chưa có quy hoạch, thì cơ
quan cấp giấy chứng nhận đầu tư lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan trình
thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư. Điểm mới của luật là thủ
tục đầu tư được thiết kế đơn giản và thuận lợi cho các nhà đầu tư. Theo đó, dự
án được phân chia thành hai loại: đăng ký đầu tư và thẩm tra đầu tư.
Pháp luật đầu tư quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào
Việt Nam phải có dự án đầu tư. Trường hợp đã thành lập tổ chức kinh tế mà có
nhu cầu thực hiện dự án đầu tư tiếp theo thì không phải thành lập tổ chức kinh tế
mới. Đối với đầu tư trong nước thì khi thành lập tổ chức kinh tế không cần phải
có dự án. Đây là điểm khác biệt giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài,
điểm khác biệt này là cần thiết bởi đầu tư nước ngoài cần phải thực hiện theo lộ
trình mở cửa thị trường trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Nhằm thực hiện cải cách hành chính đối với hoạt động đầu tư, Nghị định
quy định trường hợp dự án đầu tư gắn với việc thành lập tổ chức kinh tế thì thủ
tục đầu tư được làm đồng thời với thủ tục đăng ký kinh doanh. Trong giấy
chứng nhận đầu tư bao gồm cả các nội dung đăng ký kinh doanh theo quy định
của Luật doanh nghiệp. Trong trường hợp này giấy chứng nhận đầu tư đồng
thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và cũng được gửi cho cơ quan
quản lý kinh doanh để quản lý chung về đăng ký kinh doanh.
Chính phủ đã ban hành Nghị định 23/2007/NĐ-CP quy định chi tiết Luật
thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động có liên quan đến
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Nghị định nêu rõ, trong
thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của Bộ thương mại,
UBND tỉnh quyết định việc cấp giấy phép kinh doanh cho doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài. Một trong những điều kiện để doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài hoạt động mua bán tại Việt Nam là hình thức đầu tư phải phù hợp
với lộ trình đã cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
và phù hợp với pháp luật Việt Nam, phù hợp với cam kết mở cửa của thị
16
trường Việt Nam.
họat động của doanh nghiệp;
Vốn đầu tư, vốn pháp định của doanh nghiệp; tỉ lệ vốn góp của mỗi bên
liên doanh;
Mục tiêu và phạm vi họat động.
Tiếp theo làm thủ tục đăng ký trụ sở doanh nghiệp, đăng ký nhân sự tại Sở
kế hoạch và đầu tư, hoặc ban quản lý KCN cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở
chính; Khắc và đăng ký con dấu tại công an cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ
sở chính; Mở tài khoản của doanh nghiệp tại ngân hàng; Nếu có nhu cần áp
dụng chế độ kế toán nước ngoài thì làm thủ tục đăng ký áp dụng chế độ kế toán
nước ngoài với Bộ tài chính; Làm thủ tục xin giấy phép lao động cho người
nước ngoài; Thực hiện việc đăng ký các thủ tục xuất nhập cảnh, cư trú…cho
người nước ngoài; đăng ký sử dụng các phương tiện thông tin liên lạc; đăng ký
chất lượng, nhãn hiệu hàng hóa.
Đối với các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh theo quy định của pháp luật
phải có giấy phép kinh doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ cần
đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để triển khai họat động kinh
doanh tại giấy phép đầu tư mà không phải xin giấy phép kinh doanh.
Đối với những lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh theo quy định phải có
chứng chỉ hành nghề thì trước khi đi vào hoạt động, doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài phải có chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật.
Làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại UBND cấp
tỉnh; đối với doanh nghiệp KCN, KCX, và KCNC thì thực hiện việc ký hợp
đồng thuê lại đất và sử dụng các tiện ích công cộng trong KCN, KCX, và
KCNC với doanh nghiệp xây dựng kinh doanh cơ sở hạ tầng.
Đăng ký kế hoạch nhập khẩu tại Sở thương mại địa phương;
Làm thủ tục duyệt thiết kế kỹ thuật công trình xây dựng;
Thực hiện việc đấu thầu hoặc tuyển chọn tư vấn, thiết kế; tổ chức đấu thầu
mua sắm hàng hóa…theo quy định của pháp luật hiện hành về đấu thầu.
Ký hợp đồng cung ứng lao động.
18
19
a. Chính sách đầu tư:
Nhận thức rõ vai trò của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một
bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân trong những năm qua
Chính phủ đã có nhiều chính sách ưu đãi nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phát triển như: tháo gỡ khó khăn về
thủ tục đầu tư, thực hiện cơ chế ưu đãi đầu tư cho doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài.
So với Luật đầu tư nước ngoài và Luật khuyến khích đầu tư trong nước
trước đây thì Luật đầu tư và Nghị định 108 quy định rõ hơn về những hình thức
đầu tư như: thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài;
thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu
tư nước ngoài; mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư;
và đầu tư thực hiện việc sát nhập và mua lại doanh nghiệp. Nhà đầu tư được đầu
tư để thành lập tổ chức kinh tế bằng 100% vốn của mình, doanh nghiệp 100%
vốn đầu tư nước ngoài đã thành lập tại Việt Nam được hợp tác với nhau và hoặc
với nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư
nước ngoài mới theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp. Nhà đầu tư cũng
có thể đầu tư thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và
nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh trên được tiếp tục liên doanh
với nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư thành lập tổ chức
kinh tế mới theo quy định của Luật doanh nghiệp và pháp luật có liên quan.
