Rủi ro kiểm toán gắn với việc thiết kế các mô hình rủi ro - Pdf 31

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Tháng 11 năm 2007 Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại
thế giới WTO, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong nền kinh tế Việt
Nam . Sự hội nhập thế giới mở ra cho chúng ta nhiều cơ hội cũng như thách
thức. Nền kinh tế Việt Nam được đón nhận sự đầu tư nhiều hơn của các tổ
chức và các khu vực kinh tế cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng bên
cạnh đó nước ta phải có những điều chỉnh trong chính sách pháp luật đầu tư,
kinh doanh cho phù hợp với môi trường quốc tế, và đón nhận sự có mặt của
các doanh nghiệp, các tổ chức kinh doanh nước ngoài trên thị trường Việt
Nam. Điều đó đặt ra cho các cá nhân, các doanh nghiệp, và các tổ chức kinh
tế nước ta một bài toán lớn. Chúng ta phải đi tìm lời giải cho sự tồn tại, con
đường phát triển đúng đắn, toàn diện. Sự hình thành và lớn mạnh của các
doanh nghiệp và tổ chức kinh tế trong và ngoài nước sau gần 3 năm gia nhập
WTO và môi trường kinh doanh mới đã tạo nên nhiều kênh thông tin kinh tế
khác nhau, và kéo theo đó nhu cầu sử dụng thông tin tài chính cũng ngày càng
đa dạng và trở nên quan trọng hơn, đòi hỏi thông tin phải được cung cấp kịp
thời,độ chính xác ngày càng tăng. Trong xu thế phát triển tất yếu đó, dịch vụ
kiểm toán là có uy tín nhất trong việc thẩm định thông tin tài chính của các
doanh nghiệp. Những người quan tâm đến tình hình tài chính của doanh
nghiệp coi báo cáo kiểm toán là ý kiến cuối cùng trong việc thẩm định, xác
minh tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính. Dịch vụ kiểm toán đã phát
triển từ rất lâu trên thế giới, song tại Việt Nam mới bắt đầu hình thành từ năm
1991. Ra đời muộn nhưng sau gần 20 năm phát triển kiểm toán Việt Nam đã
tạo một vai trò đặc biệt quan trọng của mình trong việc tăng cường, nâng cao
hiệu quả quản lí, lành mạnh hóa nền tài chính Việt Nam. Với chức năng xác
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động của đơn vị được kiểm toán,
kiểm toán tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, các nhà quản trị doanh nghiệp,

chúng thì cũng không thể biết chắc chắn hậu quả sẽ ra sao. Chẳng hạn, khi
bạn đầu tư một khoản tiền để mua chứng khoán, nhưng không chắc chắn là sẽ
thu được một khoản lãi hay bị lỗ trong tương lai. Chúng ta chỉ có thể dự báo
một số khả năng có thể xảy ra dựa trên những phân tích nào đó, nhưng những
khả năng đó không thể nào đoán đúng 100% được. Những vấn đề trên thường
gắn với khái niệm - được gọi là rủi ro.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về rủi ro. Các học giả người Pháp
đơn thuần coi rủi ro chỉ liên quan đến các thiệt hại. Quan điểm của Mỹ thì cho
rằng rủi ro liên quan đến thiệt hại và may mắn. Và có những quan điểm cho
rằng rủi ro là khả năng xảy ra một số sự cố không may, hay là sự kết hợp các
nguy cơ, là sự không chắc chắn về tổn thất, là khả năng xảy ra tổn thất.Tuy
các quan điểm có thể xuất phát từ những khía cạnh khác nhau nhưng đều đưa
ra kết luận rằng: Rủi ro là khái niệm chỉ khả năng không chắc chắn về một sự
kiện nào đó sẽ xảy ra . Rủi ro được nhắc đến để ám chỉ một điều không chắc
chắn, một hậu quả với những tình huống không lường trước được có thể xảy
ra, nếu xảy ra có thể không như chúng ta mong đợi. Rủi ro ứng với sai lệch
giữa dự kiến với thực tế.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Có một câu hỏi được đặt ra lúc này là: Tại sao chúng ta phải tìm hiểu
về ‘rủi ro’? Rủi ro đem lại những ích lợi hay bất lợi gì cho cuộc sống của
chúng ta?
Tất nhiên, khi đứng trước những sự lựa chọn, quyết định hay một sự
kiện, công việc nào đó, bạn luôn tư duy phân tích dù ít hay nhiều về vấn đề
bạn đang quan tâm. Với nhiều công việc để đạt được kết quả mong muốn cần
thiết phải lập kế hoạch cho nó, trong đó, bước đánh giá rủi ro là một yếu tố
quan trọng. Đánh giá rủi ro là quá trình tìm hiểu những rủi ro có thể và sẽ liên
quan tới công việc và chỉ ra cụ thể những rủi ro có thể gặp. Xây dựng những
biện pháp kiểm soát để thực thi công việc một cách hiệu quả nhất, an toàn

