1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội ngày một tăng cũng như để đáp
ứng sự phát triển sản xuất của doanh nghiệp mình, một trong những biện pháp
được các nhà quản lý đặc biệt quan tâm hiện nay là công tác kế toán nói chung
cũng như kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng.
Trong đó, hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành được coi là một
khâu trung tâm của công tác kế toán, mở ra hướng đi hết sức đúng đắn cho các
doanh nghiệp. Thực chất chi phí sản xuất là đầu vào của quá trình sản xuất, do
vậy tiết kiệm chi phí sản xuất là hạ giá thành sản phẩm, đồng thời đảm bảo đầu
ra của quá trình sản xuất sao cho nó được xã hội chấp nhận và làm tăng lợi
nhuận cho doanh nghiệp mình. Hơn nữa, mục đích cuối cùng của quá trình sản
xuất là tạo ra sản phẩm và giá thành sản phẩm chính là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp
phản ánh chất lượng toàn bộ các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Xuất phát từ
vấn đề đó mức tính giá thành sản phẩm đòi hỏi phải tính đúng, tính đủ chi phí
sản xuất bỏ ra theo đúng chế độ của Nhà nước.
Hiện nay, trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thò trường có sự quản lý của Nhà nước, bên cạnh những mặt thuận
lợi, cũng không ít những mặt khó khăn, thách thức đối với các doanh nghiệp. Vì
vậy, muốn đảm bảo ưu thế cạnh tranh, thu lợi nhuận cao thì bên cạnh việc sản
xuất ra sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, hợp thò hiếu người tiêu dùng,
một yếu tố quan trọng khác là sản phẩm đó phải có giá thành hạ, phù hợp với
sức mua của đa số nhân dân. Hạ giá thành sản phẩm đã trở thành nhân tố quyết
đònh sự tồn vong của mỗi doanh nghiệp. Đặc biệt trong ngành công nghiệp, hạ
giá thành sản phẩm đã được đặt ra như một yêu cầu bức thiết, khách quan nhằm
2
tạo tiền đề cho các doanh nghiệp sản xuất nước nhà có được những sản phẩm có
giá bán cạnh tranh tốt với các doanh nghiệp trong khu vực cũng như trên thế
giới.
với hoạt động sản xuất kinh doanh. Nó bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
chi phí lao động trực tiếp và chi phí sản xuất (CPSX) chung.
Hạch toán CPSX sẽ trả lời cho các câu hỏi: các chi phí phát sinh như thế
nào? Theo từng loại chi phí gì? Phát sinh ở dâu? Phát sinh vì mục đích gì? Để
làm gì? CPSX của doanh nghiệp phát sinh thường xuyên trong suốt quá trình tồn
tại và hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, nhưng để phục cho quản lý và hạch
toán kinh doanh CPSX phải được tập hợp theo từng thời kỳ: Hàng tháng, hàng
quý, hàng năm phù hợp với kỳ kế hoạch và báo cáo kế toán.
1.1.2. Khái niệm giá thành sản phẩm:
Giá thành sản phẩm (GTSP) là CPSX tính cho một khối lượng sản phẩm,
dòch vụ hoàn thành nhất đònh.
CPSX được xác đònh cho từng loại sản phẩm hoặc một khối lượng công
việc đã hoàn thành theo toàn bộ quy trình sản xuất được gọi là giá thành thành
phẩm hoặc hoàn thành một hay một số công đoạn sản xuất nhất đònh được gọi là
giá thành bán thành phẩm.
1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
Giữa CPSX và GTSP thường có cùng bản chất kinh tế là hao phí lao động
sống và lao động vật hóa nhưng lại khác nhau về thời kỳ, phạm vi, giới hạn.
4
CPSX là chi phí đầu vào cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp, còn
GTSP là chi phí đầu ra của quá trình sản xuất đó. Nội dung của CPSX và GTSP
vừa có tính riêng biệt vừa có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau.
CPSX luôn luôn gắn với thời kỳ phát sinh chi phí nhất đònh, còn GTSP lại
gắn với khối lượng sản phẩm, công việc lao vụ đã sản xuất hoàn thành.
