TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
ĐỀ TÀI: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
HIỆN NAY
DANH SÁCH NHÓM
1. Hồ Thị Trà My 4. Lê Thị Oanh
2. Phạm Thị Thùy Linh 5. Ngô Thị Hằng
3. Vũ Khánh Hoài 6. Trần Khánh Chi
1
NỘI DUNG CHÍNH
1.TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.Khái niệm
1.2.Vai trò của ngân hàng thương mại
1.3.Phân loại NHTM
1.4.Các hoạt động cơ bản của NHTM
2.HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Những mốc sự kiện quan trọng
2.2.Quy mô
2.3.Trần lãi suất
2.4.Tăng trưởng tín dụng
2.5.Nợ xấu
3.GIẢI PHÁP
2
1.TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
• Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát
triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã có tác động
rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng
hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày
càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được.
1.1. Khái niệm:
• Ở Việt Nam: Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng kinh doanh trong lĩnh vực tiền
1.2.3.Tạo tiền
Tạo tiền là một vai trò quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân NHTM. Với mục tiêu là
tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM
với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo
tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM
là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân
hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng
để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách
hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh
toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán
trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Ngân hàng thương mại tạo tiền
phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với nhtm. Do vậy
ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn.
1.2.4.Cung cấp dịch vụ tài chính
• Tư vấn tài chính
• Môi giới tài chính
• Lưu kí chứng khoán
• Mở tài khoản ký quỹ kinh doanh chứng khoán
• Ngân quỹ và chuyển tiền thanh toán
• Uỷ thác, bảo quản, chi hộ, mua bán hộ
• Dịch vụ ngân hàng điện tử
1.3. Phân loại NHTM:
4
1.3.1.Dựa vào hình thức sở hữu:
• NHTM quốc doanh (NHTM nhà nước): NHTM được thành lập bằng 100% vốn NSNN
Là NHTM do nhà nước thành lập, toàn bộ vốn hoạt động đều do nhà nước đầu tư nhằm góp phần
thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước.
• NHTM cổ phần: NHTM được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, vốn hoạt động do các
cổ đông góp. Trong đó có các doanh nghiệp nhà nước, các thành phần kinh tế,các tổ chức tín
dụng và các cá nhân cùng góp vốn theo quy định của pháp luật nước CHXHCN Việt Nam. Riêng
hàng cần sử dụng các biện pháp bảo đảm vốn vay: thế chấp, cầm cố…
1.4.3.Hoạt động kinh doanh tiền tệ:
Là một trong những nghiệp vụ kinh doanh đem lại cho NH nhiều lợi nhuận. Mục đích của
hoạt động mua bán ngoại tệ là để đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ của khách hàng một cách nhanh
5
chóng và thuận lợi nhất, nâng cao chất lượng trong việc cung cấp dịch vụ đối với khách hàng,
thu lợi nhuận từ chênh lệch tỷ giá mua bán.
1.4.4.Hoạt động thanh toán:
Để thực hiện được các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua ngân
hàng,NHTM được mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nước. Để thực hiện thanh toán
giữa các Ngân hàng với nhau thông qua NHNN, NHTM phải mở tài khoản tại NHNN nơi
NHTM đặt trụ sở chính và duy trì tại đó số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định. Ngoài ra,
chi nhánh của NHTM được mở tài khoản tiền gửi tại chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành
phố nơi đặt trụ sở của chi nhánh. Hoạt động dịch vụ thanh toán của NHTM bao gồm các hoạt
động sau:
• Cung cấp các phương tiện thanh toán.
• Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng.
• Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ
• Thực hiện các dịch vụ thanh tóan khác theo quy định của Ngân hàng nhà nước.
• Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng nhà nước cho phép
• Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng
• Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên Ngân hàng trong nước
• Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng nhà nước cho phép.
1.4.5.Hoạt động đầu tư tài chính:
• Cho thuê tài chính:
Là loại hình tín dụng trung, dài hạn. Trong đó các công ty cho thuê tài chính dùng vốn của
mình hay vốn do phát hành trái phiếu để mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê và
tiến hành cho thuê trong một thời gian nhất định. Người đi thuê phải trả tiền thuê cho công ty
cho thuê tài chính theo định kỳ. Khi kết thúc hợp đồng thuê người đi thuê được quyền mua hoặc
kéo dài thêm thời hạn thuê hoặc trả lại thiết bị cho bên cho thuê
Ngày 6/5/1951 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc
gia Việt Nam, với tổng giám đốc đầu tiên là cố phó Chủ Tịch Nguyễn Lương Bằng, chính thức
khai sinh một ngành kinh tế rất trọng yếu của Nhà nước - ngành Ngân hàng.
Tới Đại hội Đảng lần thứ 6 đã đề ra đường lối đổi mới cho đất nước, 2 pháp lệnh ngân hàng
đươc công bố ngày 24/5/1990 là cơ sở pháp lý quan trọng khẳng định sự thay đổi mạnh mẽ của
ngân hàng: Từ Ngân hàng một cấp thành Ngân hàng hai cấp. Hệ thống ngân hàng VN bao gồm:
Ngân hàng nhà nước Việt nam là cơ quan quản lý Nhà nước về tiền tệ tín dụng và là ngân hàng
Trung Ương, hệ thống Ngân hàng thương mại với chức năng kinh doanh.