Rủi ro với kết quả để lại
Nhiều định nghĩa có xu hướng đánh giá rủi ro chỉ tập trung vào những
tình huống bất lợi, trong khi có những định nghĩa khác thì mở rộng hơn và
xem xét tất cả sự thay đổi đều liên quan đến rủi ro. Ví dụ định nghĩa về rủi ro
trong xây dựng là sự kết hợp của khả năng
xảy ra một tai nạn và hậu quả gây thiệt hại về con người hay tiền của.
Ngược lại, rủi ro trong tài chính được định nghĩa là sự thay đổi kết quả
thực tế của việc đầu tư xung quanh lợi ích mong đợi, thậm chí khi những thay
đổi này theo chiều hướng tốt. Như vậy khi đánh giá rủi ro, có thể đánh giá cả
mặt tích cực và tiêu cực để đưa ra cái nhìn tổng quan về rủi ro tiêu cực không
mong muốn gặp phải.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
5
Rủi ro = khả năng xảy ra một tai nạn x thiệt hại
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Rủi ro với cơ hội
Hai khái niệm này thường có ảnh hưởng trái chiều lên nhau. Cơ hội cao
thì rủi ro thấp và ngược lại. Ví dụ, khi chọn ngành kiểm toán để theo học ở
trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Hà Nội, cơ hội sau này về cơ hội việc làm
và thu nhập là khá cao. Tuy nhiên điểm thi đầu vào của ngành này cũng cao.
Do đó rủi ro có thể thi trượt được đánh giá là cao.
Như vậy, với những nét khái quát chung nhất về “ rủi ro” trên đây sẽ
làm cơ sở cho vấn đề cần nghiên cứu trong phạm vi đề tài này. Đó là rủi ro
kiểm toán và các mô hình đánh giá rủi ro kiểm toán.
1.2 Rủi ro kiểm toán
Trong kiểm toán nói chung và kiểm toán tài chính nói riêng rủi ro kiểm
toán là khái niệm quen thuộc gắn liền với trách nhiệm của kiểm toán viên.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế (IAG25) về “Trọng yếu và rủi ro kiểm
toán” thì rủi ro kiểm toán được định nghĩa: “Rủi ro kiểm toán là những rủi ro
mà kiểm toán viên có thể mắc phải khi đưa ra những nhận xét không xác đáng

có những mô hình còn đang được xây dựng và hoàn thiện để đưa vào ứng
dụng trong thực tế. Nhận thấy rõ nhu cầu kiểm toán độc lập, kiểm toán hệ
thống kiểm soát nội bộ và loại hình kiểm toán liên kết đang rất lớn không chỉ
trên thế giới mà ngay tại Việt Nam, chúng tôi đi sâu phân tích 4 mô hình rủi
ro kiểm toán sau:
Mô hình rủi ro kiểm toán trong kiểm toán tài chính ( xem mục 2.1) – mô
hình 2.1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mô hình rủi ro kiểm toán trong kiểm toán kiểm soát nội bộ ( xem mục
2.2 ) – mô hình 2.2
Mô hình rủi ro kiểm toán trong kiểm toán liên kết ( xem mục 2.3 ) – mô
hình 2.3
Mô hình rủi ro kiểm toán ứng dụng mô hình phân tích SWOT ( xem mục
2.4 ) – mô hình 2.4
Tại sao kiểm toán kiểm soát nội bộ ngày càng đóng vai trò quan trọng ?
Nếu như kiểm toán độc lập đã có mặt ở Việt Nam được hơn 10 năm thì
cho đến nay, khái niệm kiểm toán kiểm soát nội bộ vẫn còn xa lạ với nhiều
nhà quản lý. Tuy nhiên, yêu cầu hội nhập WTO, sự phát triển nhanh chóng
của thị trường chứng khoán và những vụ bê bối về quản trị ở một số doanh
nghiệp lớn của Nhà nước gần đây cho thấy sự cần thiết của kiểm toán soát
nội bộ ở doanh nghiệp. Trên thế giới, kiểm toán kiểm soát nội bộ đã ra đời từ
lâu nhưng chỉ phát triển từ sau các vụ gian lận tài chính ở Công ty Worldcom
và Eron (Mỹ) những năm 2000-2001 và đặc biệt là khi Luật Sarbanes-Oxley
của Mỹ ra đời năm 2002. Luật này quy định các công ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán Mỹ phải báo cáo về hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội
bộ của công ty.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
8

