Tiểu luận
BASEL và tiến trình hội nhập vào
hệ thống NHTM Việt NamBASEL và tiến trình hội nhập vào hệ thống NHTM VN PGS.TS.Trần Huy Hoàng
Trang 1
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆP ƯỚC BASEL
I/ QUÁ TRÌNH RA ĐỜI CỦA HIỆP ƯỚC BASEL:
Vào những năm 1980, hệ thống NHTM trên thế giới phát triển mạnh và có những
dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng. Đồng thời, quy định về vốn
điều lệ của các NHTM ở các nước khác nhau, nên dẫn đến cạnh tranh không công bằng
trong cùng một thị trường, đây là điều cấm kỵ trong cô chế hội nhập. Vì vậy lãnh đạo các
nước phát triển đã ngồi lại với nhau để tìm giải pháp thích hợp vừa khuyến khích cạnh
tranh nhưng đảm bảo công bằng và an toàn cho người gửi tiền, đó là một trong những lí
do quan trọng cho sự ra đời Hiệp ước Basel. Basel la yêu cầu về an toàn vốn do các ngân
hàng thuộc các nước nhóm G10 khởi xướng và được Ủy ban Quản lí ngân hàng thuộc
ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) ban hành lần đầu tiên vào năm 1988, xuất phát từ
những cuộc khủng hoảng về tiền tệ quốc tế và thị trường ngân hàng, mà đáng quan tâm
nhất là sự sụp đổ của ngân hàng Herstatt ở Tây Đức vào thời điểm đó. Do tính thiết thực
của nó nên cộng đồng các tổ chức tài chính, ngân hàng của hơn 100 nước khác cùng
hưởng ứng. Để phù hợp với những thay đổi lớn của thị trường, Basel đã được cải tiến và
sửa đổi lần thứ hai (Basel II) vào năm 2001 và có hiệu lực vào năm 2006. Ủy ban Basel
bao gồm Thống đốc Ngân hàng Trung ương của nhóm G10 và một số nước có hệ thồng
trong công nghệ ngân hàng cũng như xu hướng đa dạng hóa các sản phẩm tài chính diễn
ra rầm rộ vào những thập kỷ cuối thế kỷ 20 thì yêu cầu xây dựng một nền tảng so sánh
hiệu quả hoạt động ngân hàng và đảm bảo hạn chế rủi ro trong hệ thống thanh toán liên
ngân hàng toàn cầu là động lực dẫn đến sự ra đời của Hiệp ước Basel I và sau đó hơn 10
năm là Basel II (1999).
Nội dung:
Basel I nhấn mạnh tầm quan trọng của tỷ lệ vốn an toàn trong hoạt động ngân
hàng. Khái niệm vốn trong Basel I đã chia các nhân tố của vốn thành 2 cấp:
Vốn cấp 1 bao gồm vốn cổ phần thường và các khoản dự trữ công khai.
Vốn cấp 2 bao gồm các khoản dự trữ không công khai, giá trị tăng thêm của
việc đánh giá lại tài sản, dự phòng chung và dự phòng tổn thất tín d
ụng, các công cụ nợ
cho phép chuyển đổi thành cổ phiếu và các khoản nợ thứ cấp.
Tổng vốn cấp 1 và cấp 2 chính là vốn tự có hay vốn cơ bản của tổ chức tín dụng.
Dựa trên cách tính vốn tự có này mà Basel 1 đã đưa ra chỉ tiêu tỷ lệ an toàn vốn
tối thiểu (CAR).
CAR = [(Vốn tự có hay vốn cơ bản) / (Tài sản đã điều chỉnh rủi ro)] * 100%
Tài sản đã điều chỉnh rủi ro (RWA) = Tổng (Tài có nội bảng x Hệ số rủi ro) +
Tổng (Tài sản ngoại bảng x Hệ số chuyển đổi x Hệ số rủi ro)
BASEL và tiến trình hội nhập vào hệ thống NHTM VN PGS.TS.Trần Huy Hoàng
Trang 3
Từ ngày 1.10.2010 theo thông tư 13/TT-NHNN ngày 20.5.2010 của NHNN thì tỉ
lệ CAR này sẽ được điều chỉnh từ 8% lên 9%. Ngoài ra, hiệp ước Basel I còn xác định
các hệ số rủi ro trong các loại rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động.
