Website: Email : Tel (: 0918.775.368
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG - QTKD TM48C
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với quá trình toàn cầu hóa của xu thế thế giới, nền kinh tế Việt Nam ngày
càng phát triển vững mạnh. Hội nhập vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam cũng xây
dựng đầy đủ các thị trường của nền kinh tế thị trường, trước nhu cầu phát triển đó hệ
thống ngân hàng thương mại Việt Nam giữ một vai trò rất quan trọng trong lĩnh vực
tài chính, tiền tệ, đảm bảo sự vân hành có hiệu quả của nền kinh tế nhât là trong giai
đoạn nền kính tế toàn cầu đang suy thoái như hiện nay.
Trước tình hình khủng hoảng tài chính thế giới đang diễn ra ngày càng sâu
rộng, nền kinh tế Việt Nam ít nhiều cũng có ảnh hưởng và tình hình tài chính trong
nước đang được đặt trong tình trạng kiểm soát chặt chẽ. Trong nửa đầu năm là tình
trạng lạm phát tăng cao, giá cả các mặt hàng trên thị trường tăng mạnh, đến nửa cuối
năm thì nền kinh tế lại rơi vào tình trạng thiểu phát. Các biện pháp thắt chặt tiền tệ
vừa được áp dụng và bước đầu có hiệu quả thì ngay lập tức đã phải chuyển sang các
biện pháp nới lỏng tiền tệ. Gần như tất cả các thành phần kinh tế đều chịu ảnh hưởng
từ suy thoái.Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng và nền tài chính là chịu ảnh hưởng rõ nét
nhất.
Do rất yêu thích kinh doanh và luôn luôn muốn biết, tìm hiểu những biến đổi,
sự thay đổi của nền kinh tế thế giới cũng như nước nhà, nhất là lĩnh vực ngân hàng.
Vì vậy em đã chọn đề tài: “SUY THOÁI KINH TẾ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ
ĐẾN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM.” để viết đề án
môn học. Em mong rằng qua đó em cỏ thể có thể có thêm nhiều kiến thức về nền
kinh tế thế giới cũng như Việt Nam nhất là trong giai đoạn có nhiều biến đổi như
hiện nay.
Đề tài này được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Th.S CẤN ANH TUẤN.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy để em có thể hoàn thành
đề án này.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG - QTKD TM48C
Có ba yếu tố chính đã khởi tạo nên bong bóng trong thị trường bất động sản:
Thứ nhất, bắt đầu từ năm 2001, để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ, Cục Dự
trữ liên bang Mỹ (Fed) đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc các ngân hàng cũng
hạ lãi suất cho vay tiền mua bất động sản (mặc dù những loại lãi suất cho vay tiền
mua nhà do các ngân hàng thương mại ấn định bao giờ cũng cao hơn nhiều so với lãi
suất cơ bản của Fed, nhưng mức độ cao hay thấp của chúng bao giờ cũng phụ thuộc
vào lãi suất cơ bản). Vào giữa năm 2000 thì lãi suất cơ bản của Fed là trên 6% nhưng
sau đó lãi suất này liên tục được cắt giảm, cho đến giữa năm 2003 thì chỉ còn 1%.
Thứ hai, về phương diện sở hữu nhà cửa, chính sách chung của chính phủ lúc
bấy giờ là khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo và các nhóm dân da màu
được vay tiền dễ dàng hơn để mua nhà. Việc này phần lớn được thực hiện thông qua
hai công ty được bảo trợ bởi chính phủ là Fannie Mae và Freddie Mac.
Hai công ty này giúp đổ vốn vào thị trường bất động sản bằng cách mua lại các
khoản cho vay của các ngân hàng thương mại, biến chúng thành các loại chứng từ
được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp (mortgage-backed securities - MBS) -
( chú thích MBS ở dưới ), rồi bán lại cho các nhà đầu tư ở Phố Wall, đặc biệt là các
ngân hàng đầu tư khổng lồ như Bear Stearns và Merrill Lynch.
Thứ ba, như đã trình bày ở trên, bởi vì có sự biến đổi các khoản cho vay thành
các công cụ đầu tư cho nên thị trường tín dụng để phục vụ cho thị trường bất động
sản không còn là sân chơi duy nhất của các ngân hàng thương mại hoặc các công ty
chuyên cho vay thế chấp bất động sản nữa. Nó đã trở nên một sân chơi mới cho các
nhà đầu tư, có khả năng huy động dòng vốn từ khắp nơi đổ vào, kể cả dòng vốn
ngoại quốc.