giảm xuống , khi đó KTV phải tiến hành điều chỉnh rủi ro kiểm toán mong
muốn giảm xuống.
Mô hình (2.1.1) ít được sử dụng vì rủi ro kiểm toán thường được KTV
xác định trước và khó thay đổi trong một cuộc kiểm toán. Do vậy, KTV mong
muốn xác định rủi ro phát hiện để lập kế hoạch kiểm toán hơn là điều chỉnh
rủi ro phát hiện theo rủi ro kiểm toán. Mặt khác , rủi ro tiềm tàng và rủi ro
kiểm soát luôn có tính chất cố hữu , KTV chỉ có thể đánh giá chứ không thể
tác động điều chỉnh, trong khi đó KTV có thể điều chỉnh rủi ro phát hiện như
mong muốn. Do đó để phục vụ tốt hơn cho việc lập kế hoạch kiểm toán và xét
trong mối quan hệ với bằng chứng kiểm toán , mô hình rủi ro thường được
các KTV sử dụng có dạng sau:
Mô hình (2.1.2) DR
Với mô hình (2.1.2), rủi ro phát hiện (DR) là mối quan tâm trước tiên
của KTV. Thông qua việc tính toán DR, kiểm toán viên sẽ xác định thủ tục
kiểm toán và số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập để rủi ro phát hiện
không vượt quá mức mong muốn.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Xét ví dụ ở mô hình (2.1.1) với giả thiết rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm
soát như trên, KTV có thể chấp nhận mức rủi ro mong muốn (AR) ở mức 0,04
khi đó rủi ro phát hiện (DR) được tính theo mô hình (2.1.2) như sau:
DR 0,063
DR = 0,063 có nghĩa là để đạt mức rủi ro kiểm toán mong muốn là 0,04
thì KTV phải xây dựng thủ tục kiểm toán thích hợp và thu thập số lượng bằng
chứng kiểm toán hợp lí để mức rủi ro phát hiện không vượt quá 0,063.
Với mô hình (2.1.2) rủi ro kiểm toán thường được xác định trước cuộc
kiểm toán theo tiêu chuẩn của từng công ty và được gọi là rủi ro kiểm toán
mong muốn ( DAR – Designed Audit Risk ), vì vậy mô hình (2.1.2) thường
được viết dưới dạng :

AR IR CR DR Số lượng bằng
chứng cần thu
thập
Cao Thấp Thấp Cao Thấp
Website: Email : Tel : 0918.775.368
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thấp Thấp Thấp Trung bình Trung bình
Thấp Cao Cao Thấp Cao
Trung bình Trung bình Trung bình Trung bình Trung bình
Cao Thấp Trung bình Trung bình Trung bình
Hai mô hình trên đều biểu thị mối quan hệ giữa các loại rủi ro kiểm
toán. Theo phương diện toán học thì mô hình 2.1.2 được rút ra từ mô hình
2.1.1, do đó để tiện cho việc theo dõi, chúng tôi sẽ gọi chung hai mô hình này
là mô hình 2.1. Mô hình 2.1 tuy đơn giản nhưng có vai trò rất quan trọng đối
với KTV trong mọi cuộc kiểm toán. Khi áp dụng các mô hình trên KTV cần
lưu ý:
Thứ nhất, KTV không được giả sử mức rủi ro tiềm tàng bằng không (IR
= 0 ) , để không cần đến các bước thu thập bằng chứng kiểm toán.
AR = IR ( = 0 )
Thứ hai, KTV không nên đặt sự tin tưởng tuyệt đối vào hệ thống kiểm
soát nội bộ của doanh nghiệp ( tức là đánh giá CR = 0) để không cần đến các
bước thu thập bằng chứng kiểm toán.
AR = IR
Thứ ba, KTV không thể để rủi ro tồn tại các sai phạm trọng yếu đối với
đối tượng kiểm toán ở mức cao.
Trong một cuộc kiểm toán rủi ro không bao giờ được loại trừ một cách
tuyệt đối , khái niệm rủi ro mong muốn thể hiện mức độ kỳ vọng của kiểm
toán viên đối với một mức rủi ro có thể chấp nhận được. Rủi ro kiểm toán
Website: Email : Tel : 0918.775.368

