TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….
[\[\
Báo cáo tốt nghiệp
Đề tài:
Cải cách kinh tế của Nhật Bản và mối
quan hệ kinh tế Việt Nam –Nhật Bản
Đề tài : Cải cách kinh tế của Nhật Bản và
mối quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản Lời nói đầu
Trong tiến trình toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ, với những xu thế vận động và bối
cảnh khách quan của nền kinh tế thế giới và khu vực, với những tác động của tình hình kinh
tế, chính trị, xã hội… để tránh khỏi bị tụt hậu Việt Nam đang đứng trớc thời cơ mới và thách
thức mới. Đối với Việt Nam, trong điều kiện chuyển từ nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá
tập trung sang kinh tế thị trờng lại có điểm xuất phát thấp, tốc độ tăng trởng kinh tế cha cao,
để đa đất nớc phát triển nhanh Đảng ta đã khẳng định ” Phát huy cao độ nội lực, đồng thời
hợp. Cơ sở lý luận thực hiện đề tài chủ yếu dựa vào các lý thuyết liên quan đến lợi thế so
sánh, lý thuyết về phát triển thơng mại quốc tế trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và
quốc tế ngày nay.
III. Kết cấu của Đề tài
Lời nói đầu đề cập đến sự cần thiết, mục tiêu, nội dung, ý nghĩa, đề tài.
Chơng I, Đề tài tập trung nghiên cứu về Nhật Bản, quá trình cải cách của Nhật Bản và
tầm ảnh hởng của nó tới nền kinh tế Nhật Bản.
Chơng II, Đề tài tập trung phân tích, đánh giá các cuộc cải cách tài chính của Nhật Bản
và hiệu quả của nó.
Chơng III, Quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả của các cuộc cải cách đó và triển vọng phát triển trong tơng lai.
Kết luận, Trên cơ sở kết quả nghiên cứu phần kết luận khẳng định những kết quả đạt đợc
và một số kiến nghị nhằm nâng cao mối quan hệ kinh tế Nhật Bản - Việt Nam trong tơng lai.
Chơng I: Quá trình cải cách kinh tế của Nhật Bản
I. Xu hớng của nền kinh tế thế giới
Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành một trong những xu hớng quan trọng
trong hoạt động kinh tế quốc tế. Các nớc đang phát triển (trong đó có Việt Nam) cùng với
việc tranh thủ thu hút các nguồn vốn để phát triển cũng khuyến khích, đẩy mạnh việc quan
hệ hợp tác với các nớc phát triển trên thế giới nhằm học hỏi kinh nghiệm cũng nh mở rộng
thị trờng, tận dụng các nguồn tài nguyên, lao động, tăng nguồn thu lợi nhuận cũng nh tăng c-
ờng ảnh hởng với các nớc khác và. Chính vì những lẽ đó mà đã có rất nhiều quốc gia, tổ chức
quốc tế, các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học đã đa ra, tổng kết những kinh nghiệm,
những vấn đề lý luận, thực tiễn và dự báo về xu hớng phát triển của nền kinh tế thế giới trong
đó có Nhật Bản và Việt Nam.
II. nền kinh tế nhật bản từ cuối những năm 1980 đến nay
Nhật Bản, một nớc nghèo tài nguyên, không thể đánh mất bất kỳ một cơ hội thơng
mại quốc tế nào nếu đó là cơ hội để phát triển kinh tế và duy trì một mức sống cao. Các
chính sách liên quan tới thơng mại và đầu t do vậy đã chiếm một vị trí nổi bật trong quá trình
- Từ 1997 đến 1999: tiến dần đến tình trạng trầm trọng của khủng hoảng. Khủng hoảng kinh
tế Nhật Bản đợc gắn liền với ảnh hởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính – tiền tệ Đông
á (1997 – 1998). Lần đầu tiên kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, kinh tế Nhật Bản
tăng trởng âm liên tục trong 2 năm liền(1997: - 0,7% và 1998: -1,1%).Năm 1999: kinh tế
Nhật Bản phục hồi trở lại nhng tăng trởng còn mong manh: 0,7%.
- Năm 2000: kinh tế Nhật Bản tăng trởng khả quan: 2,4%.
- Năm 2001: suy giảm kinh tế trở lại với chỉ số tăng trởng: -0,4%.
- Năm 2002 đến nay: đang phục hồi yếu 1,6%.
Về đại thể, các chỉ số tăng trởng GDP hàng năm trên đây đã phản ánh khái quát nhất
về mặt định lợng của cuộc khủng hoảng kinh tế Nhật Bản kéo dài suốt thập niên 1990 đến
nay. Nếu so với cuộc khuủng hoảng kinh tế 1973 – 1975 của thế giới T Bản Chủ Nghĩa,
trong đó có Nhật Bản thì mức độ khủng hoảng lần này còn tồi tệ hơn nhiều (cuộc khủng
hoảng 1973 – 1975, năm 1973: tăng trởng GDP của Nhật Bản là 8%, đến năm 1974 tuy có bị
giảm đột ngột đến mức – 1,2%, song đến năm 1975, lại khôi phục trở lại ngay với tăng trởng
3%, tiếp đó năm 1976 là 4%, từ đó bình quân hàng năm cho đến cuối thập niên 1980 đều đạt
tăng trởng khoảng 5%).
Đó là biểu hiện tổng quát nhất của khủng hoảng kinh tế Nhật Bản qua động thái suy
giảm của tăng trởng GDP hàng năm.
Iii. cải cách trong lĩnh vực kinh tế của nhật bản
Các chính sách và biện pháp cải cách kinh tế ở Nhật Bản kể từ đầu thập kỷ 1990 đến
nay có thể đợc chia thành hai cum chính sách và biện pháp chủ yếu, đó là các chính sách và
biện pháp mang tính chất tình thế, và các chơng trình cải cách kinh tế một cách cơ bản và
toàn diện.