Hạn chế:
¾ Thứ nhất, việc phân loại rủi ro chưa chi tiết cho các khoản cho vay. Hệ số rủi
ro chưa chi tiết cho rủi ro theo đối tác (ví dụ như khả năng tài chính của khách hàng)
hoặc theo đặc điểm của khoản tín dụng (ví dụ như theo thời hạn). Điều này chỉ ra rằng có
thể các ngân hàng có cùng tỷ lệ an toàn vốn nhưng có thể đối mặt với các loại rủi ro khác
trường và rủi ro tác nghiệp (Cột trụ 1). Theo đó, cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín
dụng có sự sửa đổi lớn, thay đổi nhỏ với rủi ro thị trường nhưng hoàn toàn là phiên bản
mới đối với rủi ro tác nghiệp.
Nguyên tắc thứ hai: Các ngân hàng cần phải đánh giá một cách đúng đắn về
những loại rủi ro mà họ đang phải đối mặt và đảm bảo rằng những giám sát viên sẽ có thể
đánh giá được tính đầy đủ của những biện pháp đánh giá này (Cột trụ 2). Với cột trụ này,
Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát giám sát:
¾ Các ngân hàng cần phải có một quy trình đánh giá được mức độ đầy đủ vốn
của họ theo danh mục rủi ro và phải có được một chiến lược đúng đắn nhằm duy trì mức
vốn đó.
¾ Các giám sát viên nên rà soát và đánh giá lại quy trình đánh giá về mức vốn
nội bộ cũng như về các chiến lược của ngân hàng. Họ cũng phải có khả năng giám sát và
đảm bảo tuân thủ tỷ lệ vốn tối thiểu. Theo đó, giám sát viên nên thực hiện một số hành
động giám sát phù hợp nếu họ không hài lòng với kết quả của quy trình này.
¾ Giám sát viên khuyến nghị các ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối
thiểu theo quy định.
¾ Giám sát viên nên can thiệp ở giai đoạn đầu để đảm bảo mức vốn của ngân
hàng không giảm dưới mức tối thiểu theo quy định và có thể yêu cầu sửa đổi ngay lập tức
nếu mức vốn không được duy trì trên mức tối thiểu.
Nguyên tắc thứ ba: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích
đáng theo nguyên tắc thị trường (Cột trụ 3). Với cột trụ này, Basel II đưa ra một danh
sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ
cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của
ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro th
ị trường, rủi ro tác nghiệp và quy trình đánh giá
của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này.
Như vậy, với quá trình phát triển của Basel và những Hiệp ước mà tổ chức này
đưa ra, các ngân hàng thương mại càng ngày càng được yêu cầu hoạt động một cách
minh bạch hơn, đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro hơn và do vậy, hy vọng sẽ
giảm thiểu được rủi ro.
Trái phiếu đô thị 20% 8% 1.000 USD 200 USD 16 USD
Thế chấp nhà ở 50% 8% 1.000 USD 500 USD 40 USD
Vay không bảo đảm 100% 8% 1.000 USD 1.000 USD 80 USD
ƯU ĐIỂM CỦA BASEL II SO VỚI BASEL I:
- Về cấu trúc và nội dung: Basel I tập trung vào một giải pháp quản lý rủi ro duy
nhất là “yêu cầu vốn tối thiểu”. Trong khi, Basel II tập trung nhiều hơn vào các phương
pháp nội bộ của chính ngân hàng, đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát và kỷ luật trên
nguyên tắc thị trường.
BASEL và tiến trình hội nhập vào hệ thống NHTM VN PGS.TS.Trần Huy Hoàng
Trang 6
- Về tính linh động của ứng dụng: Basel I quy định chung một chọn lựa cho tất cả
các ngân hàng. Basel II linh hoạt hơn với một danh sách các phương pháp, các biện pháp
khuyến khích để các nhà quản lý quốc gia và các ngân hàng chọn lựa.
- Về tính nhạy cảm với rủi ro: Basel I đo đạc rủi ro quá sơ bộ. Basel II nhạy cảm
hơn với rủi ro thông qua độ nhạy cảm của yêu cầu vốn đối với mức độ rủi ro tăng lên và
sự công khai bắt buộc một cách chi tiết về độ nhạy cảm rủi ro và chính sách rủi ro.
