113 Rủi ro kiểm toán gắn với việc thiết kế các mô hình rủi ro - Pdf 21

LỜI MỞ ĐẦU
Tháng 11 năm 2007 Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại
thế giới WTO, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong nền kinh tế Việt
Nam . Sự hội nhập thế giới mở ra cho chúng ta nhiều cơ hội cũng như thách
thức. Nền kinh tế Việt Nam được đón nhận sự đầu tư nhiều hơn của các tổ
chức và các khu vực kinh tế cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng bên
cạnh đó nước ta phải có những điều chỉnh trong chính sách pháp luật đầu tư,
kinh doanh cho phù hợp với môi trường quốc tế, và đón nhận sự có mặt của
các doanh nghiệp, các tổ chức kinh doanh nước ngoài trên thị trường Việt
Nam. Điều đó đặt ra cho các cá nhân, các doanh nghiệp, và các tổ chức kinh
tế nước ta một bài toán lớn. Chúng ta phải đi tìm lời giải cho sự tồn tại, con
đường phát triển đúng đắn, toàn diện. Sự hình thành và lớn mạnh của các
doanh nghiệp và tổ chức kinh tế trong và ngoài nước sau gần 3 năm gia nhập
WTO và môi trường kinh doanh mới đã tạo nên nhiều kênh thông tin kinh tế
khác nhau, và kéo theo đó nhu cầu sử dụng thông tin tài chính cũng ngày càng
đa dạng và trở nên quan trọng hơn, đòi hỏi thông tin phải được cung cấp kịp
thời,độ chính xác ngày càng tăng. Trong xu thế phát triển tất yếu đó, dịch vụ
kiểm toán là có uy tín nhất trong việc thẩm định thông tin tài chính của các
doanh nghiệp. Những người quan tâm đến tình hình tài chính của doanh
nghiệp coi báo cáo kiểm toán là ý kiến cuối cùng trong việc thẩm định, xác
minh tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính. Dịch vụ kiểm toán đã phát
triển từ rất lâu trên thế giới, song tại Việt Nam mới bắt đầu hình thành từ năm
1991. Ra đời muộn nhưng sau gần 20 năm phát triển kiểm toán Việt Nam đã
tạo một vai trò đặc biệt quan trọng của mình trong việc tăng cường, nâng cao
hiệu quả quản lí, lành mạnh hóa nền tài chính Việt Nam. Với chức năng xác
minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động của đơn vị được kiểm toán,
1
kiểm toán tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, các nhà quản trị doanh nghiệp,
khách hàng và những người quan tâm góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và
củng cố nền nếp hoạt động tài chính, kế toán nói riêng và hoạt động quản lí
nói chung. Hơn hết, nó góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả quản lí, từ đó

gắn với khái niệm - được gọi là rủi ro.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về rủi ro. Các học giả người Pháp
đơn thuần coi rủi ro chỉ liên quan đến các thiệt hại. Quan điểm của Mỹ thì cho
rằng rủi ro liên quan đến thiệt hại và may mắn. Và có những quan điểm cho
rằng rủi ro là khả năng xảy ra một số sự cố không may, hay là sự kết hợp các
nguy cơ, là sự không chắc chắn về tổn thất, là khả năng xảy ra tổn thất.Tuy
các quan điểm có thể xuất phát từ những khía cạnh khác nhau nhưng đều đưa
ra kết luận rằng: Rủi ro là khái niệm chỉ khả năng không chắc chắn về một sự
kiện nào đó sẽ xảy ra . Rủi ro được nhắc đến để ám chỉ một điều không chắc
chắn, một hậu quả với những tình huống không lường trước được có thể xảy
ra, nếu xảy ra có thể không như chúng ta mong đợi. Rủi ro ứng với sai lệch
giữa dự kiến với thực tế.
Có một câu hỏi được đặt ra lúc này là: Tại sao chúng ta phải tìm hiểu
về ‘rủi ro’? Rủi ro đem lại những ích lợi hay bất lợi gì cho cuộc sống của
chúng ta?
Tất nhiên, khi đứng trước những sự lựa chọn, quyết định hay một sự
kiện, công việc nào đó, bạn luôn tư duy phân tích dù ít hay nhiều về vấn đề
3
bạn đang quan tâm. Với nhiều công việc để đạt được kết quả mong muốn cần
thiết phải lập kế hoạch cho nó, trong đó, bước đánh giá rủi ro là một yếu tố
quan trọng. Đánh giá rủi ro là quá trình tìm hiểu những rủi ro có thể và sẽ liên
quan tới công việc và chỉ ra cụ thể những rủi ro có thể gặp. Xây dựng những
biện pháp kiểm soát để thực thi công việc một cách hiệu quả nhất, an toàn
nhất nhằm tránh gây ra những hậu quả không mong đợi. Như vậy, hiểu được
bản chất của rủi ro, ta sẽ có thể giải quyết được nhiều vấn đề.
Theo lối tư duy thông thường mọi người thường cho rằng rủi ro là khả
năng xảy ra sự việc đưa đến hậu quả bất lợi. Tuy nhiên lối tư duy này không
còn phù hợp nữa khi mà trình độ phát triển và nền kinh tế đang vận động một
cách nhanh chóng và phức tạp hơn. Do đó, chúng ta cần đánh giá rủi ro gắn
với nhiều khía cạnh hơn như xác suất, nguy cơ, cơ hội và kết quả.