MBS : Điểm đặc biệt ở đây là bởi vì việc hình thành, mua bán, và bảo hiểm
MBS là vô cùng phức tạp cho nên nó diễn ra gần như là ngoài tầm kiểm soát thông
thường của chính phủ. Bởi vì thiếu sự kiểm soát cần thiết cho nên lòng tham và tính
mạo hiểm đã trở nên phổ biến ở các nhà đầu tư. Bên cạnh đó, bởi vì có thể bán lại
phần lớn các khoản vay để các công ty khác biến chúng thành MBS, các ngân hàng
thương mại đã trở nên mạo hiểm hơn trong việc cho vay, bất chấp khả năng trả nợ
của người vay.
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG - QTKD TM48C
* 28/2/2008: Ngân hàng DZ Bank của Đức được đưa vào danh sách các nạn
nhân của cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn với tổng giá trị tài sản mất giá là
1,36 tỷ euro.
* 16-17/3/2008: Bear Stearns được bán cho Ngân hàng Đầu tư Mỹ JP Morgan
Chase với giá 2 đôla một cổ phiếu.
* 29/4/2008: Deutsche Bank lần đầu tiên trong năm năm công bố một khoản
thua lỗ trước thuế sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho các khoản nợ
xấu và các chứng khoán được đảm bảo bởi các khoản thế thấp bất động sản.
* 11/7/2008: Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân hàng
IndyMac Bancorp. Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất từ trước
tới nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD trong vòng 11 ngày.
* 31/7/2008: Deutsche Bank công bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo là 3,6
tỷ USD, nâng tổng số tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD. Deutsche Bank trở
thành một trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu.
* 7/9/2008: Cục Dự trữ Liên bang (Fed) và Bộ Tài chính Mỹ đoạt quyền kiểm soát
hai tập đoàn chuyên cho vay thế chấp Fannie Mae và Freddie Mac nhằm hỗ trợ thị
trường nhà đất Mỹ.
* 11/9/2008: Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối tác để bán lại
chính mình. Cổ phiếu của ngân hàng đầu tư này tụt giảm 45%.
* 14/9/208: Bank of America cho biết sẽ mua Merrill Lynch với giá 29 USD/cp
sau khi từ chối đề nghị mua lại của Lehman Brothers.
* 15/9/2008: Đây là ngày tồi tệ nhất tại Phố Wall kể từ khi thị trường này mở
cửa trở lại sau vụ khủng bố 2 toà tháp đôi tại Mỹ vào Tháng 9 năm 2001. Lehman
Brothers sụp đổ đánh dấu vụ phá sản lớn nhất tại Mỹ; Merrill Lynch bị Bank of
America Corp thâu tóm; American International Group - tập đoàn bảo hiểm lớn nhất
thế giới mất khả năng thanh toán do những khoản thua lỗ liên quan tới nợ cầm cố.
* 16/9/2008: Ngân hàng trung ương các nước trên thế giới đã đổ hàng tỉ USD
Trong khi đó tại Washington D.C., các thành viên chủ chốt trong quốc hội đã
đồng ý về những điều khoản chính trong kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD.
* 29/9/2008: Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch giải cứu thị trường tài
chính Mỹ. Phản ứng ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số công nghiệp Dow Jones
tụt giảm gần 780 điểm - mức giảm trong một ngày mạnh nhất từ trước tới nay.
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG - QTKD TM48C
* 1/10/2008: Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD (tỷ
lệ 74-25) với một số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo luật cắt giảm thuế
thu nhập cho doanh nghiệp và cá nhân (tính sẽ làm ngân sách thất thu 149 tỷ USD);
tăng hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang từ 100.000
USD lên 250.000 USD.
* 3/10/2008: Sau 3 giờ thảo luận và thuyết phục nhau, Hạ viện Mỹ đã bỏ phiếu
lần thứ hai và thông qua dự luật giải cứu với tỷ lệ phiếu 262-171. Không đầy 2 giờ
sau đó, Tổng thống Mỹ đặt bút ký để chính thức chuyển kế hoạch thành đạo luật.
* Ngày 4/10/2008: Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đã triệu tập cuộc họp
thượng đỉnh khẩn cấp với lãnh đạo 4 nước lớn nhất trong Liên minh Châu Âu là Anh,
Pháp, Đức và Ý. Phiên họp kết thúc với tuyên bố hợp tác xử lý khủng hoảng, nhưng
không thống nhất được một gói giải pháp tổng thể theo mô hình của Mỹ.