Về lĩnh vực ưu đãi và địa bàn ưu đãi đầu tư ban hành kèm Nghị định 108
được xây dựng trên cơ Sở kế thừa và thay thế các danh mục lĩnh vực và địa bàn
ưu đãi đầu tư đã ban hành kèm theo các Nghị định như: Nghị định
24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 quy định hướng dẫn thi hành Luật đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam (đã được sửa đổi bổ sung tại Nghị định 27/2003/NĐ-
CP ngày 19/3/2003), Nghị định 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003, và Nghị
định 152 về Thuế thu nhập doanh nghiệp, Nghị định 149/2005/NĐ-CP ngày
06/12/2005 về Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu để vừa đảm bảo không gây
Tuy nhiên, Luật đầu tư 2005 và Nghị định 108 cũng quy định: nếu các ưu
đãi trên trái với cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
21
thì thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế. Các ưu đãi đầu tư được ghi
vào giấy chứng nhận đầu tư nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài hoạt động kinh doanh.
Hoạt động đầu tư nước ngoài luôn được Chính phủ Việt Nam bảo hộ và
dành nhiều ưu đãi mang tính chất bảo hộ quốc gia và đãi ngộ tối huệ quốc. Các
nhà đầu tư nước ngoài được Chính phủ Việt Nam bảo đảm đối xử công bằng và
thỏa đáng theo quy định của Luật đầu tư, điều ước quốc tế. Trong trường hợp
điều ước quốc tế mà nước cộng hoà XHCN Việt Nam ký kết hoặc tham gia có
quy định về những ưu đãi cho nhà đầu tư khác với các quy định của pháp luật
Việt Nam thì nhà đầu tư sẽ được hưởng những ưu đãi đó. Trong trường hợp do
có sự thay đổi quy định của pháp luật Việt Nam mà có thể gây thiệt hại đến lợi
ích của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thì doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài vẫn tiếp tục được hưởng các ưu đãi đã được quy định trong giấy
phép đầu tư.
b. Chính sách thuế
So với các doanh nghiệp trong nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài và các bên liên doanh được hưởng nhiều ưu đãi về thuế hơn. Căn
cứ vào lĩnh vực và địa bàn đầu tư, tỷ lệ xuất khẩu hàng hóa và sử dụng nhân
công luật Đầu tư quy định về các mức thuế khác nhau. Trong các ưu đãi về
thuế thì ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp có ý nghĩa nhất đối với các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vì đây là thuế trực thu ảnh hưởng trực
tiếp tới thu nhập của doanh nghiệp.
Quy định về Thuế thu nhập doanh nghiệp
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bên liên doanh nước ngoài
sẽ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất 25% lợi nhuận thu được, trừ
các trường hợp áp dụng thuế suất ưu đãi.
Nếu trong quá trình kinh doanh, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
nhập hợp pháp khác bằng tiền nước ngoài, sau khi họ đã nộp thuế thu nhập và
các nghĩa vụ tài chính khác.
Thuế thu nhập doanh nghiệp đối với chuyển nhượng vốn:
Trong trường hợp một trong các bên trong doanh nghiệp liên doanh, nhà
23
đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài chuyển
nhượng phần vốn của mình cho bên kia hoặc bên thứ ba mà có phát sinh lợi
nhuận thì bên chuyển nhượng vốn có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
với thuế suất 25% lợi nhuận thu được.
Thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng:
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được miễn thuế nhập khẩu đối
với hàng hóa để tạo tài sản cố định khi thành lập doanh nghiệp hoặc bắt đầu thực
hiện hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như mở rộng quy mô dự án, thay thế đổi
mới công nghệ. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng được miễn thuế giá
trị gia tăng đối với hàng hóa để tạo tài sản cố định gồm: thiết bị máy móc, phương
tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ thuộc loại trong nước
chưa sản xuất được, nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất sản phẩm cung ứng cho
các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất ra sản phẩm xuất khẩu.
c. Chính sách đất đai
Luật đất đai của Việt Nam được ban hành đầu tiên năm 1987, Luật này
tiếp tục được sửa đổi bổ sung vào các năm 1993, 1998, 2003. Bên cạnh Luật
đất đai Ủy ban thường vụ quốc hội đã ban hành sáu pháp lệnh, Chính phủ và
các cơ quan hành chính đã ban hành hơn 400 văn bản quản lý đất đai bao gồm
các Nghị định, Thông tư, Quyết định, Chỉ thị hướng dẫn thi hành. Về cơ bản
chính sách đất đai đã tạo được điều kiện ban đầu để góp phần quản lý Nhà
nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Luật Đầu tư 2005 quy định chính sách đất đai đối với các dự án đầu tư.
Thời hạn sử dụng đất không quá năm mươi năm; đối với dự án có vốn đầu tư
lớn nhưng thu hồi vốn chậm, dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế-xã
hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn mà cần
Để nắm vững dòng vốn ngoại vào ra, ngân hàng nhà nước yêu cầu các tổ
chức tín dụng thực hiện báo cáo tình hình hoạt động đầu tư trực tiếp, đầu tư gián
tiếp nước ngoài vào Việt Nam thông qua tài khoản đầu tư gián tiếp bằng đồng
Việt Nam và tài khoản đầu tư trực tiếp bằng ngoại tệ cho ngân hàng nhà nước
theo quy định hiện hành về chế độ báo cáo thống kê (chặt chẽ - PV) áp dụng đối
25