1. Các chính sách và giải pháp tình thế
Trớc tình trạng suy thoái kinh tế nghiêm trọng và kéo dài, đồng yên bất ổn định, sự
yếu kém của hệ thống ngân hàng – tài chính, và các vấn đề kinh tế – xã hội khác, Chính phủ
Nhật Bản đã thực hiện khá nhiều chính sách và giải pháp tạm thời để khôi phục và lấy lại sức
sống cho nền kinh tế. Các chính sách và biện pháp loại này thực ra đã đợc áp dụng nhiều lần
trong các thập kỷ trớc đây khi nền kinh tế Nhật Bản có biểu hiện suy thoái theo chu kỳ. Nội
dung chủ yếu của nó là bơm thêm tiền vào nền kinh tế bằng các chơng trình kích thích kinh
ợc củng cố trong năm 2001.
- Giảm lãi suất chiết khấu chính thức: Trớc tình trạng sản xuất đình trệ, nhu cầu đầu t
trong nớc giảm sút, Chính phủ Nhật Bản đã liên tục giảm lãi suất cho vay chính thức của
ngân hàng nhằm kích thích đầu t. Đây cũng là một trong những hớng cơ bản của chính sách
kích cầu trong nớc. Trong suốt những năm 1990, lãi suất chính thức đã luôn đợc giảm đi trớc
tình trạng kinh tế suy thoái. Ngân hàng trung ơng Nhật Bản đã duy trì một tỷ lệ lãi suất thấp
tới mức cha từng có trong lịch sử Nhật Bản (0,5%) trong suốt nhiều năm liên tục và thậm chí
hiện nay đã xuống tới mức sấp sỉ con số không nhằm phuch hồi và lấy lại sinh khí cho nền
kinh tế.
2. Các chơng trình cải cách kinh tế một cách cơ bản và toàn diện
Nguyên nhân sâu xa gây ra tình trạng trì trệ kéo dài của nền kinh tế Nhật Bản là sự bất
cập hay những hạn chế của mô hình kinh tế Nhật Bản trớc bối cảnh mới của tình hình kinh tế
quốc tế, sự lạc hậu của hệ thống ngân hàng tài chính mang nặng tính bao cấp, sự cứng nhắc
cũng nh thiếu minh bạch của bộ máy hành chính trong việc quản lí và điều hành nền kinh
tế… Chính vì vậy, để khắc phục một cách triệt để tình trạng kinh tế suy thoái đòi hỏi phải
tiến hành những cải cách toàn diện hệ thống kinh tế Nhật Bản. Tuy nhiên, không phải vấn đề
này đã đợc nhận thức và thực hiện ngay từ đầu thập kỷ1990 sau khi những “bong bóng” kinh
tế bất đông sản sụp đổ đẩy nền kinh tế Nhật Bản lâm vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng
và kéo dài. Mà phải đến 1996, sau khi hàng loạt các chơng trình kích thích kinh tế trọn gói,
nh đã đề cập đến ở trên, không đem lại hiệu quả, Chính phủ Nhật Bản dới sự lãnh đạo của
Thủ tớng Hashimoto mới ban hành một loạt các chơng trình cải các liên quan đến nhiều mặt
hoạt động của nền kinh tế xã hội Nhật Bản. Có 6 chơng trình cải cách lớn đã đợc đa ra, trong
đó có 3 chơng trình liên quan đến cải cách kinh tế. Đó là: Điều chỉnh chính sách kinh tế; Cải
cách cơ cấu kinh tế; và Cải cách hành chính. Sau đây là một số nội dung cơ bản nhất của các
chơng trình cải cách này.
Thứ nhất, để thực hiện cải cách cơ câu kinh tế, Chinh phủ Nhật Bản một mặt đã áp
dụng các giải pháp hỗ trợ đối với một số nghành công nghiệp đang bị sa sút nh luyện kim,
đóng tầu, hoá chất… nhằm ngăn chặn nguy cơ phá sản của các doanh nghiệp đang hoạt động
trong các lĩnh vực này. Các giải pháp chủ yếu nh tài trợ qua ngân sách, kích thích đổi mới
trang thiết bị qua thực hiện khấu hao nhanh, áp dụng giải pháp miễn thuế và hỗ trợ thất
nớc ngoài thuộc ngành chế tạo với tổng ngạch tiêu thụ của ngành chế tạo trong nớc) đã tăng
từ 3% năm 1985 lên 6,4% năm 1990 và 7,4% năm 1993, trong đó nghành sản xuất máy điện
tăng lên 12,6%, máy móc vận tải tăng lên 17,3% (Sách trắng đầu t, Hội Chấn hng mậu dịch
Nhật Bản năm 1995).
+ Tăng cờng nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp, bán thành phẩm, và linh kiện, đặc
biệt là những sản phẩm đợc sản xuất từ những cơ sở chế tạo của Nhật Bản ở nớc ngoài và
nâng cao hơn nữa giá cả hàng xuất khẩu để bù lại những thiệt hại do s tăng giá của đồng Yên
gây ra. Ví dụ trong năm 1995, nhiều công ty xuất khẩu của Nhật Bản đã tăng giá hàng xuất
khẩu từ 10 – 15%. Điều này đã khiến cho hàng nhập khẩu dễ có điều kiện thâm nhập hơn vào
thị trờng Nhật Bản trong khi đó hàng xuất khẩu từ Nhật Bản lại khó đợc chấp nhận hơn đối
với ngời tiêu dùng nớc ngoài. Theo số liệu thống kê, xuất khẩu của Nhật Bản trong name
1995 chỉ tăng có 2,6%so với 5,1% vào năm 1994, trong khi đó, nhập khẩu tăng tới 9,2% so
với 8,4% vào năm 1994. Do xuất khẩu giảm và nhập khẩu tăng, cán cân mậu dịch thặng d
của Nhật Bản đã giảm đi đáng kể. Song điều đáng nói là trong khi thặng d mậu dịch với Mỹ
và EU giảm đi thì thặng d mậu dịch của Nhật Bản với Châu á vẫn tiếp tục tăng nhanh, chứng
tỏ Châu á ngày càng trở thành một thị trờng xuất khẩu quan trọng của Nhật Bản. Ví dụ, xuất
khẩu của Nhật Bản sang Châu á trong 6 tháng đầu năm 1995 đã lên tới 99,8 tỷ đôla, cao hơn
cả xuất khẩu của Nhật Bản sang Mỹ và EU cộng lại (97,3 tỷ đôla). (Trịnh Ngọc - Kinh tế
Nhật Bản phục hồi trong sự trì trệ. Nghiên cứu Nhật Bản, số 1(5), 3/1996).