mặt tích cực và tiêu cực để đưa ra cái nhìn tổng quan về rủi ro tiêu cực không
mong muốn gặp phải.
Rủi ro với cơ hội
Hai khái niệm này thường có ảnh hưởng trái chiều lên nhau. Cơ hội cao
thì rủi ro thấp và ngược lại. Ví dụ, khi chọn ngành kiểm toán để theo học ở
trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Hà Nội, cơ hội sau này về cơ hội việc làm
và thu nhập là khá cao. Tuy nhiên điểm thi đầu vào của ngành này cũng cao.
Do đó rủi ro có thể thi trượt được đánh giá là cao.
5
Rủi ro = khả năng xảy ra một tai nạn x thiệt hại
Như vậy, với những nét khái quát chung nhất về “ rủi ro” trên đây sẽ
làm cơ sở cho vấn đề cần nghiên cứu trong phạm vi đề tài này. Đó là rủi ro
kiểm toán và các mô hình đánh giá rủi ro kiểm toán.
1.2 Rủi ro kiểm toán
Trong kiểm toán nói chung và kiểm toán tài chính nói riêng rủi ro kiểm
toán là khái niệm quen thuộc gắn liền với trách nhiệm của kiểm toán viên.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế (IAG25) về “Trọng yếu và rủi ro kiểm
toán” thì rủi ro kiểm toán được định nghĩa: “Rủi ro kiểm toán là những rủi ro
mà kiểm toán viên có thể mắc phải khi đưa ra những nhận xét không xác đáng
về các thông tin tài chính và đó là các sai phạm nghiêm trọng. Ví dụ, kiểm toán
viên có thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn bộ một báo cáo tài chính mà không
biết rằng các báo cáo này vẫn còn những sai phạm nghiêm trọng”. Nguyên tắc
này chỉ rõ bản chất và nguyên nhân của rủi ro kiểm toán. Phù hợp với IAG 25
, Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400( VSA400 ) “Đánh giá rủi ro và
kiểm soát nội bộ ” đưa ra định nghĩa về rủi ro kiểm toán như sau: “Rủi ro
kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận
xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có những sai
sót trọng yếu. Rủi ro kiểm toán bao gồm 3 bộ phận ; rủi ro tiềm tàng , rủi ro
kiểm soát, và rủi ro phát hiện”. Định nghĩa này không những chỉ ra bản chất
mà còn chỉ ra các bộ phận của rủi ro kiểm toán.