* Ngày 5/10/2008: Mặc dù Thủ tướng Đức Angela Merkel đã chỉ trích quyết
định của Ireland tuần trước về bảo hiểm toàn bộ các tài khoản ngân hàng tại Ireland,
ngày Chủ nhật 5/10 Bộ trưởng Tài chính Đức đã thông báo tất cả các tài khoản tiền
gửi ngân hàng tại Đức sẽ được bảo hiểm không có giới hạn.
* Ngày 6/10/2008: Trong đêm Chủ nhật 5/10, ngân hàng BNP Paribas SA của
Pháp gửi email thông báo đã thỏa thuận chi 14,5 tỷ Euro (tương đương 19,8 tỷ USD)
để mua lại ngân hàng Fortis, trong đó có 9 tỷ Euro bằng cổ phiếu và 5,5 tỷ Euro bằng
tiền mặt. BNP sẽ sở hữu 75% Fortis tại Bỉ, 67% Fortis tại Luxembourg, và toàn bộ
mảng bảo hiểm của Fortis tại Bỉ.
* Ngày 8/10/2008: Trong một nỗ lực phối hợp chưa từng có tiền lệ, Cục dự trữ
cơ bản của FED, nhưng mức độ cao hay thấp của chúng bao giờ cũng phụ thuộc vào
lãi suất cơ bản). Vào giữa năm 2000 thì lãi suất cơ bản của FED là trên 6% nhưng sau
đó, lãi suất này liên tục được cắt giảm, cho đến giữa năm 2003 thì chỉ còn 1%." (Báo
Thanh niên, 16/10/2008, trang 19). Việc cắt giảm lãi suất liên tục đã làm cho lạm
phát gia tăng. Do lo lắng về diễn biến lạm phát, FED bắt đầu tăng dần lãi suất, dẫn
đến việc thị trường bất động sản bắt đầu chững lại vào đầu năm 2006. Trong khi vào
giữa năm 2003 lãi suất căn bản của FED chỉ có 1% thì vào giữa năm 2006 nó đã tăng
lên đến 5,25%, bắt buộc các ngân hàng thương mại phải đẩy lãi suất cho vay tiền mua
nhà lên cao hơn nhiều nữa. Tình hình lãi suất cao đã khiến cường độ vay để mua nhà
giảm lại. Giá nhà bắt đầu trượt dốc vì cung vượt cầu. Nhiều người mua nhà giá cao
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG - QTKD TM48C
trước đây bắt đầu thấy giá thị trường của căn nhà đang sở hữu thấp hơn khoảng nợ
mà mình đang vay. Bên cạnh đó, rất nhiều người trong nhóm vay tiền với lãi suất
dưới chuẩn bắt đầu mất khả năng trả nợ khi lãi suất của họ bị điều chỉnh trở lại theo
lãi suất mới hiện hành khá cao. Họ muốn bán nhà để trả nợ cũng không được vì giá
nhà thấp hơn khoản nợ do thị trường tụt dốc. Hệ quả là họ đành bỏ nhà cho ngân
hàng trưng thu lại." (Báo Thanh niên, 17/10/2008, trang 13, chữ nghiêng là do tôi
viết). Cuối cùng là khủng hoảng. Còn việc nó lan sang lĩnh vực tài chính như thế nào
cũng như diễn biến hiện tại của tình hình tài chính ra sao thì đã có rất nhiều ý kiến
được đưa ra rồi, tôi không cần phải đi sâu hơn nữa. Ở đây, tuy năm 1929 khủng
hoảng bắt đầu từ ngay thị trường chứng khoán, còn hiện tại thị lại bắt nguồn từ khủng
hoảng thị trường bất động sản, nhưng chúng ta dễ dàng thấy ngay điểm chung giữa
hai cuộc khủng hoảng, đó là nó mở đầu bẳng việc hạ lãi suất cơ bản để kích thích đầu
tư.
3. Hậu quả đối với nền kinh tế thế giới
a. Thương mại toàn cầu sụt giảm
Đây là ảnh hưởng dễ nhận thấy nhất. Nếu cả sản lượng và nhu cầu của nền kinh
tế Mỹ cũng giảm, tiêu dùng tư nhân, đầu tư của các công ty và các hoạt động sản xuất
mức lãi suất thấp và dài hạn cũng diễn ra ở nhiều quốc gia khác, nhất là ở châu Âu.
Mỹ không phải là nước duy nhất mà “bong bóng” bất động sản đã vỡ.