+ Tăng cờng liên doanh, liên kết với nớc ngoài trong việc nghiên cứu và phát triển các
sản phẩm mới. Đồng thời tến hành đào tạo lại lao động, hợp nhất các cơ sở sản xuất không
có hiệu quả, hoặc bán lại cho các nhà đầu t nớc ngoài…
Thứ ba, trong lĩnh vực tài chính, “Bing Bang” đợc coi là một trong những cuộc cải
cách có vị trí quan trọng hàng đầu. Đây là một cuộc cải cách toàn diện, sâu sắc, và triệt để
với mục tiêu cơ bản là: làm cho thi trờng tài chính Nhật Bản năng động hơn, linh hoạt hơn, tự
do hơn, minh bạch, chuẩn mực hơn và có thể sánh vai với những trung tâm tài chính lớn nh
New York và Luân Đôn. Những nội dung chủ yếu của cuộc cải cách này là:
+ Mở rộng sự lựa chọn cho các nhà đầu t và những ngời đi vay.
+ Cải tiến chất lợng phục vụ của các trung gian tài chính và thúc đẩy sự cạnh tranh
giữa các ngân hàng.
đầu t không cần qua quầy
của ngân hàng và các tổ
chức khác
- Tăng khả năng thanh toán của
ABS và các khoản nợ khác
- Mở rộng định nghĩa về chứng
khoán
- Cải cách chế độ lơng hu
2/97
4/98
10/98
12/98
phép các ngân hàng phát
hành thẳng trái phiếu và cổ
phiếu 3/98
12/98
10/99
10/99
10/99
3. Sử dụng thị trờng thân
thiện, nhiều hơn
- Cải tiến mua bán ngoại tệ và
- Tăng cờng chế độ công khai
tình hình kinh doanh của
12/98 4/99
các doanh nghiệp
- Cải cách các tiêu chuẩn về
kế toán: đánh gia kế toán
thị trờng bằng điểm
3/01
Chơng ii: một số thành công bớc đầu của cải cách kinh tế ở nhật
bản
Có thể thấy t sau cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực Đông á Nhật Bản đã có
những cố gắng xúc tiến mạnh hơn chơng trình cải cách nền kinh tế của mình. Trên thực tế
cuộc khủng hoảng đã làm bộc lộ rõ những điểm hạn chế trong bản thân nền kinh tế Nhật
Bản, nhất là trong hệ thống Tài chính Ngân hàng buộc Nhật Bản phải có sự cải cách toàn
I. một số thành công bớc đầu của cải cách kinh tế Nhật Bản
Nhìn một cách tổng thể, cải cách kinh tế ở Nhật Bản đã thu đợc những kết quả tơng
đối khả quan. Các cuộc cải cách này đã và đang dẫn tới những thay đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh
tế Nhật Bản, làm cho khu vực tài chính Nhật Bản đã trở lên có sức cạnh tranh mạnh hơn và,
sự thâm nhập của nớc ngoài vào nền kinh tế Nhật Bản cũng trở nên ít khó khăn hơn. Các
cuộc cải cách này cũng đã dẫn tới sự cơ cấu lại các công ty và sự phát triển mạnh của các thị
trờng vốn độc lập. Hơn 10 năm trớc dây, ngời Nhật Bản không thể nghĩ rằng sự xuất hiện của
thị trờng vốn sẽ là một lực lợng quan trọng thúc đẩy sự cơ cấu lại nền kinh tế Nhật Bản và
làm thay đổi phong cách quản lý truyền thống trong các công ty của Nhật Bản. Sự ra đời của
một ban giám đốc độc lập và quyền lợi của các cổ đông là những vấn đề đáng chu ý hiện nay
ở các công ty Nhật Bản. Chế độ làm việc suốt đời và trả lơng theo thâm niên cũng đã trở nên
không còn thích hợp nữa. Nếu nh trong những năm 1980, ngời ta không thể tuyển mộ sinh
viên giỏi từ một trờng đại học có tiếng ở Nhật Bản vào làm việc cho một công ty mà không
phải là lớn hoặc không phải Bộ tài chính; và ngời Nhật Bản cũng không thích thú vào làm
việc trong các công ty nớc ngoài, thì trong những năm gần đây, tình hình đã hoàn toàn khác.
Những sự thay đổi này, một phần chính là kết quả của những cuộc cải cách kinh tế trong
những năm 1990, đặc biệt là cuộc cải cách hệ thống tài chính trong những năm gần đây của
Nhật Bản.