7
Tại sao kiểm toán kiểm soát nội bộ ngày càng đóng vai trò quan trọng ?
Nếu như kiểm toán độc lập đã có mặt ở Việt Nam được hơn 10 năm thì
cho đến nay, khái niệm kiểm toán kiểm soát nội bộ vẫn còn xa lạ với nhiều
nhà quản lý. Tuy nhiên, yêu cầu hội nhập WTO, sự phát triển nhanh chóng
của thị trường chứng khoán và những vụ bê bối về quản trị ở một số doanh
nghiệp lớn của Nhà nước gần đây cho thấy sự cần thiết của kiểm toán soát
nội bộ ở doanh nghiệp. Trên thế giới, kiểm toán kiểm soát nội bộ đã ra đời từ
lâu nhưng chỉ phát triển từ sau các vụ gian lận tài chính ở Công ty Worldcom
và Eron (Mỹ) những năm 2000-2001 và đặc biệt là khi Luật Sarbanes-Oxley
của Mỹ ra đời năm 2002. Luật này quy định các công ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán Mỹ phải báo cáo về hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội
bộ của công ty.
II. CÁC MÔ HÌNH RỦI RO KIỂM TOÁN
2.1 Mô hình rủi ro kiểm toán trong kiểm toán tài chính
2.1.1 Mô hình rủi ro kiểm toán trong kiểm toán tài chính
Trong thực tiễn công tác kiểm toán , mối quan hệ giữa các loại rủi ro
kiểm toán được biểu diễn qua hai mô hình rủi ro sau:
Mô hình (2.1.1): AR
Trong đó: AR là rủi ro kiểm toán ( Audit risk )
IR là rủi ro tiềm tàng ( Inherent risk )
CR là rủi ro kiểm soát ( Control risk )
DR là rủi ro phát hiện ( Detection risk )
Mô hình này được KTV sử dụng để đánh giá tính hợp lí của kế hoạch
kiểm toán. KTV có thể sử dụng mô hình này để điều chỉnh rủi ro phát hiện
8
( DR) dựa trên các loại rủi ro khác đã được đánh giá nhằm đạt được rủi ro
kiểm toán ở mức thấp mà KTV kỳ vọng. Mô hình trên có thể minh họa qua ví
dụ sau: KTV kỳ vọng rủi ro kiểm toán khi tiến hành 1 cuộc kiểm toán ở mức
tương đối thấp , khoảng 0,05 ( có nghĩa là trung bình có khoảng 5% các

DR 0,063
DR = 0,063 có nghĩa là để đạt mức rủi ro kiểm toán mong muốn là 0,04
thì KTV phải xây dựng thủ tục kiểm toán thích hợp và thu thập số lượng bằng
chứng kiểm toán hợp lí để mức rủi ro phát hiện không vượt quá 0,063.
Với mô hình (2.1.2) rủi ro kiểm toán thường được xác định trước cuộc
kiểm toán theo tiêu chuẩn của từng công ty và được gọi là rủi ro kiểm toán
mong muốn ( DAR – Designed Audit Risk ), vì vậy mô hình (2.1.2) thường
được viết dưới dạng :
DR
DAR: rủi ro kiểm toán mong muốn – designed audit
risk
10
Với một mức rủi ro kiểm toán mong muốn cho trước , từ mô hình (2.1.2)
có thể rút ra kết luận : rủi ro phát hiện có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với rủi ro
tiềm tàng , rủi ro kiểm soát và số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập, tỉ
lệ thuận với rủi ro kiểm toán. Nếu rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được
đánh giá cao thì rủi ro phát hiện được tính toán sẽ thấp, số lượng bằng chứng
kiểm toán cần thu thập nhiều. Ngược lại, khi rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm
soát được đánh giá thấp thì rủi ro phát hiện là cao, khi đó với số lượng bằng
chứng kiểm toán nhỏ hơn KTV có thể đưa ra được kết luận hợp lí. Mối quan
hệ giữa rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, và bằng chứng kiểm toán với rủi ro
phát hiện được thể hiện qua các bảng dưới đây:
Bảng: Ma trận rủi ro phát hiện
Rủi ro phát hiện được
KTV tính toán
IR được KTV đánh giá
Cao Trung bình Thấp
CR được
KTV
đánh giá