Anh, Ireland và Tây Ban Nha đi sau Mỹ có chút ít về tốc độ mất giá của nhà đất.
Các nước khác với tiềm năng bong bóng bất động sản sắp vỡ bao gồm Pháp, Hy Lạp,
Hungary, Italy, Bồ Đào Nha, Thổ Nhĩ Kỳ và các nước vùng Baltic. Tại châu Á,
những nước như Australia, Trung Quốc, New Zealand và Singapore, “bong bóng”
nhà đất đã vỡ tại một số khu vực. Đến cả Ấn Độ cũng xảy ra tình trạng bong bóng
địa ốc. Những “bong bóng” này chắc chắn sẽ vỡ một khi tình trạng tín chặt tín dụng
“châm kim” vào chúng, dẫn tới tốc độ tăng trưởng chậm chạp tại một số nước và suy
thoái tại một số nước khác.
d. Giá hàng hóa và nguyên vật liệu thô sẽ giảm
Chỉ cần nhìn vào giá dầu cao là có thể nhận thấy nhu cầu hàng hóa của thế giới
đã tăng mạnh trong những năm gần đây. Tuy nhiên, tình trạng này sẽ kéo dài không
lâu. Đó là do hai đầu máy của kinh tế thế giới là Mỹ và Trung Quốc tăng trưởng
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG - QTKD TM48C
chậm lại sẽ kéo theo sự sụt giảm mạnh nhu cầu của các loại hàng hóa như dầu, thực
phẩm và khoáng sản.
Điều này tất yếu sẽ tác động tiêu cực tới xuất khẩu và tăng trưởng của các nước
xuất khẩu các mặt hàng này ở châu Phi, Mỹ Latin và châu Phi. Chẳng hạn, Chile là
nước xuất khẩu đồng lớn nhất thế giới, đồng từ nước này được sử dụng để làm chip
máy tính và dây điện. Nhu cầu của Mỹ và Trung Quốc giảm chắc chắn sẽ khiến giá
cả và nhu cầu đồng cùng giảm xuống, kéo theo tốc độ tăng trưởng kinh tế của Chile.
e. Niềm tin sẽ giảm mạnh
Cuộc khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn đã gây ra tình trạng thắt chặt thanh
khoản và tín dụng trên Wall Street. Tình trạng này cũng đã lan rộng ra thị trường tài
chính nhiều nước trên thế giới. Một lượng trái phiếu bất động sản chứa đựng đầy rủi
ro và nợ thế chấp của Mỹ đã được bán cho các nhà đầu tư nước ngoài. Đó là lý do tại
sao những thất thoát tài chính do tình trạng vỡ nợ tại các thành phố Mỹ như
nhiều nước đang “bó tay” các ngân hàng trung ương.
FED sẽ còn cắt giảm lãi suất, nhưng chắc chắn sẽ lo ngại về tình trạng mất giá
liên tiếp của USD sẽ khiến các nhà đầu tư nước ngoài e ngại không muốn bỏ tiền
mua các loại trái phiếu của Mỹ. Và trong nền kinh tế toàn cầu nói chung, đồng USD
yếu cũng là một trò chơi có tổng bằng 0, đồng USD yếu sẽ có lợi xuất khẩu của nước
Mỹ, nhưng lại làm tổn thương khả năng cạnh tranh và tăng trưởng của các đối tác
thương mại của Mỹ.
Chính sách tiền tệ cũng kém tác dụng hơn vào thời điểm này vì một lý do khác.
Nguồn cung nhà cửa, xe cộ và các hàng hóa tiêu dùng khác trên thế giới nói chung
đang rất dư dả. Nhu cầu đối với những hàng hóa này đã bớt nhạy cảm hơn trước
những biến động lãi suất vì phải mất rất nhiều năm người tiêu dùng mới có thể “hút”
hết lượng hàng hóa thừa mứa này. Việc cắt giảm thuế cho dân Mỹ cũng chẳng thể
thay đổi tình huống, nhất là khi dân Mỹ đang nợ “như chúa chổm”.
Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ hiện nay cũng được coi là đã vượt khỏi tầm
kiểm soát của FED. Những vấn đề mà kinh tế Mỹ đang phải đối mặt không phải là
thiếu tiền mà là những khoản nợ không trả nổi. Hàng triệu ngôi nhà đang đứng trước
nguy cơ bị tịch biên vì người sở hữu không có tiền trả nợ và hơn 100 tổ chức cho vay
cầm cố đang có nguy cơ phá sản.