- Về trọng số rủi ro: Basel I quy định từ 0 – 100 và ưu đãi hơn với các nước thuộc
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD- Organisation for Economic Co-operation
and Development). Basel II quy định từ 0 – 150 hoặc hơn và không có đặc quyền nào,
bao gồm cả phân cấp bên trong và bên ngoài.
- Về kỹ thuật giảm rủi ro tín dụng: Basel I chỉ hỗ trợ và đảm bảo. Basel II thừa
nhận về kỹ thuật giảm thiểu rủi ro tốt hơn, đưa ra nhiều kỹ thuật hơn như hỗ trợ, đảm bảo,
phái sinh tín dụng, lập mạng lưới vị thế (position netting).
HẠN CHẾ CỦA BASEL II:
- Việc áp dụng các phương pháp quản trị rủi ro tiên tiến chưa có các tiêu chuẩn có
thể được chấp nhận rộng rãi.
- Các phương pháp giám sát, đánh giá rủi ro chưa tính đến các hoạt động của chu
lỳ kinh doanh.
- Các cơ quan quản lý chưa theo kịp tốc độ phát triển mạnh mẽ những sản phẩm
dịch vụ có khoa học công nghệ cũng như mức độ rủi ro cao.
lấy ý kiến
TÓM TẮT CÁC THAY ĐỔI ĐƯỢC ĐỀ XUẤT:
1) Thứ nhất, chất lượng, tính nhất quán, và tính minh bạch của nguồn vốn
cơ sở sẽ được nâng lên:
¾ Vốn cấp 1: Chủ yếu của vốn cấp 1 là phải bao gồm vốn cổ phần thường và lợi
nhuận giữ lại
¾ Các công cụ vốn cấp 2 sẽ được cân đối hài hòa
¾ Vốn cấp 3 sẽ được loại bỏ
2) Thứ hai, mức vốn để bảo đảm các rủi ro phát sinh sẽ được tăng cường:
¾ Tăng cường các yêu cầu về vốn cho các khoản tín dụng với khách hàng phát
sinh, các nghiệp vụ bảo đảm cho các khoản vay, chứng khoán phái sinh và các giao dịch
tài chính
¾ Nâng cao vốn dự phòng cho các rủi ro
¾ Giảm các chu kỳ và
¾ Cung cấp các ưu đãi bổ sung để di chuyển các hợp đồng phái sinh trên thị
trường tự do đến các giao dịch ngoại hối tại Ngân hàng (trung tâm thanh toán bù trừ)
¾ Cung cấp ưu đãi để tăng cường quản lý rủi ro tín dụng đối ứng
BASEL và tiến trình hội nhập vào hệ thống NHTM VN PGS.TS.Trần Huy Hoàng
Trang 8
3) Thứ ba, Ủy ban sẽ đưa ra một tỷ lệ đòn bẩy là một biện pháp bổ sung cho
khung rủi ro được thiết lập ở Basel II. Do đó, Ủy ban đang trình bày một yêu cầu tỷ lệ
đòn bẩy nhằm đạt được các mục tiêu sau:
¾ Xây dựng thêm lớp thứ hai cho đòn bẩy trong lĩnh vực Ngân hàng
¾ Đề xuất biện pháp bảo vệ bổ sung chống lại rủi ro mô hình và sai số đo bằng
cách bổ sung biện pháp chống rủi ro, một biện pháp đơn giản là dựa trên rủi ro tổng thể.