đối tượng kiểm toán ở mức cao.
Trong một cuộc kiểm toán rủi ro không bao giờ được loại trừ một cách
tuyệt đối , khái niệm rủi ro mong muốn thể hiện mức độ kỳ vọng của kiểm
toán viên đối với một mức rủi ro có thể chấp nhận được. Rủi ro kiểm toán
mong muốn được xác định một cách chủ quan theo kinh nghiệm và óc phán
xét nghề nghiệp của KTV, và thông thường các công ty kiểm toán thường đặt
một mức rủi ro mong muốn xác định có thể chấp nhận cho mọi cuộc kiểm
toán mà công ty thực hiện. Khi KTV cho rằng rủi ro mong muốn bằng 0 có
nghĩa là KTV tin tưởng báo cáo tài chính của khách hàng không tồn tại bất cứ
sai phạm trọng yếu nào. Tuy nhiên đó là trường hợp lí tưởng không bao giờ
xảy ra đối với mọi cuộc kiểm toán. Kiểm toán là một lĩnh vực mang tính
tương đối hơn tuyệt đối, vì vậy KTV chỉ có thể kết luận rằng báo cáo tài chính
của khách hàng đã được trình bày trung thực , hợp lí xét trên các khía cạnh
trọng yếu, chứ không thể khẳng định rằng báo cáo tài chính hoàn toàn trung
thực hợp lí xét trên mọi khía cạnh. Ngược lại, khi KTV xác định rủi ro kiểm
toán ở mức 1 ( hay 100%) KTV có thể kết luận rằng báo cáo tài chính của
khách hàng đã bị sai lệch nghiêm trọng trên mọi khía cạnh trọng yếu.
Việc đưa ra mức rủi ro kiểm toán mong muốn mang tính chủ quan của
KTV, nhưng KTV phải đưa ra mức rủi ro kiểm toán mong muốn đủ thấp để
những người quan tâm có thể sử dụng báo cáo tài chính của khách hàng là cơ
sở ra các quyết định, hạn chế các rủi ro trong kinh doanh. Vì vậy, để xác định
mức rủi ro mong muốn thích hợp, KTV cần lưu ý những điểm sau:
13
Thứ nhất, KTV phải xem xét mức độ mà người sử dụng bên ngoài tin
tưởng vào báo cáo tài chính của khách hàng. Khi người sử dụng thông tin đặt
niềm tin vào báo cáo tài chính được kiểm toán thì rủi ro kiểm toán phải được
giảm xuống mức thấp thích hợp. Tuy nhiên, rủi ro kiểm toán mong muốn
càng giảm xuống mức thấp thì chi phí cho cuộc kiểm toán càng tăng lên. Do
vậy , để cân nhắc một mức rủi ro kiểm toán mong muốn hợp lí đáp ứng lòng
tin của công chúng vào báo cáo tài chính được kiểm toán mà vẫn đảm bảo

thấp để có thể bù đắp các rủi ro kinh doanh phát sinh sau này. Để dự đoán
được khả năng gặp khó khăn của khách hàng , KTV phải đánh giá tổng hợp
trên các mặt trọng yếu và tập trung vào các yếu tố sau :
Khả năng thanh toán của khách hàng đặc biệt là khả năng thanh toán
nhanh và thanh toán tức thời có liến quan đến tính hoạt động liên tục của công
ty khách hàng. Khi một khách hàng thường xuyên thiếu tiền mặt và các tài
sản có tính lỏng cao trong thanh toán , KTV phải đánh giá khả năng thanh
15
Mức rủi ro
kiểm toán
Rủi ro đạt tới
Rủi ro mong muốn
Chi phí kiểm toán
0
(Bằng chứng kiểm toán)
toán nhanh và thanh toán tức thời của khách hàng là xấu. Và đây cũng là một
dấu hiệu cho thấy tình trạng khó khăn về tài chính của khách hàng sau khi báo
cáo kiểm toán phát hành. Khi đó rủi ro kinh doanh của khách hàng tăng lên và
rủi ro kiểm toán mong muốn phải để ở mức thấp.
Các khoản lỗ / lãi trong năm trước của khách hàng : KTV cần xem xét
xu hướng biến động của các khoản lỗ / lãi để dự đoán khả năng hoạt động của
khách hàng trong tương lai. Nếu trong nhiều năm liên tiếp gần đây lợi nhuận
của khách hàng luôn tăng, nhưng tại năm kiểm toán hiện hành, doanh nghiệp
có kết quả làm ăn thua lỗ thì KTV dự đoán hai khả năng có thể xảy ra : hoặc
là có gian lận kế toán nghiêm trọng trong quá trình lập báo cáo tài chính hoặc
công ty đang thực sự gặp khó khăn trong kinh doanh. Nếu có gian lận kế toán
xảy ra thường chỉ làm giảm tốc độ tăng lợi nhuận chứ không làm thay đổi
hoàn toàn kết quả kinh doanh, KTV cần kết hợp với tình hình kinh tế nói
chung và của ngành nói riêng tại năm hiện hành để đánh giá tình trạng của
doanh nghiệp cho hợp lí.