Mối quan hệ giữa CPSX và GTSP:
CPSX kỳ trước chuyển sang CPSX phát sinh kỳ này
Tổng GTSP hoàn thành CPSX kỳ này chuyển sang kỳ sau
1.2. Tổ chức kế toán chi phí sản xuất:
Mục đích của việc phân loại CPSX là nhằm quản lý tốt chi phí theo từng
loại, tạo ra các thông tin chi phí hữu hiệu cho việc ra quyết đònh tăng, cắt bỏ,…
chi phí thích hợp và không thích hợp cho sản xuất. Do vậy, hiện nay có nhiều
quan điểm phân loại CPSX với nhiều tiêu thức được lựa chọn phân loại khác
nhau, tùy thuộc vào trình độ nhận thức, trình độ quản lý ở mỗi nước, mỗi thời kỳ.
1.2.3.1. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo nội dung và tính chất kinh tế
của chi phí:
Theo tiêu thức phân loại này, toàn bộ CPSX kinh doanh của doanh nghiệp
được chia thành các yếu tố sau: Chi phí nguyên vật liệu; Chi phí nhân công; Chi
phí khấu hao tài sản cố đònh (TSCĐ); Chi phí dòch vụ mua ngoài; Chi phí khác
bằng tiền.
6
Phân loại chi phí theo cách này có tác dụng cho biết kết cấu tỷ trọng từng
loại chi phí mà doanh nghiệp đã•chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh để lập bản thuyết minh báo cáo tài chính phục vụ cho yêu cầu thông tin
và quản trò doanh nghiệp, để phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí, lập dự
toán CPSX kinh doanh cho kỳ sau. Nó là tài liệu quan trọng dùng làm căn cứ
xác đònh mức tiêu hao vật chất và thu nhập quốc dân.
1.2.3.2. Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục:
Người ta còn gọi phân loại theo cách này là Phân loại CPSX theo mục đích
và công dụng của chi phí. Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích và
công dụng chi phí trong sản xuất để chia ra các khoản mục chi phí khác nhau,
mỗi khoản mục chỉ bao gồm những chi phí có cùng mục đích và công dụng,
không phân biệt chi phí đó có nội dung kinh tế như thế nào. Toàn bộ CPSX phát
sinh trong kỳ được chia ra các khoản mục sau: Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực
tiếp; Chi phí nhân công trực tiếp; CPSX chung; Chi phí bán hàng; Chi phí quản
lý doanh nghiệp; Chi phí khác.
Tác dụng của cách phân loại này là dự toán được các khoản mục chi phí
trọng yếu trong CPSX. Cung cấp số liệu cho công việc xây dựng đònh mức giá
kết luận kinh tế quan trọng không những đối với Nhà nước trong việc xác
đònh giá dự toán sản phẩm, mà còn cho cả doanh nghiệp trong việc đánh
giá hiệu quả sản xuất kinh doanh, về tính hợp lý của quá trình tái sản xuất
trong doanh nghiệp và bù đắp những tiêu hao vật chất.
- Đòn bẩy kinh tế:
Với chức năng đòn bẩy kinh tế của giá thành giúp cho nhà quản trò tìm
ra các biện pháp để hạ giá thành cũng như thu hút sự tham gia của người
8
lao động vào việc hạ giá thành thông qua các hình thức khuyến khích vật
chất thích hợp.
Ý nghóa của giá thành khi thực hiện được chức năng của nó, thể hiện:
- Trong mối quan hệ hàng hóa - tiền tệ của nền kinh tế thò trường thì GTSP
phản ánh chi phí của những lao động sống và lao động vật hóa đã thực sự tiêu
hao hợp lý cho sản xuất sản phẩm được hoàn thành. Quá trình tiêu thụ sản
phẩm sẽ thu hồi lại các chi phí này và tái sản xuất. Mọi cách tính toán chủ
quan phản ánh không đúng chi phí tiêu hao tạo ra GTSP sẽ phá vỡ các mối
quan hệ hàng hóa - tiền tệ, không xác đònh được hiệu quả kinh doanh trung
thực, dẫn đến không thực hiện được tái sản xuất.