mức chi phí kiểm toán ở mức chấp nhận được , KTV cần xem xét các yếu tố
sau:
Quy mô của công ty khách hàng : Sử dụng một số chỉ tiêu như tổng sản
lượng , tổng thu nhập , hay tổng tài sản để đo lường quy mô hoạt động của
khách hàng. Quy mô của khách hàng càng lớn, hoạt động kinh doanh càng
rộng rãi thì lượng người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính của công ty
để làm cơ sở ra các quyết định đầu từ càng nhiều, và nếu có xảy ra sai phạm
trong việc trình bày báo cáo tài chính của công ty ở một quy mô tương đối
nhỏ cũng có thể gây ảnh hưởng tới một quy mô tuyệt đối lớn. Do vậy , rủi ro
kiểm toán mong muốn phải càng giảm khi quy mô của khách hàng càng tăng.
Sự phân phối quyền sở hữu : khi quyền sở hữu công ty thuộc về nhiều
người thì các gian lận sai phạm khó xảy ra. Những người sử dụng thông tin
bên ngoài tin tưởng vào báo cáo tài chinh của công ty sở hữu tập thể hơn là
công ty sở hữu cá nhân. Vì vậy, trong quá trình kiểm toán, KTV có thể đặt
một mức độ rủi ro kiểm toán mong muốn đối với công ty sở hữu tập thể cao
hơn so với các công ty sở hữu cá nhân.
Bản chất và quy mô công nợ : bản chất và quy mô công nợ có liên quan
đến tính hoạt động liên tục của công ty khách hàng. Khi báo cáo tài chính
chứa một số lượng lớn các khoản công nợ thì chúng có khả năng được sử
dụng rộng rãi hơn bởi những chủ nợ thực tế. Về bản chất, các khoản nợ nhà
cung cấp thường ít nghiêm trọng hơn các khoản nợ vay. Do đó khi kiểm toán
khách hàng có quy mô các khoản nợ vay quá lớn , KTV phải đặt mức rủi ro
kiểm toán mong muốn ở mức thấp hơn khi kiểm toán khách hàng có quy mô
các khoản nợ nhà cung cấp là nhỏ.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
15
Mức rủi ro
kiểm toán
Rủi ro đạt tới
Website: Email : Tel : 0918.775.368