động hiệu quả nhưng rủi ro kiểm soát luôn phải được đánh giá ở mức trung
bình trở lên vì những hạn chế cố hữu của hệ thống kiểm soát nội bộ và vì rủi
ro kiểm soát luôn tồn tại.
Do tồn tại độc lập, khách quan với các thông tin tài chính, với các thử
nghiệm của KTV nên rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát khác biệt với rủi ro
phát hiện. Nói cách khác cho dù có tiến hành kiểm toán hay không, rủi ro tiềm
tàng và rủi ro kiểm soát vẫn tồn tại trong hoạt động và môi trường kinh doanh
của đơn vị cũng như nằm trong bản chất của những số dư tài khoản hay loại
hình nghiệp vụ. Ngược lại, KTV có thể kiểm soát được rủi ro phát hiện thông
17
qua việc điều chỉnh nội dung, thời gian và phạm vi của các thử nghiệm. Do
vậy cần phải thiết kế các thủ tục kiểm toán hợp lí để giảm thấp rủi ro kiểm
toán như mức mong muốn với chi phí hợp lí. Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm
toán và các bộ phận rủi ro cấu thành được khái quát trên sơ đồ dưới đây ( ở
trang sau
Sơ đồ : Rủi ro kiểm toán và các bộ phận cấu thành
18
Rủi ro tiềm tàng
(IR)
Rủi ro kiểm
soát( CR)
Rủi ro phát hiện
( DR)
Rủi ro kiểm
toán(AR)
Có sai
lầm cụ
thể nào
hay
Phát hiện bằng

tài chính và phải trao đổi với Giám đốc (hoặc người đứng đầu đơn vị) về mọi
gian lận hoặc sai sót quan trọng phát hiện được.”
19
Như vậy có thể thấy đánh giá rủi ro kiểm toán được đề cập đến trong
suốt cuộc kiểm toán, cho thấy tầm quan trọng và mức ảnh hưởng của nó tới
công việc kiểm toán bảng khai tài chính.
Đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán tài chính là thực sự cần thiết.
Thông qua đánh giá rủi ro kiểm toán sẽ đánh giá được rủi ro phát hiện, nhóm
kiểm toán viên sẽ xác định được kế hoạch kiểm toán, xây dựng chương trình
kiểm toán phù hợp. Từ đó kiểm toán viên sẽ xác định số lượng bằng chứng
kiểm toán cần thu thập và tiến hành thu thập những bằng chứng kiểm toán có
hiệu lực. Đây là một công việc rất quan trọng giúp kiểm toán viên cũng như
công ty kiểm toán giữ được uy tín nghề nghiệp, đạt được hiệu quả kiểm toán
mong muốn, giảm thiểu khả năng sai sót, nghĩa vụ pháp lý và có được những
thuận lợi để phát triển tốt trong tương lai.
Chính vì vậy mà công việc đánh giá rủi ro kiểm toán là rất quan trọng
và cần được thực hiện bởi các kiểm toán viên có trình độ cao.
2.1.4 Quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán tài chính.
Hiện nay, mô hình rủi ro kiểm toán 2.1 đang được sử dụng rộng rãi trong
kiểm toán tài chính ( mô hình 2.1.2 được nhiều công ty kiểm toán áp dụng ).
Mô hình này được sử dụng trong quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán được
thực hiện trong bước lập kế hoạch kiểm toán. Để hiểu rõ hơn về ứng dụng của
mô hình 2.1 vào thực tế, chúng tôi đưa ra một quá trình đánh giá rủi ro kiểm
toán của một công ty kiểm toán độc lập – Deloitte Việt Nam. Quy trình này
gồm ba bước cơ bản:
Đánh đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán ( xem 2.1.4.1)
Đánh giá rủi ro kiểm toán trên bảng khai tài chính. ( xem 2.1.4.2 )
Đánh giá rủi ro kiểm toán trên số dư các khoản mục và nghiệp vụ. ( xem
2.1.4.3)
20