- GTSP là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng hoạt động của doanh
nghiệp. Muốn hạ thấp được GTSP với tỷ lệ hạ giá thành cao đòi hỏi doanh
nghiệp phải tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh tốt, đồng thời bộ máy kế
toán phải tổ chức kế toán tính giá thành chính xác, giảm tối đa chi phí kế toán
nhưng thông tin kế toán về giá thành phải phản ánh kòp thời, tính đúng và đủ.
Điều này giúp doanh nghiệp hiểu rõ thực chất sản xuất của mình, xác đònh
đúng giá bán ra, tính thuế, tăng tính cạnh tranh sản phẩm trên thò trường và
xác đònh kết quả kinh doanh trung thực.
1.3.2. Xác đònh đối tượng tính giá thành sản phẩm:
Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, chi tiết sản phẩm, công
việc, lao vụ, dòch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra, cần phải được tính tổng giá
Phân loại giá thành theo phạm vi tính toán:
Theo tiêu thức này giá thành được chia làm hai loại:
10
- Giá thành sản xuất (giá thành công xưởng): là GTSP bao gồm các CPSX như
chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và CPSX chung
tính cho những sản phẩm, công việc hoặc lao vụ đã•hoàn thành.
- Giá thành toàn bộ: là GTSP bao gồm giá thành sản xuất của sản phẩm cộng
thêm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản phẩm đó.
Ý nghóa của cách phân loại này là giúp cho doanh nghiệp quản lý giá
thành tốt hơn đồng thời giúp cho việc ra quyết đònh, cụ thể:
o Giá thành sản xuất của sản phẩm được tính khi nhập kho thành phẩm hoặc
giao thẳng cho khách hàng, là căn cứ để tính giá vốn.
o Giá thành toàn bộ của sản phẩm được tính khi xác đònh sản phẩm, công
việc hoặc lao vụ được tiêu thụ, là căn cứ tính lợi nhuận trước thuế của
doanh nghiệp.
1.3.4. Kỳ tính giá thành và các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang:
1.3.4.1 Kỳ tính giá thành:
Kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành tiến hành công việc
tính giá thành.
Căn cứ xác đònh kỳ tính giá thành ở doanh nghiệp:
- Đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm.
- Chu kỳ sản xuất sản phẩm.
Trường hợp tổ chức sản xuất nhiều, quy trình sản xuất ngắn và xen kẽ liên
tục thì kỳ tính GTSP thích hợp là vào thời điểm cuối mỗi tháng. Còn nếu chu kỳ
sản xuất đủ dài, sản phẩm chỉ hoàn thành khi kết thúc chu kỳ sản xuất của sản
phẩm thì kỳ tính giá thành thích hợp là thời điểm kết thúc chu kỳ sản xuất sản
phẩm.
1.3.4.2. Các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang:
Một số phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang thường được áp dụng:
Số lượng
sản phẩm
dở dang
cuối kỳ
=
+
+
x
Phương pháp này có ưu điểm là cách tính toán rất đơn giản, khối lượng
công việc tính toán ít nhưng với phương pháp này độ chính xác không cao.
1.3.4.2.2 Đánh giá sản phẩm dở dang theo khối lượng hoàn thành tương đương:
Khi áp dụng phương pháp này, kế toán căn cứ vào khối lượng sản phẩm dở
dang và mức độ chế biến của chúng để tính khối lượng sản phẩm dở dang ra
khối lượng hoàn thành tương đương, sau đó tính toán từng khoản mục chi phí cho
sản phẩm dở dang theo công thức:
Đối với chi phí bỏ vào một lần ngay từ đầu như chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp hoặc chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp thì tính giống công thức nêu ở
mục (1.3.4.2.1).
Đối với các chi phí bỏ dần vào trong quá trình sản xuất như chi phí nhân
công trực tiếp, CPSX chung:
12 Khoản
mục chi
phí tính
phẩm tương đương
= x
Khi áp dụng phương pháp này thì kết quả tính toán có mức độ chính xác
cao. Nhưng khối lượng tính toán lớn mất nhiều thời gian vì khi kiểm kê sản
phẩm dở dang cần phải xác đònh mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang.