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG - QTKD TM48C
Mặt khác, không chỉ cho vay cầm cố, các ngân hàng của Mỹ còn thả cửa cho
vay để các doanh nghiệp đầu tư vào các vụ mua lại hoặc các loại tài sản địa ốc
thương mại. Do đó, nếu kinh tế Mỹ tiếp tục xấu đi, lượng vỡ nợ của các doanh
nghiệp cũng sẽ tăng vọt.
Thêm vào đó, ở Mỹ còn tồn tại một hệ thống ngân hàng “chợ đen” bao gồm
những tổ chức tài chính không phải là ngân hàng nhưng lại vay tiền ngắn hạn để cho
vay hoặc đầu tư dài hạn. Chẳng hạn, các quỹ đầu tư thị trường tiền tệ có thể bị rút
sạch vốn trong vòng một đêm, hay các quỹ phòng hộ chỉ được báo trước 1 tháng để
trả nợ. Nhiều trong số những quỹ này đã tự “trói” mình vào những loại trái phiếu có
Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, tác động gián tiếp từ những diễn biến
bất lợi của thị trường tài chính thế giới đã kéo theo 3 phiên giao dịch giảm điểm liên
tiếp vào giữa tuần. Ảnh hưởng tâm lý đến nhà đầu tư Việt Nam rất hiện hữu, dù rằng
tác động rõ ràng của khủng hoảng tài chính thế giới đến Việt Nam chưa được xác
định cả trong ngắn hạn và dài hạn. Tính chung cả tuần, chỉ số VN Index mất gần 40
điểm.
Chỉ đến phiên giao dịch cuối tuần, nhờ những thông tin về việc Ngân hàng
Trung ương tại một số thị trường lớn bắt đầu vào cuộc "cứu trợ", cùng với sự bật dậy
của các thị trường lớn, thì chứng khoán Việt Nam mới bất ngờ có được phiên đảo
chiều tăng điểm ấn tượng: gần 100% mã chứng khoán tăng hết biên độ.
Trong số những tập đoàn tài chính hàng đầu của Mỹ lâm cảnh khó khăn, thì sự
việc ở tập đoàn bảo hiểm AIG được nhiều người Việt Nam quan tâm. Công ty AIG
Việt Nam đang thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ với gần 300.000 khách hàng
tại Việt Nam.
Chỉ 1 ngày sau biến cố tại Mỹ, đại diện AIG Việt Nam và Bộ Tài chính đã đưa
ra những số liệu để khẳng định: Quyền lợi của tất cả các khách hàng của AIG tại Việt
Nam sẽ không thể bị ảnh hưởng.
Ông Trịnh Thanh Hoan, Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm - Bộ Tài chính cho biết: "AIG
Việt Nam hoạt động tại Việt Nam với mô hình là một công ty TNHH, họ có tính độc
lập tương đối với hoạt động của tập đoàn mẹ. Chúng tôi giám sát hoạt động của các
công ty bảo hiểm nước ngoài dựa vào biên khả năng thanh toán của họ. Hiện nay,
mức bồi thường của AIG Việt Nam đang cao gấp 28 lần nếu so với biên khả năng
thanh toán. Thậm chí cả trong trường hợp AIG phá sản, thì trước tiên, mọi quyền lợi
của khách hàng trong hợp đồng chắc chắn vẫn được đảm bảo".