1. Những tiến bộ trong việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế.
Kể từ khi nền kinh tế “bong bóng” bị sụp đổ, Chính phủ Nhật Bản đã ban hành khá
nhiều giải pháp kích thích cả gói với quy mô lớn cùng với các luật cải cách tài chính và tỷ lệ
lãi suất thấp nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Những giải pháp này đã góp phần thúc đẩy
mạnh mẽ sự phát triển của khu vực kinh tế t nhân. Các nhà lãnh đạo kinh doanh của khu vực
t nhân đã phần nào lấy lại đợc lòng tin trong việc đa khu vực t nhân thành khu vực đi đầu
tổng vốn FDI là vào khu vực tài chính, và khoang 24% vào kỹ thuật thông tin và các ngành
thơng nghiệp bán lẻ. FDI, ngoài các khoản tiền đầu t, đã đa vào Nhật Bản các quan điểm của
các nhà đầu t và các kiểu quản lý công ty không chỉ mới mà còn có thể áp dụng đối với các
xí nghiệp Nhật Bản truyền thống. Nếu nh trớc đây ngời Nhật Bản đã không thích thú làm
việc trong các công ty nớc ngoài ở Nhật Bản thì trong những năm gần đây tình trạng này đã
đợc cải thiện rất nhiều. Ví dụ, nhiều ngời Nhật Bản đã hoan nghênh sự sát nhập của Nissan
và Renault nhằm cứu vãn sự sống còn của Nissan, trong khi thừa nhận rằng sự sống còn
không thể có đợc nếu không chấp nhận sự cơ cấu lại tập đoàn một cách đau đớn nh sa thải
công nhân,…
Tất cả những nhân tố kể trên đã góp phần tạo ra một sự chuyển dịch đáng kể trong nội
bộ các ngành kinh tế của Nhật Bản. Nhiều ngành công nghiệp mới đã ra đời và phát triển nh:
Thông tin liên lạc, viễn thông, điện tử và điện dân dụng…, nhiều ngành công nghiệp truyền
thống đã đợc điều chỉnh theo hớn thu hẹp sản xuất, hoặc liên doanh liên kết, hoặc tăng cờng
năng lực sản xuất nhằ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nh: ôtô, sắt thép, xây
dựng…(Điều chỉnh cơ cấu kinh tế Nhật Bản trong bối cảnh toàn cầu hoá, Chủ biên Vũ Văn
Hà, Nxb. KHXH, Hà Nội, 2002).
Có thể nói rằng, kể từ đầu thập kỷ 90 đến nay Nhật Bản đã và đang ở trong một quá
trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế sâu sắc. Nền kinh tế Nhật Bản đang chuyển dịch theo hớng
giảm sự can thiệp của Chính phủ và tăng cờng sự cạnh tranh của một nền kinh tế mở theo cơ
chế thị trờng, và theo hớng một nền kinh tế mà sự tiến bộ của ký thuật thông tin đang đợc lan
rộng một cách nhanh chóng đem lại những khả năng cạnh tranh mới cho các công ty trên thị
trờng. Trớc và ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nông nghiệp và dệt là những ngành đặc
trng của cơ cấu kinh tế Nhật Bản kiểu cũ. Trong những thập kỷ gần đây, cơ cấu kinh tế Nhật
Bản lại đợc đặc trng bởi các công ty to lớn đã đợc thiết lập một cách vững chắc trong nhiều
ngành công nghiệp nặng (nh luyện kim, chế tạo máy, và hoá chất), hệ thống ngân hàng, và
các công ty thơng mại tổng hợp lớn,… Và trong những năm gần đây, cơ cấu kinh tế này lại
đang đợc chuyển đổi theo hớng cải tổ cơ cấu và đầu t vào kỹ thuật thông tin để có thể hoạt
động có hiệu quả trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới.
Bản đã đợc đẩy mạnh dới các hình thức nh: FDI, mua cổ phần, tham gia trực tiếp vào công
việc quản lý của các công ty Nhật Bản và các thị trờng chứng khoán ở Nhật Bản; Và chất l-
ợng quản lý tín dụng của các cơ quan trong hệ thống tài chính Nhật Bản đã đợc cải thiện rất
đáng kể (Hệ thống tài chính Nhật Bản: Những đăc trng cơ bản và cuộc cải cách hiện nay;
chủ biên Trần Quang Minh, Nxb KHXH, Hà Nội, 2003).
II. những chính sách và biện pháp cải cách trong từng lĩnh vực của hệ thống tài chính
Mặc dù đã từng có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế của Nhật Bản,
đặc biệt là trong thời kỳ tăng trởng ngoạn mục (1955 – 1973), hệ thống tài chính Nhật Bản
mà trong đó các ngân hàng đóng vai trò trung tâm, kể từ cuối thập kỷ 80 đến nay đã bộc lộ
rất nhiều những yếu kém và bất cập, ảnh hởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế của đất nớc.
Trong suốt hơn một thập kỷ vừa qua, Chính phủ Nhật Bản đã phải thực hiện khá nhiều chính
sách và biện pháp nhằm cơ cấu lại hệ thống tài chính thích ứng với những đòi hỏi của tình
hình kinh tế trong nớc và bối cảnh quốc tế mới. Tuy nhiên, những giải pháp tình thế đợc thực
hiện trong những năm đầu thập kỷ 90 đã chứng tỏ rằng đó không phải là những phơng thuốc
hữu hiệu đẻ chữa trị căn bệnh “khủng hoảng cơ cấu” kinh tế nói chung và hệ thống tài chính
của Nhật Bản nói riêng. Chỉ khi chơng trình “Big Bang” do Thủ tớng Hashimoto khởi sớng
và đợc thực hiện kể từ tháng 11/1996, hệ thống tà chính Nhật Bản mới thực sự bớc vào một
cuộc cải cách sâu sắc và toàn diện.
Đặc điểm nổi bật của hệ thống tài chính Nhật Bản là chủ yếu dựa vào ngân hàng nên
trớc hết chúng ta sẽ đi vào các chính sách, biện pháp để cải cách ngân hàng trung ơng
(NHTW) và ngân hàng thơng mại (NHTM).