4) Thứ tư, Ủy ban đang đề xuất một loạt các biện pháp thúc đẩy xây dựng
các vùng đệm vốn trong thời điểm tốt và có thể được rút ra khi trong thời kỳ căng
thẳng ("Giảm chu kỳ và thúc đẩy các bộ đệm phản chu kỳ")
¾ Ủy ban cũng đề xuất hàng loạt các giải pháp để giải quyết tình trạng chu kỳ:
được thành lập có hệ thống
Vào tháng 9/2010, Basel III định mức yêu cầu tỷ lệ là: 7-9,5% (4,5% 2,5% (bảo
tồn vùng đệm) + 0-2,5% (theo thời kỳ đệm)) cho cổ phần phổ thông và 8,5-11% cho Vốn
cấp 1 và 10,5-13 cho tổng số vốn
BASEL và tiến trình hội nhập vào hệ thống NHTM VN PGS.TS.Trần Huy Hoàng
Trang 10
PHẦN 2: TIẾN TRÌNH ÁP DỤNG TIÊU CHUẨN BASEL
VÀO HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
I) Giai đoạn trước khi áp dụng Basel (những năm 1990):
Năm 1990, những quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động của các ngân
hàng đầu tiên được thể hiện trong các pháp lệnh về ngân hàng. Một số quy định cơ bản đã
có nhưng còn khá thô sơ như “Tổ chức tín dụng không được huy động vốn quá 20 lần
tổng số vốn tự có và quỹ dự trữ” thay vì sử dụng hệ số an toàn vốn theo quy định của
Basel I được ban hành năm 1988.
II) Giai đoạn áp dụng Basel vào hệ thống NHTM Việt Nam:
Những chuẩn mực quốc tế về đảm bảo lần đầu tiên được nghiên cứu và áp dụng
khá chi tiết vào Việt Nam kể từ khi Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Các tổ chức tín
457/2005/QĐ-NHNN quy định các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của Tổ chức tín
dụng đã phản ánh được các rủi ro liên quan đến hạch toán nội bảng và ngoại bảng và phù
hợp với Hiệp ước Basel về vốn mới (Basel Capital Accord I). Các nội dung quy định về
việc tính toán mức vốn tự có và tỷ lệ vốn tự có tối thiểu so với tổng tài sản “Có” rủi ro tại
Quyết định này đã tiến khá sát so với yêu cầu tính toán vốn tự có theo chuẩn mực Basel,
điều này đảm bảo hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mạiđược an toàn hơn.
Tuy nhiên, giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế vẫn còn tồn
tại một số khoảng cách, vì thế cách tính tỷ lệ an toàn vốn theo chuẩn mực kế toán Việt
Nam chưa phản ánh hợp lý rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng Việt Nam. Hầu hết
các Ngân hàng thương mạicổ phần đều đã đạt được hệ số an toàn vốn (CAR) trên 8%,
song nếu so sánh với cách tính hệ số an toàn của Basel như đã nêu ở trên, tức là mẫu số
phải cộng thêm cả vốn dành cho rủi ro thị trường thì rất ít Ngân hàng thương mạiViệt
Nam đạt được tỷ lệ an toàn vốn ở mức trên 8%. Thêm vào đó, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
là 8% được áp dụng thống nhất cho tất cả các ngân hàng mà không tính đến sự khác biệt
trong phạm vi, quy mô cũng như rủi ro của các ngân hàng. Đối với Quyết định số
493/2005/QĐ-NHNN, dư nợ tín dụng tại các Ngân hàng thương mạiphải được phân loại,
trích dự phòng rủi ro và có biện pháp đặc biệt đối với các khoản nợ xấu. Các khoản nợ
được phân loại dựa trên hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của mỗi ngân hàng và chủ yếu
dựa vào khả năng thu nợ của mỗi khoản vay. Đây đồng thời cũng là cách phân loại nợ mà
Hiệp ước Basel đã đưa ra. Phương pháp trích lập nêu tại Quyết định 493 đã tiến khá sát
với thông lệ quốc tế, cụ thể: (i) Có trích lập dự phòng chung và dự phòng riêng; (ii) Có
tính giá trị Tài sản bảo đảm và loại trừ khi tính toán số tiền phải trích lập; (iii) Cho phép
các Ngân hàng th
ương mạiđược trích lập dần trong 3 năm, phù hợp với tình hình tài
chính và kết quả kinh doanh tại các Ngân hàng thương mại. Nhìn chung, quy định của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về giới hạn tín dụng với một nhóm khách hàng có liên
quan tương đối phù hợp với yêu cầu của Basel. Tuy nhiên, Quyết định 457/2005/QĐ-
NHNN quy định giới hạn tín dụng của Tổ chức tín dụng với một nhóm khách hàng có
liên quan là 60%, trong khi tỷ lệ này theo Basel chỉ là 25%. Ngoài ra, theo quy định trên
thì việc trích lậ
cũng chưa có nguồn dự phòng thích đáng và phù hợp đối với loại hình rủi ro này. Mặ
c dù
vậy, trong thực tế, các Ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn luôn phải đối mặt với loại
rủi ro này với mức độ nguy hiểm ngày càng lớn
Một quy định cũng đáng lưu ý là năm 2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành danh
mục về vốn pháp định của các tổ chức tín dụng mà hiểu một cách đơn giản, đối với một
ngân hàng, đến hết năm 2010 phải có vốn đ
iều lệ tối thiểu là 3.000 tỷ đồng. Điều này cho
thấy cơ quan giám sát và các ngân hàng trong hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam
đã bắt đầu ý thức thêm về tầm quan trọng của việc điều chỉnh hoạt động theo Hiệp ước
quốc tế Basel.