xảy ra thường chỉ làm giảm tốc độ tăng lợi nhuận chứ không làm thay đổi
hoàn toàn kết quả kinh doanh, KTV cần kết hợp với tình hình kinh tế nói
chung và của ngành nói riêng tại năm hiện hành để đánh giá tình trạng của
doanh nghiệp cho hợp lí.
Các phương pháp làm gia tăng quá trình tài trợ : gia tăng nợ là một trong
những cách thức làm gia tăng quy mô vốn của các công ty. Nếu công ty sử
dụng cơ cấu nợ quá cao thì khả năng thanh toán sẽ gặp khó khăn, đe dọa khả
năng hoạt động liên tục của công ty trong tương lai. Đặc biệt, nếu công ty gia
tăng quá nhanh các khoản nợ ngắn hạn thì KTV phải dự đoán tình trạng của
công ty sau khi phát hành báo cáo kiểm toán để giảm rủi ro kiểm toán mong
muốn xuống mức thích hợp.
Bản chất hoạt động kinh doanh của khách hàng : do tính chất và đặc thù
riêng nhiều lĩnh vực kinh doanh tồn tại những rủi ro tiềm ẩn. KTV cần xem
xét đánh giá mức độ rủi ro kinh doanh của công ty khách hàng để đặt mức rủi
ro kiểm toán mong muốn thích hợp, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
rủi ro kinh doanh cao hơn có mức rủi ro kiểm toán mong muốn thấp hơn.
Năng lực và đạo đức kinh doanh của ban giám đốc : ban giám đốc có
đạo đức kinh doanh và khả năng đối phó với các rủi ro kinh doanh tiềm tàng
thì tình trạng khó khăn của doanh nghiệp sẽ giảm xuống. Ngược lại, nếu ban
Website: Email : Tel : 0918.775.368
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
giám đốc phẩm chất đạo đực không tốt và năng lực điều hành yếu kém thì
KTV phải dự đoán trước tình trạng khó khăn của doanh nghiệp. Nếu có sự
thay đổi ban giám đốc, KTV phải xem xét nguyên nhân của sự thay đổi đó và
đánh giá khả năng thích ứng của ban giám đốc mới với công việc.
Như vậy, bên cạnh kinh nghiệm và óc xét đoán nghề nghiệp, KTV phải
xem xét mức độ mà theo đó người sử dụng thông tin bên ngoài tin vào báo
cáo tài chính và khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn sau khi báo cáo kiểm
toán phát hành để có thể dự kiến mức rủi ro kiểm toán hợp lí.

Rủi ro phát hiện
( DR)
Rủi ro kiểm
toán(AR)
Có sai
lầm cụ
thể nào
hay
Phát hiện bằng
kiểm toán của
chúng ta
không?
Ý kiến sai
Không
Không
Phát hiện bằng các
thủ tục kiểm soát
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.1.3 Vai trò của đánh giá rủi ro trong kiểm toán tài chính
VSA số 300 “Lập kế hoạch kiểm toán” cho thấy vai trò của việc đánh
giá rủi ro kiểm toán trong quá trình lập kế hoạch: “Kế hoạch kiểm toán phải
được lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết các khía cạnh trọng
yếu của cuộc kiểm toán; phát hiện gian lận, rủi ro và những vấn đề tiềm ẩn; và
đảm bảo cuộc kiểm toán được hoàn thành đúng thời hạn” và “khi xây dựng
chương trình kiểm toán, KTV phải xem xét các đánh giá về rủi ro tiềm tàng,
rủi ro kiểm soát, cũng như mức độ đảm bảo phải đạt được thông qua thử
nghiệm cơ bản”.
VSA 530 “Lấy mẫu kiểm toán và các thủ tục lựa chọn khác” quy định
về cỡ mẫu như sau: “Kiểm toán phải đảm bảo rủi ro kiểm toán do áp dụng
phương pháp lấy mẫu giảm xuống mức có thể chấp nhận được khi xác định

Hiện nay, mô hình rủi ro kiểm toán 2.1 đang được sử dụng rộng rãi trong
kiểm toán tài chính ( mô hình 2.1.2 được nhiều công ty kiểm toán áp dụng ).
Mô hình này được sử dụng trong quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán được
thực hiện trong bước lập kế hoạch kiểm toán. Để hiểu rõ hơn về ứng dụng của
mô hình 2.1 vào thực tế, chúng tôi đưa ra một quá trình đánh giá rủi ro kiểm
toán của một công ty kiểm toán độc lập – Deloitte Việt Nam. Quy trình này
gồm ba bước cơ bản:
Đánh đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán ( xem 2.1.4.1)
Đánh giá rủi ro kiểm toán trên bảng khai tài chính. ( xem 2.1.4.2 )
Đánh giá rủi ro kiểm toán trên số dư các khoản mục và nghiệp vụ. ( xem
2.1.4.3)
Website: Email : Tel : 0918.775.368
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.1.4.1 ĐÁNH GIÁ RỦI RO CHẤP NHẬN HỢP ĐỒNG KIỂM TOÁN
Đây là công việc tiền kiểm toán với mục đích xác định có thể tiếp tục
kiểm toán cho một khách hàng cũ hoặc thực hiện một hợp đồng kiểm toán với
khách hàng mới, trên cơ sở đó sẽ tiến hành xây dựng kế hoạch kiểm toán phù
hợp. Các tài liệu và thông tin thu thập được trong giai đoạn này sẽ được lưu
lại. Trước khi kí kết hợp đồng kiểm toán, KTV phải thu thập những thông tin
chung nhất về khách hàng kiểm toán để có thể đưa ra những nhận định ban
đầu về rủi ro của hợp đồng và đưa đến kết luận có thực hiện kiểm toán cho
khách hàng đó hay không. Những thông tin này thường tập trung vào: đặc
điểm, ngành nghề, lĩnh vực hoạt động kinh doanh của khách hàng, hình thức
sở hữu, quy mô của khách hàng, các đối thủ cạnh tranh, cơ cấu tổ chức bộ
máy quản lý,…và thường được lưu trong Hồ sơ kiểm toán chung.
Bất kỳ một cuộc kiểm toán nào cũng có thể xảy ra rủi ro. Deloitte Việt
Nam quy định có thể đánh giá rủi ro của cuộc kiểm toán ở một trong các mức
sau:
- Nếu rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán là bình thường thì Giám đốc