1. Các chính sách đối với NHTW và NHTM
Hệ thống tài chính Nhật Bản, đặc biệt là hệ thống ngân hàng, đã đợc ca ngợi có vai trò
sống còn trong phát triển kinh tế của Nhật Bản trớc những năm 1990. Rất nhiều ngân hàng
Nhật Bản thời kỳ đó là những ngân hàng lớn nhất trên thế giới: 9 trong số 10 ngân hàng hàng
đầu thế giới xét về quy mô tài sản là những ngân hàng Nhật Bản. Các ngân hàng này có
những quỹ tiền gửi khổng lồ, chi phí thấp và những đánh giá tín dụng cao nhất. Chính vì thế,
Nhật Bản đã thay đổi hẳn trong những năm 1990 với những món nợ khó đòi khổng lồ của
các ngân hàng, kinh tế triền miên trong vòng suy thoái, giảm phát liên tục trong những năm
thêm vào quyền hạn của NHTW trong chính sách tiền tệ, nhng vẫn coi HNTW là một bộ
phận của Bộ Tài Chính. Sau Chiến tranh Thế giới thứ II, BOJ hầu nh không có sự thay đổi.
Hai sáng kiến nhằm cải cách Luật NHTW – một lần vào cuối những năm 1950 và một lần
nữa vào năm 1965 đều không đem lại kết quả. Vì lúc đó kinh tế đang tăng trởng với tốc độ
cao nên các chính trị gia cũng nh công chúng thấy không quan tâm nhiều tới sự thay đổi Luật
NHTW. Điều này mới chỉ đợc thực sự nghĩ tới khi nền kinh tế đã nh một quả bóng căng
phồng vào cuối những năm 1980 và khi bong bóng nổ thì những tiếng kêu cứu từ những tổ
chức cho vay và của công chúng buộc Chính phủ phải có một vài hành động để thay đổi
chính sách tiền tệ và hệ thống tài chính. Một uỷ ban t vấn riêng của Thủ tớng Hashimoto và
báo cáo đầu tiên đợc công bốvào tháng 11 năm 1996. Sau đó quá trình sửa đổi luật bắt đầu đ-
ợc Uỷ ban Nghiên cứu hệ thống tài chính và Ban Cố vấn trong Bộ Tài chính tiến hành.
Tháng 2 năm 1997 dự thảo luật đợc nội các chấp thuận và đợc 2 viện của Quốc hội thông qua
vài tháng sau đó. Với tiêu đề “Tiến tới sự độc lập của BOJ” báo cáo của Uỷ ban T vấn đã
tổng hợp ý kiến của các quan chức trong BOJ và Bộ Tài chính.
Luật NHTW mới của Nhật Bản ghi rõ NHTW đợc độc lập trong chính sách tiền tệ và
cụ thể hoá những vấn đề thuộc phạm vi của NHTW. Điều 1 của Luật đa ra 2 mục tiêu của
NHTW là quản lý tiền, ổn định giá cả, và đảm bảo cung cấp vốn cho các ngân hàng và các tổ
chức tài chính khác, duy trì trật tự của hệ thống tài chính. Quy định này cho thấy NHTW là
trung tâm của hệ thống thanh toán cũng nh là tổ chức để duy trì “trật tự tài chính”. Điều 3
của Luật tuyên bố sẽ tôn trọng quyền tự quyết của NHTW bằng sự độc lập trong quá trình ra
quyết định và công bố nội dung các quyết định. Luật cũng quy định chức năng và việc bổ
nhiệm các chức vụ của NHTW. Ban trị sự của BOJ sẽ gồm: 1 thống đốc, 2 phó thống đốc, 6
thành viên đợc lựa chọn nằm trong Ban chính sách, 3 kiểm toán viên,6 giám đốc điều hành,
và một số cố vấn. Thống đốc, 2 phó thống đốc, 6 thành viên đợc lựa chọn nằm trong Ban
Chính sách, ban này do Nội các chỉ định với sự đồng ý của 2 viện trong Quốc hội sẽ đợc ra
những quyết định quan trọng về chính sách tiền tệ và về hệ thống ngân hàng. Những kiểm
toán viên cũng do Nội các bổ nhiệm, nhng các giám đốc điều hành và các cố vấn thì do Bộ
trởng Tài chính bổ nhiệm theo sự giới thiệu của Ban Chính sách. Luật ghi rõ 6 thành viên đ-
ợc lựa chọn phải là chuyên gia kinh tế hoặc tài chính, hoặc những ngời có kiến thức uyên
thâm về kinh tế – xã hội để tăng cờng tính minh bạch và có thể hạn chế sự can thiệp của Bộ
ra điều kiện gì không.
Với chức năng là ngân hàng của Chính phủ, NHTW luôn gặp phải những vấn đề khó
sử trớc đây. Chính phủ các nớc đều đã có lúc gây áp lực với NHTW trong việc thay đổi
chính sách lãi suất để có những khoản vay với lãi suất thấp hơn cho những hoạt động của
Chính phủ. Điều 34 nói BOJ có thể cho vay không cần thế chấp đối với Chính phủ, hoặc mua
trái phiếu hoặc ghi nợ trong giới hạn của Luật Ngân sách mà Quốc hội dặt ra.