BASEL và tiến trình hội nhập vào hệ thống NHTM VN PGS.TS.Trần Huy Hoàng
Trang 13
2.2. Năm 2007:
Bối cảnh đã thay đổi kể từ năm 2007, khi hệ thống ngân hàng Việt Nam gặp phải
hai vấn đề lớn gồm: (1) rủi ro về mặt thanh khoản và (2) rủi ro từ các hoạt động liên quan
đến chứng khoán và bất động sản.
Rủi ro thanh khoản của hệ thống ngân hàng gia tăng do cung tiền được mở rộng
với tốc độ cao cộng với sự nở rộng quá nhanh của một số ngân hàng, nhất là các ngân
hàng nhỏ mà phần đông là mới thành lập hay được nân cấp lên từ các ngân hàng nông
thôn. Điều này đã tạo ra sự mất cân đối trong việc huy động vốn và cho vay của các ngân
hàng.
Những ngân hàng lớn có lợi thế về mặt huy động vốn do mạng lưới và quan hệ có
sẵn, khi cung tiền được mở rộng họ đã huy động được rất nhiều tiền, nhưng khả năng cho
vay chỉ ở một mức nào đó nên các ngân hàng này đã dư ra một lượng vốn khá lớn. Ngược
lại các ngân hàng mới nâng cấp hay mới thành lập cần phải mở rộng hoạt động nên cần
vốn. Cung - cầu gặp nhau và hoạt động vay mượn trên thị trường liên ngân hàng là khá
dễ dàng với lãi suất rất phải chăng.
Kết quả là một số ngân hàng đã đi vay các tổ chức tín dụng khác (vay liên ngân
Tháng 5/2010. Ngân hàng Nhà nước (NGÂN HÀNG NHÀ NƯớC) đã chính thức
ban hành Thông tư 13/2010/TT-NGÂN HÀNG NHÀ NƯớC có hiệu lực từ 01/10/2010
về Quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng.
Thông tư 13 đề cập đến các tỷ lệ bảo đảm an toàn chính yếu như sau:
- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu;
- Giới hạn tín dụng;
- Tỷ lệ khả năng chi trả;
- Giới hạn góp vốn, mua cổ phần;
- Tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động;
(a) Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu:
“1. Tổ chức tín dụng, trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài, phải duy trì tỷ lệ an
toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi ro của tổ chức tín dụng
(tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ)”
2. Tổ chức tín dụng phải thực hiện Báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định của
pháp luật, ngoài việc duy trì tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ quy định tại Khoản 1 Điều này,
phải đồng thời duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% trên cơ sở hợp nh
ất vốn, tài sản của
tổ chức tín dụng và công ty trực thuộc (tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất)”
¾ Tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ được xác định như sau
:
Tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ = Vốn tự có/Tổng tài sản “Có” rủi ro
Trong đó:
- Vốn tự có là tổng vốn cấp 1 và vốn cấp 2 trừ đi các khoản phải trừ.
9 Vốn từ có Cấp 1 bao gồm các khoản để tính vốn cấp 1 trừ đi các khoản phải trừ
9 Vốn từ có Cấp 2 bao gồm các khoản để tính vốn cấp 2
BASEL và tiến trình hội nhập vào hệ thống NHTM VN PGS.TS.Trần Huy Hoàng
Trang 15
9 Các khoản phải trừ khi tính vốn tự có
- Tổng tài sản “Có” rủi ro
( Điều 5, Mục 1, Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010)
BASEL và tiến trình hội nhập vào hệ thống NHTM VN PGS.TS.Trần Huy Hoàng
Trang 16
có liên quan phải được sửa đổi, bổ sung phù hợp với nội dung sửa đổi, bổ sung các quy
định nội bộ về quản lý chất lượng tín dụng, chính sách tín dụng đối với khách hàng khi hệ
thống xếp hạng tín dụng nội bộ được sửa đổi, bổ sung hàng năm.