Theo quyết định số 1007/QĐ-BXD ngày 18/02/2005 của Bộ trưởng Bộ xây
dựng về việc thực hiện cổ phần hoá các công ty thành viên hạch toán độc lập
thuộc Tổng Công ty xi măng Việt Nam, công ty Y đã được tiến hành cổ phần
hoá. Ngày 01/05/2006, Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội đã cấp giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh số 0603000105, công ty Y chính thức trở thành
Website: Email : Tel : 0918.775.368
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
công ty cổ phần và hoạt động theo mô hình công ty cổ phần. Vốn điều lệ của
công ty là 900 tỷ VND. Trụ sở chính: Thanh Sơn, Kim Bảng, Hà Nam.
Ngành nghể kinh doanh: sản xuất và kinh doanh xi măng và các sản
phẩm từ xi măng; sản xuất và kinh doanh các loại vật liệu xây dựng khác;
kinh doanh các ngành nghể phù hợp với quy định của pháp luật.
Hội đồng quản trị gồm có 5 thành viên và ban giám đốc gồm 6 thành
viên do ông Bùi Văn Tròn làm giám đốc.
Công ty Y là khách hàng kiểm toán lâu năm của Deloitte Việt Nam,
nhóm kiểm toán thực hiện kiểm toán cho công ty Y không thay đổi. Thực tế
cho thấy trong các năm kiểm toán trước đây, khi kiểm toán cho công ty Y,
kiểm toán viên không thấy tồn tại các sai phạm nghiêm trọng. Nhưng trong
năm 2007, công ty Y tiến hành bán đấu giá cổ phần ra thị trường, do đó có
khả năng sẽ xảy ra nhiều sai phạm. Mặt khác, có rất nhiều cổ đông và các nhà
đầu tư quan tâm đến thông tin chính xác của kiểm toán viên. Từ thực tế trên,
kiêm toán viên đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán với công ty Y ở
mức cao hơn bình thường. Deloitte Việt Nam chấp nhận hợp đồng kiểm toán
với công ty Y cho năm kiểm toán 2007.
Sau khi có quyết định thực hiện hợp đồng kiểm toán và phân công
nhóm kiểm toán thì các kiểm toán viên phải cam kết về tính độc lập của mình
trong quá trình thực hiện kiểm toán. Bản cam kết này được coi là cơ sở chắc
chắn và ràng buộc về tính độc lập của kiểm toán viên. Mặt khác, do Doloitte
VN là một phần của Doloitte Touche Tohmatsu nên hàng năm DTT đều cử

khách hàng không?
x
7. Kiểm toán viên có quan hệ họ hàng thân thích với những người
trong bộ máy quản lý (Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các
trưởng phó phòng và những người tương đương) của khách hàng
không?
x
8. Kiểm toán viên có làm đại lý bán sản phẩm cho khách hàng x
Website: Email : Tel : 0918.775.368
25

Trích đoạn Mô hình rủi ro kiểm toán ứng dụng mô hình phân tích SWOT Nguồn gốc của mô hình phân tích SWOT Ứng dụng phân tích SWOT trong xác định rủi ro kiểm toán
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status