Nh vậy, việc áp dụng luật NHTW sửa đổi cho phép tạo lập môi trờng pháp lý phù hợp
với tiêu chwnr quốc tế về quyền tự chủ, tính minh bạch và các nhân tố quan trọng khác của
NHTW. Đây là những điều kiện cần thiết để chiếm đợc lòng tin của thi trờng. Với Luật sửa
đổi này phạm vi can thiệp của Chính phủ với BOJ đã bị thu hẹp, tuy nhiên BOJ cũng phải
luôn duy trì mối quan hệ gần gũi và trao đổi quan diểm với Chính phủ một cách đầy đủ để
đảm bảo chính sách của BOJ hài hoà với chính sách kinh tế của Chính phủ. Luật ngân hàng
mới nhấn mạnh khái niệm “minh bạch” với quy định rằng BOJ sẽ thông báo ra công chúng
nội dung các quyết định cũng nh quá trình ra quyết địnhcó liên quan tới vấn đề quản lý tiền
và ngoại hối. Có thể thấy cuộc cải cách đối với BOJ tơng đối toàn diện vì không chỉ về cơ
cấu luật pháp bên ngoài mà còn về cấu trúc và động lc bên trong của nó, tạo điều kiện để
BOJ trở thành một ngân hàng hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế. Điều này đã đợc chứng minh
trong thời gian 4 năm qua khi BOJ luôn kiên định duy trì chính sách nới lỏng tiền tệ của
mình với việc điều chỉnh lãi suất linh hoạt, can thiệp kịp thời vào thị trờng ngoại hối. Chẳng
hạn, trong thời gian qua khi đồng Yên lên giá quá mức, tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu
của Nhật Bản. Chỉ tính từ cuối tháng 5/ 2002 đến đầu tháng 7/2002, BOJ đã 7 lần tung đồng
Yên ra để mua Đôla Mỹ và trong lần can thiệp thứ 6, BOJ đã yêu cầu Cục dự trữ Liên bang
Mỹ và NHTW châu âu giúp cho việc bán đồng Yên. Đây là lần đầu tiên BOJ có sự phối hợp
với NHTW của các nớc khác.
b. Đối với các NHTM
NHTM là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ – tín dụng và có thể hiểu đó
là một trung gian tài chính đi vay để cho vay. Có nhiều loại hình NHTM nh NHTM công,
NHTM t, NHTM trong nớc, NHTM nớc ngoài, NHTM toàn quốc, NHTM địa phơng, NHTM
duy nhất hoặc NHTM mạng lới, dựa trên tiêu thức doanh số ngời ta phân biệt NHTM nhỏ,
NHTM lớn hoặc siêu lớn.
hàng Nhật Bản thực sự rơi vào khủng hoảng vì sự quản lý lỏng lẻo của ngân hàng trong việc
cho vay tràn lan, không giám sát, không thẩm định chặt chẽ tài sản và tình hình kinh doanh
của các công ty dẫn đén sự bùng nổ của các khoản nợ khó đòi. Tháng 3 năm 1997, BOJ cũng
nh Bộ Tài chính mới coi vấn đề nợ khó đòi của các ngân hàng là vấn đề cấp thiết. Để vực dậy
hệ thống ngân hàng, cuộc đại cải cách tài chính “Big Bang” đã đa ra những giải pháp dài hạn
cơ cấu lại các NHTM. So với các nớc phát triển khác, các NHTM của Nhật Bản hiện tại khả
năng sinh lời thấp, chất lợng tín dụng cha cao, trình độ công nghệ và mô hình tổ chức quản lý
còn cha tốt. Vì vậy, để có khả năng cạnh tranh cao và hội nhập thì cần phải có kế hoạch tổng
thể cơ cấu lại NHTM, cụ thể là:
Lành mạnh hoá tài chính và nâng cao năng lực tài chính của các NHTM. Trớc hết,
phải xử lý triệt để nợ tồn đọng, làm sạch bảng tổng kết tài sản, phấn đấu giảm tỷ lệ nợ quá
hạn xuống dới 5% tổng d nợ theo tiêu chuẩn quốc tế thông qua việc thành lập Ban Cơ cấu tài
chính các NHTM và công ty mua bán, giải quyết nợ. Tăng vốn điều lệ cho các NHTM nhằm
đảm bảo yêu cầu về tỷ lệ vốn tự có theo tiêu chuẩn quốc tế.
Cơ cấu lại mô hình tổ chức của NHTM, tăng cờng sự kiểm tra, kiểm soát để tăng chất
lợng tín dụng, dịch vụ ngân hàng, đảm bảo quyền tự chủ của ngân hàng trong việc ra quyết
định. Quản lý tín dụng theo hớng kinh doanh tín dụng theo nguyên tắc thị trờng, giảm dần sự
bảo hộ của nhà nớc, đảm bảo an toàn theo tiêu chuẩn quốc tế. Xây dựng các thiết chế quản lý
rủi ro, giảm thiểu rủi ro và tăng năng lực tài chính. Đánh giá đúng thực trạngtài chính của các
NHTM đồng thời xây dựng chiến lợc đào tạo và sử dụng nhân viên theo hớng đáp ứng đợc
yêu cầu kinh doanh, cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận. Nh vậy mới có thể làm cho các
NHTM của Nhật Bản đạt trình độ của các đối tác phơng Tây.
Ngoài ra, trong chơng trình “Big Bang” còn đa ra một loạt các cải cách nh mở rộng sự
lựa chọn cho các nhà đầu t và những ngời đi vay. Trong đó có các biện pháp nh xoá bỏ hoàn
toàn lệnh cấm đối với những dẫn xuất chứng khoán, giới thiệu tài khoản quản lý tài sản, cho
phép các ngân hàng bán các tín thác đầu t và bảo hiểm, tăng khả năng thanh toán tiền mặt của
tài sản bằng việc sử dụng chứng khoán dựa vào tài sản, tự do hoá giao dịch vốn xuyên quốc
gia và tiền gửi từ nớc ngoài về. Luật Sửa đổi về ngoại hối đã đợc Quốc hội thông qua và có
hiệu lực từ 1/4/1998.