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG - QTKD TM48C
Khủng hoảng tài chính Mỹ đã được chỉ rõ: Bắt nguồn từ việc các ngân hàng đầu
tư Mỹ đổ quá nhiều tiền vào chứng khoán bất động sản, giờ thì gần như vô giá trị…
Ở Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước khẳng định: Không một định chế tài chính
Nam. Tuy nhiên, Phó thủ tướng khẳng định Việt Nam vẫn duy trì mục tiêu tăng
trưởng 6,5% - 7% trong năm nay, và cho rằng Việt Nam đã vượt qua được thời kỳ
khó khăn nhất. Ông cho biết trước mắt Chính phủ quyết tâm ổn định kinh tế vĩ mô,
đặc biệt là lĩnh vực tài chính, và về dài hạn là sự phát triển bền vững, trong đó giải
quyết các vấn đề cốt tử của nền kinh tế như nhân lực, hạ tầng. Phó thủ tướng khẳng
định dù khó khăn đến đâu Việt Nam cũng sẽ tạo điều kiện tốt nhất, và hỗ trợ tối đa
cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Trong khi đó, ông Noritaka Akamatsu, chuyên gia cao cấp về tài chính của
Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam (WB), cho rằng khi một đất nước muốn tăng
trưởng mạnh 7%, 8% thậm chí 10% thì những thách thức như thâm hụt thương mại,
tài khoản vãng, cán cân thanh toán là chuyện không thể tránh khỏi. Ông đánh giá Việt
Nam hiện nay, tích lũy nội địa vẫn khá thấp, nên vẫn phải dựa vào dòng vốn bên
ngoài, đó là các kênh tài trợ cho thâm hụt. "Việt Nam cần khuyến khích xuất khẩu,
đầu tư vào xuất khẩu để tiếp tục tích lũy nội địa mạnh mẽ. Về dài hạn tiếp tục thu hút
các nhà đầu tư có tổ chức, các nhà đầu tư dài hạn. Tỷ lệ vốn dài hạn hiện nay chiếm
5% GDP là quá thấp," chuyên gia này nhận xét. Ông cũng cho rằng việc lo ngại nhà
đầu tư gián tiếp ngắn hạn rút khỏi thị trường là không có cơ sở. "Thị trường tài chính
tiền tệ Việt Nam còn quá nhỏ, và tính thanh khoản thấp, vì vậy những ai có ý định
đến đây để kiếm lời, và rút ra nhanh là điều không dễ", quan chức WB này nhận
định.
5. Các biện pháp khắc phục hậu quả của suy thoái
a. Khôi phục ổn định trên thị trường tài chính
Vấn đề trung tâm hiện nay là tâm lý và giảm sút lòng tin trên toàn thế giới. Các
nhà đầu tư đánh mất niềm tin vào các công ty, đặc biệt là các ngân hàng do lo ngại về
tình trạng thua lỗ tiếp tục xảy ra. Tiêu dùng giảm do lo ngại về khả năng mất việc
làm. Do vậy, mục tiêu trọng tâm hiện nay phải là khôi phục niềm tin. Ở cấp độ toàn
cầu, điều này có nghĩa là các chính phủ và Ngân hàng Trung ương cần phải hành
động một cách quyết đoán để nhà đầu tư có thể tin tưởng vào khả năng thanh toán và
tồn tại của các định chế tài chính, đồng thời phải cam kết một cách đáng tin cậy sẽ
16
được giải quyết nhanh chóng.
b. Chương trình kích cầu
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG - QTKD TM48C
Trong thời gian qua, rất nhiều nước đã thực hiện các gói giải pháp kích cầu
trong nước. Các Ngân hàng Trung ương trên thế giới đã có những phản ứng nhanh và
quyết đoán nhằm giải quyết tình hình. Các ngân hàng Châu Á cũng đã hành động một
cách quyết đoán như: Cơ quan Tiền tệ Singapore đã nới lỏng chính sách tiền tệ ngay
từ đầu cuộc khủng hoảng, Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ và Ngân hàng trung ương Hàn
Quốc đi đầu trong việc cắt giảm lãi suất. Tuy nhiên, các biện pháp chính sách tiền tệ
không đủ để giải quyết những đổ vỡ trên thị trường tài chính, mà cần phải kết hợp
với biện pháp kích thích tài khóa để khôi phục tăng trưởng toàn cầu. Nhưng không
phải tất cả các nước đều có thể sử dụng biện pháp kích thích tài khóa do không thể
tăng thâm hụt ngân sách. Điều này cho thấy một điểm quan trọng là mỗi nước có biện
pháp riêng của mình và kích thích tài khóa chỉ là một trong những biện pháp kích cầu
trong nước. Ngoài ra, cần phải chú ý các gói chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng
quy mô lớn nhằm kích thích tăng trưởng trong ngắn hạn để vượt qua khủng hoảng có
thể gây lạm phát và mất ổn định vĩ mô trong trung và dài hạn sau khi cuộc khủng
hoảng qua đi. Do vậy, vấn đề liều lượng và quy mô của các gói chính sách kích cầu là
đặc biệt quan trọng, đồng thời các nước cần chuẩn bị sẵn các biện pháp cho giai đoạn
hậu khủng hoảng nhằm chuẩn bị đối phó với các nguy cơ từ gói giải pháp kích cầu,
đảm bảo tăng trưởng ổn định và bền vững, bao gồm:
* Về phía chính sách tài khóa: Những nước áp dụng chính sách tài khóa mở
rộng để kích thích tiêu dùng nhưng lại có tỷ lệ tiết kiệm thấp sẽ phải đối mặt với nguy
cơ tình trạng thậm hụt cán cân vãng lai trầm trọng hơn, nợ nước ngoài tăng, ngân
sách không bền vững trong trung hạn và có thể xảy ra "khủng hoảng tài khóa".