Phương pháp này chỉ thích hợp với những doanh nghiệp mà sản phẩm của
doanh nghiệp có tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trong tổng chi phí sản
phẩm không lớn lắm, khối lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ nhiều và biến động
lớn so với đầu kỳ.
1.3.4.2.3 Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất đònh mức:
Theo phương pháp này, cuối kỳ kế toán tiến hành kiểm kê khối lượng sản
phẩm dở dang. Xác đònh mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang cuối kỳ. Căn
cứ vào đònh mức chi phí của từng đơn vò sản phẩm để tính chi phí của sản phẩm
dở dang cuối kỳ theo công thức:
Chi phí sản phẩm
dở dang cuối kỳ
Khối lượng sản phẩm
dở dang cuối kỳ
Đònh mức chi phí
dở dang
= x
13
Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể mà có thể tính theo đònh mức chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp hoặc cho toàn bộ khoản mục chi phí.
Phương pháp này chỉ áp dụng thích hợp với sản phẩm đã•xây dựng được đònh
mức CPSX hợp lý hoặc đã•thực hiện phương pháp tính giá thành theo đònh mức.
1.3.5. Các phương pháp tính giá thành sản phẩm:
Hiện nay có rất nhiều phương pháp tính giá thành, các doanh nghiệp sản
xuất có thể lựa chọn một trong các phương pháp sau:
− Bước 1: Trước hết căn cứ vào đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của sản phẩm để
chọn sản phẩm đặc trưng làm sản phẩm tiêu chuẩn có hệ số 1, các sản phẩm còn
lại quy đổi chi phí theo chi phí chuẩn, kế tiếp tính tổng sản lượng đã quy đổi
trong kỳ sản xuất. Công thức quy đổi từng loại sản phẩm (SP):
Sản lượng SP quy đổi
theo SP tiêu chuẩn
Sản lượng SP cần quy
đổi theo SP tiêu chuẩn
Hệ số quy
đổi
= x
− Bước 2: Xác đònh giá thành của 1 sản phẩm quy đổi:
Giá thành đơn
vò sản phẩm quy
đổi
Tổng giá thành
Tổng sản lượng sản phẩm quy đổi
=
− Bước 3: Tính giá thành từng loại sản phẩm:
GTSP khác = GTSP quy đổi x Hệ số quy đổi
1.3.5.4. Phương pháp tính giá thành theo tỷ lệ:
Điều kiện sử dụng: Ứng dụng thích hợp cho loại hình công nghệ sản xuất
cùng một quy trình nhưng kết quả là một nhóm thành phẩm cùng loại với nhiều
phẩm cấp, quy cách khác nhau. Đối tượng tập hợp CPSX là toàn bộ quy trình Tỷ lệ phân bổ
chi phí cho từng
khoản mục
Chi phí thực tế từng khoản mục
Tổng chi phí đònh mức từng khoản mục
tính theo sản lượng thành phẩm thực tế
=
Tính chi phí thực tế từng khoản mục có trong từng sản lượng thành phẩm
thực tế. Công thức:
Chi phí thực tế từng
khoản mục tính
theo sản lượng
thành phẩm thực tế
Chi phí đònh mức từng
khoản mục theo sản
lượng từng sản phẩm
Tỷ lệ phân bổ
chi phí cho
từng khoản
mục
=
x
thành phẩm của giai đoạn sản xuất trước và kết chuyển sang giai đoạn sau một
cách tuần tự để tính tổng giá thành của nửa thành phẩm của giai đoạn kế tiếp, cứ
thế tiếp tục cho đến khi tính được tổng giá thành và giá thành đơn vò của thành
phẩm ở giai đoạn công nghệ sản xuất cuối cùng.