Với mục đích cứu trợ cho những ngân hàng yếu kém, cung với kế hoạch rót 13 nghìn
ớc kia, Chính phủ buộc các ngân hàng phải giải trình cụ thể các kế hoạch cải cách tài chính
và cải thiện cách thức cho vay. Quá trình công khai hoá thông tin và cơ cấu lại các khoản nợ
chắc chắn sẽ khiến các ngân hàng và các công ty tài chính bị thiệt hại nặng nề nhất. Bởi vì
việc công nhận thiệt hại ở các khoản nợ khó đòi và tính lỗ vào doanh thu sẽ không đủ riêu
chuẩn cung cấp những khoản tín dụng mới. Sự trục trặc của các ngân hàng sẽ làm tăng những
khó khăn về vốn cho các doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ vì hoạt động tài
chính của hầu hết các doanh nghiệp là dựa vào các ngân hàng. Do số lợng các doanh nghiệp
này chiếm tới 6,47 triệu trong tổng số 6,53 triệu doanh nghiệp, chiếm 51,4% thị phần sản
xuất công nghiệp, 61,4% bán sỉ và 76,8% bán lẻ, sử dụng tới 80% lực lợng lao động nên
Nhật Bản đã tiến hành sửa đổi luật doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm giúp giảm thiểu tác động
trái chiều của những cải cách ngân hàng nêu trên (Nguyễn Minh Phong – Trịnh Thanh
Huyền, Cải cách hệ thống tài chính Nhật Bản những năm cuối thập kỷ 90 và bài học cho
Việt Nam, Nxb Tài chính, Hà Nội).
Bên cạnh việc xin bơm vốn, các ngân hàng cũng có kế hoạch sáp nhập thành các tập
đoàn ngân hàng lớn hoặc thành lập liên minh để chuẩn bị cho việc tự do hoá hoàn toàn hoạt
động môi giới. Chẳng hạn, ngân hàng Sumitomo Trust và công ty Sumitomo, Dai-Ichi
Kangyo và Fuji đã sáp nhập các công ty cổntng lĩnh vực ngân hàng và có kế hoạch mua công
ty quản lý tài sản của Yasuda Trust. Công ty Sumitomo cũng đã cùng với công ty chứng
khoán Daiwa thành lập một công ty chuyên kinh doanh công trái, cổ phiếu, môi giới sáp
nhập và mua lại cổ phiếu. Ngân hàng lớn nhất Nhật Bản là Tokyo-Mitsubishi cũng đàm phán
để mua lại công ty Nomura- một trong 3 công ty môi giới chính của Nhật Bản. Ba ngân hàng
hàng đầu của Nhật Bản là ngân hàng công nghiệp Nhật Bản, Dai- Ichi Kangyo Bank Ltd, và
Fuji Bank Ltd. vào đầu năm 2000 đã liên minh với nhau để tạo ra nhóm ngân hàng lớn nhất
thế giới với tổng tài sản là 140 nghìn tỷ Yên (1.260 tỷ USD), trong đó giá trị tài sản của Fuji
Bank là 385 tỷ USD và của ngân hàng công nghiệp Nhật Bản là 370 tỷ USD, Dai- Ichi
Kangyo Bank là 456 tỷ USD. Trớc đó ngày 14/10/1999, hai NHTM lớn nhất Nhật Bản là
Sumitomo Bank và Skura Bank đã chính thức công bố sẽ sáp nhập với nhau để thành lập một
ngân hàng khổng lồ, lớn thứ 2 thế giới với tổng tài sản là 99 nghìn tỷ Yên (927 tỷ USD) vào
tháng 4/2002. Đây là một hớng đi mới để tăng thêm khả năng cạnh tranh của các ngân hàng
Nhật Bản trong xu thế toàn cầu hoá và sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ thông tin.
Trong chính sách tín dụng, công cụ lãi suất cũng đợc sử dụng với mục tiêu kích thích
các doanh nghiệp tăng cờng đầu t, mở rộng sản xuất nhằm phục hồi mức tăng trơng kinh tế
và chống lại tình trạng giảm phát. Mặc dù trớc năm 1998, lãi suất các loại đã ở mức rất thấp
nhng đến tháng 2/1999 BOJ đã thực hiện chính sách lãi suất bằng 0. Chính sách lãi suất bằng
0 ngoài mục tiêu kích thích các doanh nghiệp tăng cờng đầu t, còn nhằm giảm đi số tiền lãi
cần phải trả khi nợ của Chính phủ và nợ của các công ty đã phình ra tới mức có thể nguy hại
nền kinh tế Nhật Bản. Việc áp dụng chính sách lãi suất trên đã góp phần làm cho kinh tế
Nhật Bản có sự chuyển biến tích cực khi mức tăng trởng đạt 0,5% năm 1999 so với mức tăng
– 1,9% năm 1998. Đến tháng 8/2000 NHTW Nhật Bản lại ra thông báo xoá bỏ chính sách lãi
suất bằng 0 (xem bảng: Mức lãi suất của Nhật Bản 1994 – 2002). Nhng tình trạng trì trệ
trong nền kinh tế sau đó đã cho thấy sự xoá bỏ chính sách này là cha đúng lúc. NHTW lại
thông qua chính sách lãi suất bằng 0 vào tháng 2/2001 và giới thiệu phơng thức cho vay theo
kiểu Lombard (là cách cho vay thế chấp chứng khoán, tín dụng), cộng thêm sự nới lỏng hơn
về số lợng cho vay.
Bên cạnh việc thực hiện chính sách lãi suất bằng 0, còn có những biện pháp khác để
giúp các ngân hàng thơng mại và các tổ chức tín dụng, giảm phí dịch vụ trong việc mua bán
các giấy tờ có giá… Hiện nay, số tiền gửi của cá nhân và của các công ty vào ngân hàng là
hơn 600.000 tỷ Yên. Trong số đó chỉ có 4 nghìn tỷ Yên đợc gửi vào BOJ nh là khoản dự trữ
bắt buộc, nh vậy tỷ lệ dự trữ bắt buộc này là quá thấp so với tiêy chuẩn quốc tế.