* Về phía chính sách tiền tệ: Chính sách tiền tệ quá nới lỏng có thể sẽ dẫn tới
tình trạng "bẫy thanh khoản" (cung tiền quá mức nhưng không thể thúc đẩy tăng
trưởng) và việc duy trì chi phí vốn quá thấp trong thời gian dài có thể gây ảnh hưởng
* Có đủ nguồn lực, năng lực và hợp tác hiệu quả giữa các cơ quan quản lý để
đảm bảo thực hiện chính sách có hiệu quả: Trong cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại
vai trò "Người cho vay cuối cùng" của Ngân hàng Trung ương đã có những điều
chỉnh so với cách hiểu truyền thống như: (i) Kéo dài thời kỳ hỗ trợ thanh khoản; (ii)
Mở rộng phạm vi các tài sản được phép cầm cố và danh sách các tổ chức được tham
gia; (iii) Cho phép hoán đổi các chứng khoán không có khả năng thanh khoản lấy trái
phiếu chính phủ. Ngoài ra, nhiều biện pháp can thiệp khác cũng được áp dụng như
mua lại nợ, bảo lãnh nợ và tiền gửi, tăng vốn. Tuy nhiên, những biện pháp can thiệp
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG - QTKD TM48C
như vậy đã chuyển những rủi ro tín dụng và thị trường lên bảng tổng kết tài sản của
Ngân hàng Trung ương. Hơn nữa việc chấp nhận những tài sản đảm bảo thiếu tính
thanh khoản cũng tạo ra những quan ngại về các vấn đề định giá, rủi ro đạo đức... vì
rất khó xác định được cách định giá phù hợp đối với các sản phẩm tài chính có độ
phức tạp cao và ít được giao dịch. Do vậy, phần lớn các Ngân hàng trung ương trong
khu vực đã không ngừng tăng cường khuôn khổ quản lý thanh khoản và có những độ
linh hoạt nhất định trong việc đưa ra những điều chỉnh cần thiết để có thể đối phó
được những tình huống thiếu hụt thanh khoản có thể xảy ra trên thị trường hoặc đối
với từng tổ chức cụ thể. Điều này cũng đòi hỏi Ngân hàng trung ương phải tăng
cường khả năng kiểm soát rủi ro và đội ngũ chuyên gia.
* Tăng cường cung cấp thông tin để loại bỏ tâm lý bất ổn và khôi phục lòng tin:
Vấn để khủng hoảng lòng tin trong cuộc khủng hoảng này đã một lần nữa cho thấy
các chiến lược truyền thông cho các nhóm đối tượng cần phải được coi là một phần
đặc biệt quan trọng trong các giải pháp chính sách, vì những tác động về lòng tin có
thể trở thành kênh truyền dẫn chính cho những lây lan khủng hoảng giữa các nước,
cũng như giữa các khu vực kinh tế. Vấn đề công bố và trao đổi thông tin có thể có tác
động tích cực hoặc tiêu cực đối với hiệu quả chính sách, tùy thuộc vấn đề thời điểm
công bố và mức độ chi tiết của thông tin. Trong bối cảnh biến động tài chính như hiện
nay, việc thiếu những tuyên bố, thông cáo về chính sách thường dẫn đến tình trạng
trường, bảo lãnh cho vay và bảo lãnh tiền gửi để duy trì lòng tin của thị trường đối
với hệ thống tài chính.
Về tiền tệ: do lạm phát trong khu vực tiếp tục có xu hướng đi xuống trong bối
cảnh giá cả hàng hóa toàn cầu giảm, hầu hết các nước trong khu vực đều nới lỏng
chính sách tiền tệ để hỗ trợ tăng trưởng với mức cắt giảm lãi suất tính từ đầu năm
2008 đến nay từ 50 đến 525 điểm cơ bản.
Về tài khóa: một số nền kinh tế như Trung Quốc, Hồng Kông, Malaysia,
Singapo, Thái Lan và Đài Loan (Trung Quốc) đã thực hiện các gói kích thích tài khóa
quy mô lớn nhằm kích cầu trong nước với giá trị dao động từ 4,1% - 16% GDP.