( Điều 7, Mục 2, Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010)
(c) Giới hạn cho vay, bảo lãnh, chiết khấu giấy tờ có giá:
Dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng bao gồm dư nợ cho vay theo hợp đồng tín
dụng; số dư nợ tổ chức tín dụng ủy thác cho tổ chức tín dụng khác cho vay; số dư các
khoản tổ chức tín dụng đã trả thay do thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với khách hàng.
9 Tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không được
vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng.
9 Tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một khách
hàng không được vượt quá 25% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trong đó tổng dư nợ cho
vay đối với một khách hàng không được vượt quá tỷ lệ quy định (15% vốn tự có).
9 Tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với một nhóm khách hàng có
liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trong đó tổng dư nợ
cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá tỷ lệ quy định (15% vốn tự có).
9 Tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một nhóm
khách hàng có liên quan không được vượt quá 60% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trong
đó tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh đối với một khách hàng không được vượt quá tỷ
lệ quy định (25% vốn tự có).
( Điều 8, Mục 2, Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010)
(d) Giới hạn cho thuê tài chính
9 Tổng dư nợ cho thuê tài chính đối với một khách hàng không được vượt quá
30% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính.
9 Tổng dư nợ cho thuê tài chính đối với một nhóm khách hàng có liên quan
không được vượt quá 50% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính, trong đó mứ
c cho thuê
tài chính đối với một khách hàng không được vượt quá tỷ lệ quy định (30% vốn tự có).
ư, dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác đó.
( Điều 16, Mục 4, Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010)
(g) Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động:
Tổ chức tín dụng chỉ được sử dụng nguồn vốn huy động để cấp tín dụng với điều
kiện trước và sau khi cấp tín dụng đều đảm bảo tỷ lệ về khả năng chi trả
và các tỷ lệ bảo
đảm an toàn khác quy định tại Thông tư này và không được vượt quá tỷ lệ dưới đây:
9 Đối với ngân hàng: 80%
9 Đối với tổ chức tín dụng phi ngân hàng: 85%
BASEL và tiến trình hội nhập vào hệ thống NHTM VN PGS.TS.Trần Huy Hoàng
Trang 18
9 Tiền gửi của cá nhân dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có
kỳ hạn;
9 Tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức (trừ Kho bạc Nhà nước), bao gồm cả tiền
gửi có kỳ hạn của tổ chức tín dụng khác và chi nhánh ngân hàng nước
ngoài;
9 Tiền vay của tổ chức trong nước (trừ Kho bạc, tiền vay của tổ chức tín
dụng khác trong nước) và tiền vay của tổ chức tín dụng nước ngoài;
9 Vốn huy động từ tổ chức, cá nhân dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá
( Điều 18, Mục 5, Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010)
THÔNG TƯ 19 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 13 cho sát với
thực tiễn hơn:
- Các tỷ lệ đảm bảo an toàn quy định tại Thông tư này gồm: Tỷ lệ an toàn vốn
tối thiểu; giới hạn tín dụng; tỷ lệ khả năng chi trả; giới hạn góp vốn, mua cổ phần; tỷ lệ
cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động.
Nội dung cũ là tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động.
- Số dư tiền gửi không kỳ hạn, trị giá sổ sách của vàng gửi không kỳ hạn gửi tại
các tổ chức tín dụng khác, trừ Ngân hàng chính sách Xã hội; Số dư tiền gửi có kỳ hạn, trị
giá sổ sách của vàng gửi có kỳ hạn đến hạn thành toán gửi tại các tổ chức tín dụng khác,
trừ Ngân hàng chính sách Xã hội.
khác có kỳ hạn từ 3 tháng trở lên(trừ tiền vay của tổ chức tín dụng khác trong nước để bù
đắp thiếu hụt tạm thời đối với các tỷ lệ về khả năng chi trả theo quy định tại Khoản 1 điều
14) và tiền vay của tổ chức tín dụng nước ngoài.
Nội dung này không có trong thông tư 13 và được bổ sung thêm.