Cho đến nay BOJ vẫn quyết định giữ nguyên mục tiêu dự trữ trong tài khoản vãng lai
của họ ở mức 10 – 15 nghìn tỷ Yên và mức mua trái phiếu của Chính phủ Nhật Bản hàng
tháng ở mức 1 nghìn tỷ Yên, coi đây nh là một phần của chính sách lãi suất bằng 0 và tiếp
tục chính sách nới lỏng tiền tệ cho tới khi nền kinh tế đạt mức lạm phát dơng. Việc chuyển
mục tiêu từ lãi suất sang số lợng trong chính sách nới lỏng tiền tệ của BOJ bắt đầu thực hiện
vào tháng 3/2001, theo giáo s Nariai Osamu của trờng đai học Reitaku là một bớc chuyển
quan trọng để kéo nền kinh tế ra khỏi tình trạng giảm phát.
Mức lãi suất của Nhật Bản 1994 – 2002 (%/ năm)
Các loại lãi suất 1996
1997
0,25 0.25 0,15 0,08 0,12 0,02 0,01
Lãi suất bu điện kỳ
hạn 3 năm trở nên
0,80 0,45 0,25 0,20 0,20 0,07 0,07
Lãi suất trái phiếu
chính phủ kỳ hạn 10
năm
2,75 1,99 0,97 1,83 1,66 1,31 1,40
Lãi suất chiết khấu 0,50 0,50 0,50 0,50 0,50 0,10 0,10
Lãi suất cho vay ngắn
hạn
1,62 1,62 1,50 1,37 1,50 1,37 1,37
Lãi suất cho vay dài
hạn
2,50 2,30 2,20 2,20 2,10 1,85 1,75
Lãi suất cho hộ gia
đình vay mua nhà
3,10 3,00 2,20 2,80 2,80 2,60 2,60
(Nguồn: Financial and economic statistic monthly, June 2002, No.39, p.4)
Cho đến nay, sau hơn 4 năm thực hiện chơng trình “Big Bang”, BOJ vẫn không thay
đổi chính sách nới lỏng tiền tệ của mình với việc duy trì lãi suất thấp và tăng cơ số tiền.
4. Các chính sách về thuế, thu chi ngân sách và bảo hiểm
a. Về thuế
Thực tế chỉ ra rằng thuế là một vấn đề nhạy cảm và tác động nhanh tới hoạt động kinh
tế. Nhằm làm sống động nền kinh tế sau 2 năm suy thoái nặng nề 1997 – 1998, và để kích
thích tiêu dùng và đầu t, Chính phủ Nhật Bản đã tập trung vào việc cải cách thuế, coi đó là
một phần trong cải cách cơ cấu của Nhật Bản. Trong năm tài chính 1999, Chính phủ đã thực
hiện chơng trình cắt giảm thuế thờng xuyên và thuế chiến lợc.
Trong cắt giảm thuế thờng xuyên thì thuế thu nhập sẽ đợc cắt giảm 20% với mức cắt
giảm tối đa không quá 250.000 Yên. Mức thuế thu nhập cao nhất sẽ giảm từ 65% xuống
chính trớc, xuống còn 10,3 nghìn tỷ Yên, giảm 935 tỷ Yên so với dự toán.
Trong năm tài chính 2002, Nhật Bản dự tính sẽ cắt giảm 1.000 tỷ Yên thuế công ty và
ngày 5/8/2002 Thủ tớng Koizumi đã cắt giảm thêm 1.000 tỷ Yên thuế công ty thêm một năm
nữa, nghĩa là năm tài chính 2003 kết thúc vào tháng 3/2004 tạo ra sự cạnh tranh bình dẳng
cho các công ty.
Giảm thuế tập trung vào các công ty trong việc tăng cờng sử dụng vốn và nghiên cứu.
Thuế công ty của Nhật Bản hiện nay là 40,87% so với thu nhập, cao hơn chút ít so với Mỹ
(40,75%). Nhng mức này cao hơn 10,84% mức thuế của Anh và 6,54% của Pháp, và cao hơn
các nớc châu á khác 10 đến 15% (Việt Nam News, 12/8/2002).
b. Về thu chi ngân sách của Chính phủ
Mặc dù trong những năm 1990 Nhật Bản đã nhiều lần tiến hành cải cách thu chi ngân
sách, song, đây vẫn là lĩnh vực khó khăn và gay gắt nhất. Trong khi các nớc châu âu và Mỹ
liên tục duy trì những nguyên tắc tài chính ở trung ơng và địa phơng để cải thiện thu chi ngân
sách, Nhật Bản trái lại thâm hụt ngân sáchkhông ngừng tăng. Hai nhân tố chính khiến thâm
hụt ngân sách tăng là sử dụng qua mức chính sách tài chính để kích thích phát triển kinh tế
và sự cách biệt giữa lợi ích và chi phí.
Về chi tiêu ngân sách: Trong năm tài chính 2001, Nhật Bản vẫn duy trì chính sách tăng
chi tiêu để kích thích nền kinh tế. Trong tháng 11/2002, chỉ cha đến 1 tuần, Chính phủ đã phê
chuẩn2 đợt chi ngân sách bổ sung trị giá 5,5 nghìn tỷ Yên cho năm tài chính 2001 kết thúc
vào tháng 3/2002. Trong đó 3 nghìn tỷ Yên đợc chi cho chơng trình việc làm và 2,5 nghìn tỷ
Yên đợc chi cho hỗ trợ tăng trởng kinh tế. Riêng khoản chi cho chơng trình việc làm đã
khiến cho tổng giá trị trái phiếu phát hành của Chính phủ đợcphát hành trong năm tài chính
2001 lên tới 30 nghìn tỷ Yên và nợ của Chính phủ sẽ lên đến 666 nghìn tỷ Yên, tơng đơng
với 130% GDP, mức cao nhất trong số các nớc phất triển.Tài khoản chi tiêu tổng hợp của
Chính phủ cho năm 2001 vào khoảng 83 nghìn tỷ Yên. Trong đó dịch vụ nợ quốc gia chiếm
khoảng 17 nghìn tỷ Yên, gần bằng 1/5 tổng số. Trợ cấp thuế cho địa phơng cũng xấp xỉ 17