Về hợp tác quốc tế: củng cố và tăng cường khuôn khổ hợp tác và giám sát tài
chính khu vực Asean, Asean+3, Ủy ban ổn định tài chính và tiền tệ khu vực Châu Á -
Thái Bình Dương, cụ thể là tăng cường đa phương hóa Sáng kiến Chiengmai, hợp tác
chia sẻ và cung cấp thông tin giám sát trong khu vực nhằm duy trì và ổn định tài
chính tiền tệ.
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG - QTKD TM48C
II.THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Năm 2008 là câu chuyện của hai cuộc khủng hoảng nối tiếp nhau.
Nền kinh tế Việt Nam trong năm 2008 và những tháng đầu năm 2009 đã trải
qua những trạng thái hoàn toàn trái ngược từ quá nóng sang quá lạnh.
Những tháng đầu năm 2008 do giá nguyên liệu, dầu mỏ và lương thực tăng
chóng mặt kèm theo chính sách nới lỏng tiền tệ và tài khóa một cách quá mức của
chính phủ trong những năm trước đây đã tạo là chỉ số giá tiêu dùng tăng vọt ở mức
cao nhất trong vòng 17 năm qua lên đến 23%. Đồng thời với đó do nền kinh tế phát
triển quá nóng dẫn tới đầu tư tràn lan kém hiệu quả gây ra nhập khẩu tăng vọt đẩy
thâm hụt thương mại lên mức kỉ lục là 17 tỷ USD. Mức thâm hụt lớn này gây sức ép
lên VND và khiến VND có khả năng bị mất giá nghiêm trọng. Trước hoàn cảnh khó
khăn đó chính phủ Việt Nam đã thực thi hàng loạt các biện pháp cấp bách như thắt
chặt tiền tệ (lãi suất cơ bản có lúc đã đẩy lên đến mức 14%), siết chặt đầu tư công và
Kinh tế Việt Nam năm 2008 đã không tiếp tục được đà tăng trưởng cao của các
năm trước đó. Quý I/2008, tốc độ tăng trưởng GDP là 7,38%, thấp hơn tốc độ 7,8%
của quý I/2007 kèm theo tình hình kinh tế trong nước có nhiều diễn biến bất lợi như
lạm phát và nhập siêu tăng cao bất thường. Đến quý II/2008, tốc độ lạm phát và nhập
siêu của quý này đã giảm nhẹ, song tốc độ tăng trưởng GDP của quý cũng giảm và
chỉ đạt 5,85%. Quý III/2008, kinh tế thế giới đứng trước nguy cơ suy thoái, giá cả
trên thị trường thế giới về nguyên liệu, nhiên liệu và lương thực thực phẩm xoay
chiều giảm mạnh , Việt nam bắt đầu nới lỏng chính sách tài chính, tiền tệ và tốc độ
tăng trưởng GDP của quý đạt 6,55%.
Quý IV/2008, Việt Nam đã nhanh chóng chuyển từ chính sách đấu tranh với
lạm phát trong vài tháng trước thành nới lỏng để hỗ trợ kinh tế phát triển. Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam đã tiến hành những biện pháp nới lỏng mạnh nhằm tăng tính
thanh khoản cho ngân hàng và tạo điều kiện tiếp cận vốn vay cho doanh nghiệp. Vì
vậy năm 2008 và những tháng đầu năm 2009 mức tăng trưởng đã chậm lại rõ rệt.
Năm 2008 tăng trưởng GDP chỉ đạt 6.2 % trong khi 3 tháng đầu năm 2009 tăng
trưởng GDP chỉ đạt 3,1%. Năm 2008 Nông nghiệp chỉ tăng 3,8%, công nghiệp tăng
6,3%, dịch vụ tăng 7,2%. Đây là những mức tăng khiêm tốn nhất trong 10 năm trở
lại đây và là dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đang chững lại.
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG - QTKD TM48C
Bảng GDP từng năm
2. Tiêu dùng toàn xã hội
Trong bối cảnh lạm phát tăng cao những tháng đầu năm, sau đó lại là suy giảm
tăng trưởng kinh tế những tháng cuối năm khiến thu nhập thực tiễn của người tiêu
dùng Việt Nam giảm đáng kể, người tiêu dùng Việt Nam đã phản ứng bằng cách thắt
chặt chi tiêu cá nhân. Tỷ lệ tăng trưởng tiêu dùng năm 2008 chỉ là 3,9 % mức tăng rất
thấp nếu so với mức 9,6% của năm 2007 và tỷ lệ này tiếp tục suy giảm trong những
tháng đầu năm 2009.