và lĩnh vực kinh doanh của khách hàng nếu trong các năm kiểm toán trước
KTV đã thực hiện kiểm toán cho khách hàng.
- Trao đổi với KTV tiền nhiệm đối với khách hàng truyền thống của
Deloitte Việt Nam song năm nay có thể thay đổi nhóm kiểm toán thực hiện
hợp đồng kiểm toán đó.
- Xem xét hồ sơ kiểm toán các năm trước.
- Thu thập các văn bản pháp lý có liên quan.
- Trao đổi với ban giám đốc, kế toán trưởng công ty khách hàng.
Trong năm 2007, Doloitte Việt Nam đã tiến hành kiểm toán cho doanh
nghiệp Y. Đây là khách hàng truyền thống của công ty. Qua quá trình tìm
hiểu và thu thập thông tin để đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán,
thì KTV đã thu được kết quả sau:
Công ty Y là một công ty cổ phần được thành lập theo Quyết định số
54/BXD/TCLĐ ngày 28 tháng 01 năm 1997 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.
Theo quyết định số 1007/QĐ-BXD ngày 18/02/2005 của Bộ trưởng Bộ xây
dựng về việc thực hiện cổ phần hoá các công ty thành viên hạch toán độc lập
thuộc Tổng Công ty xi măng Việt Nam, công ty Y đã được tiến hành cổ phần
hoá. Ngày 01/05/2006, Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội đã cấp giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh số 0603000105, công ty Y chính thức trở thành
công ty cổ phần và hoạt động theo mô hình công ty cổ phần. Vốn điều lệ của
công ty là 900 tỷ VND. Trụ sở chính: Thanh Sơn, Kim Bảng, Hà Nam.
22
Ngành nghể kinh doanh: sản xuất và kinh doanh xi măng và các sản
phẩm từ xi măng; sản xuất và kinh doanh các loại vật liệu xây dựng khác;
kinh doanh các ngành nghể phù hợp với quy định của pháp luật.
Hội đồng quản trị gồm có 5 thành viên và ban giám đốc gồm 6 thành
viên do ông Bùi Văn Tròn làm giám đốc.
Công ty Y là khách hàng kiểm toán lâu năm của Deloitte Việt Nam,
nhóm kiểm toán thực hiện kiểm toán cho công ty Y không thay đổi. Thực tế
cho thấy trong các năm kiểm toán trước đây, khi kiểm toán cho công ty Y,

x
2. Kiểm toán viên có vay vốn của khách hàng không? x
3. Kiểm toán viên có là cổ đông chi phối của công ty khách hàng
không?
x
4. Kiểm toán viên có cho khách hàng vay vốn không? x
5. Kiểm toán viên có ký kết hợp đồng gia công sản phẩm với công ty
khách hàng không?
x
6. Kiểm toán viên có cung cấp nguyên vật liệu hay dịch vụ cho
khách hàng không?
x
7. Kiểm toán viên có quan hệ họ hàng thân thích với những người
trong bộ máy quản lý (Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các
trưởng phó phòng và những người tương đương) của khách hàng
không?
x
8. Kiểm toán viên có làm đại lý bán sản phẩm cho khách hàng
không?
x
9. Kiểm toán viên có làm dịch vụ trực tiếp ghi sổ kế toán, giữ sổ
kế toán và lập báo cáo tài chính cho khách hàng không?
x
24
10. Kết luận: Kiểm toán viên sẽ tham gia kiểm toán đã đảm bảo
tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp kiểm toán về tính
độc lập.
x
Số 8 Phạm Ngọc Thạch
Đống Đa – Hà Nội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status