NHẬN XÉT:
¾ Thêm lý do để “áp” đúng CAR là 9%.
Ngay khi ban hành, tháng 5/2010, Thông tư 13 đã vấp phải sự phản ứng của các
Tổ chức tín dụng. Phản ứng này càng trở nên mạnh mẽ khi Hiệp hội Ngân hàng (VNBA)
có văn bản kiến nghị chính thức gửi lên Thống đốc Ngân hàng nhà nước. Song, công
bằng mà nói, việc ban hành một văn bản như Thông tư 13 là cần thiết khi kinh tế thế giới
vừa trải qua khủng hoảng tài chính và những y
ếu kém trong hoạt động của các Tổ chức
tín dụng trong nước ngày càng lộ rõ. Nhưng “chiếc áo“ tránh mưa, chống nóng này có vẻ
được thiết kế chưa phù hợp với vóc dáng, thói quen của các Tổ chức tín dụng. Tuy nhiên,
đại đa số các Ngân hàng thương mại đáp ứng được yêu cầu của Thông tư 13. Và việc
thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động của Tổ chức tín dụng bao giờ
cũng khó kh
ăn, nhưng phải kiên quyết. “Có thể phải điều chỉnh Thông tư 13, nhưng
không thể lùi thời gian thực hiện”.
BASEL và tiến trình hội nhập vào hệ thống NHTM VN PGS.TS.Trần Huy Hoàng
Trang 20
Điểm đáng chú ý đầu tiên trong Thông tư 13 là nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
(CAR) của các Tổ chức tín dụng từ 8% lên 9%. Một số Ngân hàng thương mại cho rằng
họ không có khả năng đáp ứng yêu cầu này trong vòng vài tháng (tính từ khi Thông tư 13
ban hành đến 1/10/2010). Tuy nhiên, Ngân hàng nhà nước lập luận, thông tin về việc
nâng CAR đã được đưa ra từ lâu, khi nhiều nước đã, đang chịu hậu quả nặng nề của cuộc
khủng hoảng tài chính, bắt nguồn từ ngành ngân hàng - bảo hiểm. Hơn nữa, Ủy ban Giám
sát Ngân hàng Basel - nhóm các cơ quan giám sát ngân toàn cầu, đã thông qua Thỏa
thuận yêu cầu các ngân hàng tăng gấp đôi tỷ lệ CAR (từ 7% lên 14%). Trong đó, vốn cấp
hai tăng mạnh nhất, từ 2% lên 7% tổng tài sản. Vốn cấp một cũng phải nâng từ 4% lên
tư 13 “chặt” nhánh này, các Ngân hàng thương mại chắc chắn sẽ không còn thiết tha gì
với công việc đếm, giữ tiền “hộ“ hai ngành Kho bạc và Hải quan.
¾ Hiệp hội ngân hàng cũng đề nghị Ngân hàng nhà nước nên tính nguồn
tiền vay của các tổ chức tín dụng trong nước vào nguồn vốn huy động, vì về bản chất
nguồn tiền này giống với nguồn tiền gửi của các Tổ chức tín dụng trong nước.
Thực tế, hoạt động thị trường liên ngân hàng từ đầu năm đến nay khá sôi động.
Thậm chí nguồn vốn từ thị trường này không chỉ để bù đắp thiếu hụt thanh khoản tạm
thời - như vai trò chính của nó, mà đôi khi được các Ngân hàng thương mại lớn sử dụng
như nơi “kiếm ăn“ trên lưng những ngân hàng nhỏ. Lãi suất và lượng giao dịch trên thị
trường này liên tục tăng là minh chứng cho thấy nguồn vốn này không chỉ để bù đắp
thiếu hụt thanh khoản tạm thời mà đã được ngân hàng nhỏ đưa vào tín dụng, thậm chí sử
dụng “quá tay” - là tiềm ẩn rủi ro lớn cho hệ thống ngân hàng. Như vậy, việc Ngân hàng
nhà nước sẽ phải có biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro là lẽ đương nhiên, nhưng không
thể “chặt” phứt nhánh nhỏ này, mà thêm điều kiện chặt chẽ hơn hiện nay để thị trường
liên ngân hàng vẫn giữ được vai trò điều tiết vốn giữa các Tổ chức tín dụng.