Phương pháp tính giá thành theo kiểu phân bước không tính nửa thành phẩm:
Theo phương pháp này kế toán giá thành phải căn cứ vào số liệu, CPSX đã
tập hợp trong kỳ theo từng giai đoạn công nghệ sản xuất, tính toán phần CPSX
của từng giai đoạn đó trong giá thành thành phẩm theo từng khoản mục chi phí
quy đònh. Sau đó CPSX của từng giai đoạn công nghệ sản xuất nằm trong giá
thành thành phẩm đã•tính được kết chuyển song song từng khoản mục để tổng
hợp tính ra tổng giá thành và giá thành đơn vò của thành phẩm.
CPSX từng giai đoạn trong thành phẩm tính toán theo công thức sau:
Dđki + Ci n
Czi = x Stp và Ztp =
∑
Czi
Stp + Sdi i=1
Trong đó:
Czi : CPSX của giai đoạn i trong thành phẩm
Dđki : Chi phí sản phẩm dở dang giai đoạn i đầu kỳ
Ci : CPSX phát sinh giai đoạn i
Sdi : Số lượng sản phẩm dở dang của giai đoạn i
Stp : Sản lượng thành phẩm giai đoạn cuối
Ztp : Giá thành thành phẩm hoàn thành
Việc lựa chọn phương pháp tính giá thành phải được xuất phát từ đặc điểm
quy trình công nghệ sản xuất tại doanh nghiệp, mối quan hệ giữa đối tượng kế
18
toán CPSX và đối tượng tính giá thành. Một doanh nghiệp có quy trình sản xuất
2.1. Sơ lược lòch sử hình thành và phát triển hệ thống kế toán Việt Nam từ
năm 1957 đến nay:
2.1.1. Các thời điểm quan trọng ban hành và thay đổi hệ thống kế toán:
Năm 1957: Chính phủ ban hành chế độ kế toán thống nhất cho các doanh
nghiệp thuộc quyền sở hữu Nhà nước. Hệ thống kế toán đầu tiên này góp phần
quan trọng đưa công tác quản lý tài chính đi vào kỷ cương, nề nếp và tạo cơ sở
ban đầu để xây dựng hệ thống kế toán Việt Nam sau này.
Năm 1961: Nhà nước sửa đổi, cải tiến hệ thống kế toán ban hành lần đầu
và ban hành Điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước.
Năm 1967: Liên Bộ Thống Kê và Tài Chính đã ban hành chế độ ghi chép
ban đầu áp dụng cho các doanh nghiệp quốc doanh và một loạt chế độ tài khoản
20
kế toán, cùng hệ thống các báo cáo thống kê - kế toán. Hệ thống chế độ kế toán
này phục vụ đắc lực cho công cuộc công nghiệp hóa và xây dựng Chủ Nghóa Xã
Hội ở Miền Bắc.
Năm 1970: Nhà nước tiếp tục ban hành chế độ kế toán và sửa đổi Chương
III của Điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước theo yêu cầu mới, mang tính tiêu
chuẩn hóa thống nhất toàn diện đối với tất cả các lónh vực hoạt động sản xuất
kinh doanh.
Năm 1988: Nhà nước ban hành Pháp lệnh kế toán - thống kê nhằm tăng
cường tính chất pháp lý thêm một bước, bao gồm các chế độ kế toán thống nhất
trong nền kinh tế quốc dân và mọi thành phần kinh tế khác nhau.
Các chế độ kế toán ban hành trong thời kỳ này, nhìn chung đã đạt được giá
trò biến đổi của sự phát triển xã hội. Biểu hiện thông tin kế toán được đònh lượng
có giá trò cung cấp cho nhiều thành phần và đối tượng sử dụng, nhằm kiểm tra
và đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phục vụ cho sự
quản lý thống nhất của Nhà nước và cung cấp thông tin về quá trình hoạt động
cho quản trò doanh nghiệp, đồng thời biểu hiện ban đầu tiếp cận với ngôn ngữ
của thông tin kế toán quốc tế và những chuẩn mực kế toán quốc tế.
kinh tế riêng biệt theo từng đối tượng ghi chép của kế toán, nhằm cung cấp
thông tin cho yêu cầu các đối tượng quản lý khác nhau.
Nhà nước ban hành hệ thống tài khoản kế toán thống nhất gồm tên và số
hiệu tài khoản. Kế toán doanh nghiệp sử dụng kế toán Việt Nam bắt buộc phải
sử dụng đúng hệ thống tài khoản kế toán thống nhất.
2.1.2.3. Hệ thống sổ sách kế toán:
22
Sổ sách kế toán là hệ thống thông tin đã được hệ thống hóa có xử lý, lựa
chọn các thông tin hữu ích để lập báo cáo, phân tích tài chính. Sổ kế toán là
phương tiện cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng cần những thông tin
khác nhau.
Sổ kế toán được thiết kế gồm sổ tổng hợp và sổ chi tiết. Sổ kế toán chia
làm 2 loại: Sổ bắt buộc và sổ hướng dẫn. Sổ bắt buộc là sổ sách do Bộ Tài
Chính thiết kế mẫu sổ, qui đònh bắt buộc đối với tất cả các doanh nghiệp phải sử
dụng để tổ chức kế toán tại doanh nghiệp; Sổ hướng dẫn là hình thức sổ sách kế
toán không bắt buộc doanh nghiệp phải tuân theo, nhân viên kế toán có thể thiết
kế mẫu sổ cho phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp, sổ
kế toán này mang tính phục vụ cho nội bộ trong doanh nghiệp.
Hiện nay hệ thống kế toán có 4 hình thức ghi sổ kế toán:
Nhật ký chung.
Nhật ký sổ cái.
Chứng từ ghi sổ.
Nhật ký chứng từ.
2.1.2.4. Hệ thống báo cáo kế toán:
Báo cáo kế toán là phương pháp kế toán nhằm tổng hợp cân đối về tài sản,
kết quả kinh doanh và các mối quan hệ kinh tế khác theo các đối tượng của kế
toán liên quan.
Hiện nay, báo cáo kế toán được chia làm 2 loại:
Báo cáo bắt buộc : Là báo cáo kế toán mà tất cả doanh nghiệp đều bắt
24
2. Vật liệu phụ mua ngoài.
3. Nhiên liệu mua ngoài.
4. Năng lượng mua ngoài.
5. Tiền lương.
6. Bảo hiểm xã hội.
7. Khấu hao TSCĐ.
8. Chi phí khác bằng tiền.
2.2.1.2. Từ năm 1990 đến năm 1995:
Từ năm 1986 theo Nghò quyết của Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam là
chuyển nhanh nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền
kinh tế thò trường có sự quản lý của Nhà nước theo đònh hướng Xã Hội Chủ
Nghóa với nhiều loại hình doanh nghiệp, nhiều hoạt động kinh tế khác nhau.
Để đáp ứng nhu cầu thay đổi cơ bản về cơ chế quản lý kinh tế tài chính, Bộ
Tài Chính ban hành hệ thống tài khoản kế toán mới ngày 15/12/1989 theo Quyết
đònh số 212/TC/CĐKT thay thế hệ thống tài khoản kế toán năm 1970. Tuy
nhiên, xét về kế toán tập hợp CPSX và tính giáù thành sản phẩm công nghiệp thì
không thay đổi cơ bản. Biểu hiện ở chỗ sắp xếp lại tài khoản kế toán gọn hơn,
kết cấu GTSP từ 11 khoản mục nhập lại còn 9 khoản mục chi phí, nhưng tính
chất chi phí và phương pháp hạch toán không đổi. Các báo cáo về CPSX theo
yếu tố vẫn giống như thời kỳ trước.
Có thể nói hệ thống tài khoản kế toán trong giai đoạn này là bước quá độ,
chuẩn bò chuyển sang hệ thống tài khoản kế toán sau này triệt để hơn, phù hợp
với cơ chế quản lý kinh tế thò trường.
2.2.1.3. Từ năm 1996 đến nay:
Để đáp ứng nhu cầu quản lý kinh tế tài chính trong cơ chế nền kinh tế thò
trường theo đònh hướng Xã Hội Chủ Nghóa phát triển mạnh mẽ, Bộ Tài Chính
25