• Năm 1993: Bình thường hoá các mối quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế (IMF, WB,
ADB)
• Năm 1995: Quốc hội thông qua nghị quyết bỏ thuế doanh thu đối với hoạt động ngân hàng;
thành lập ngân hàng phục vụ người nghèo.
• Năm 1997:
+ Quốc hội khoá X thông qua Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín
dụng (ngày 2/12/1997) và có hiệu lực thi hành từ 1/10/1998.
+ Thành lập Ngân hàng phát triển Nhà Đồng bằng sông Cửu Long - MHB
• Năm 1999: Thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (ngày 9/11/1999).
• Năm 2000: Cơ cấu lại tài chính và hoạt động của các NHTMNN và cơ cấu lại tài chính và
hoạt động của các NHTMCP.
• Năm 2002: Tự do hoá lãi suất cho vay VND của các tổ chức tín dụng – Bước cuối cùng tự
do hoá hoàn toàn lãi suất thị trường tín dụng ở cả đầu vào và đầu ra.
• Năm 2003:
+ Tái phát hành tiền kim khí( tiền xu) và lần đầu tiên phát hành tiền polime.
+ Tiến hành cơ cấu lại theo chiều sâu, hoạt động phù hợp với chuẩn Quốc tế đối với các
NHTM
• Năm 2005: bùng nổ thị trường dịch vụ thẻ NH.
• Năm 2006: VN chính thức trở thành viên thứ 150 của WTO.
• Năm 2007: mở cửa theo cam kết WTO, cho phép các ngân hàng ngoại lập ngân hàng con
100% vốn.
• Năm 2009: NH ngoại chính thức mở rộng ảnh hưởng.
ngân hàng này có thể thanh toán tại các POS của một số ngân hàng khác trong cùng một liên
minh.
- Cơ sở hạ tầng, CNTT nhìn chung đã có sự phát triển vượt bậc
Điều này đã tạo cơ sở quan trọng cho việc cải tiến quy trình nghiệp vụ, phát triển các dịch
mới, nâng cao tính tiện ích cũng như chất lượng phục vụ khách hàng. Các NHTM ngày càng
9
nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng tốc độ xử lý thông tin, tăng cường tính bảo mật, đem lại nhiều
tiện ích cho khách hàng và tiết kiệm chi phí cho ngân hàng.
- Vốn điều lệ của các NHTM không ngừng tăng
Vốn điều lệ các ngân hàng nội tại Việt Nam đến 31/12/2011
Theo Thống kê của GAFIN.vn, năm 2011 đã có khoảng 25 ngân hàng tiến hành tăng vốn,
với tổng vốn tăng thêm là hơn 46.000 tỷ đồng. Vốn điều lệ tăng thêm của 4 NHTMNN (Agribank,
BIDV, Vietinbank, Vetcombank) trong năm 2011 lên tới 25.566 tỷ đồng, chiếm 55% tổng vốn
điều lệ tăng thêm trong năm. Trong đó, BIDV tăng vốn mạnh nhất với hơn 13.650 tỷ đồng.Sau
khi tăng vốn, xếp hạng về vốn điều lệ cuối năm 2011 của 4 ngân hàng này đã có sự thay đổi.
BIDV trở thành ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất, thay cho Agribank vẫn thường xuyên giữ vị
trí này. Tiếp sau đó VietinBank và Vietcombank.
Ngày 21 tháng 3 năm 2012, VietinBank đã được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận cho tăng
vốn lên VND 26,22 nghìn tỉ đồng(1,25 tỉ USD). VietinBank trở thành ngân hàng niêm yết có vốn
10
điều lệ lớn nhất Việt Nam.Tiếp sau là Vietcombank, vốn điều lệ 23,17 nghìn tỉ đồng(1,13 tỉ
USD) và chỉ đứng sau ngân hàng 100% vốn nhà nước Agribank(29,6 nghìn tỉ đồng tương đương
1,4 tỉ USD)
- Hoạt động huy động vốn được đẩy mạnh, hiệu quả kinh doanh được nâng cao
Hệ thống NHTM VN đã có những đóng góp quan trọng cho sự ổn định và tăng trưởng kinh
tế ở nước ta trong nhiều năm qua. Với nhiều hình thức huy động vốn, tương đối đa dạng, NHTM
VN đã huy động vốn hàng nghìn tỉ đồng tự các nguồn vốn trong xã hội, tăng dư nợ cho vay với
mọi thành phần kinh tế, tăng đầu tư vào những chương trình trọng điểm quốc gia, qua đó góp
phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước,
kiểm soát lạm phát, thúc đẩy kinh tể tăng trưởng…
26/3 đến 23/6/2012. Chỉ với số tiền gửi 10 triệu đồng hoặc 500 USD trở lên, khách hàng sẽ được
tham gia 3 cơ hội dự thưởng với tổng trị giá gần 7 tỷ đồng, bao gồm: Giải ngày Vàng may mắn,
Giải quay số trúng thưởng bộ trang sức Kim cương/đá quý, giải Tri ân…
Nhiều NH ưu ái cho khách hàng rút trước hạn nhưng vẫn được hưởng nguyên lãi suất hoặc
tận dụng lãi suất thả nổi kỳ hạn dài để lách.Trong khi đó, dù lãi suất dài hạn được nâng cao
nhưng lại không thu hút đc nhiều người gửi do tâm lí chung của nhiều khách hàng ko muốn gửi
tiền những kì hạn dài do ngại rủi ro lạm phát.
Nguyên nhân lách trần lãi suất huy động của các NHTM :
- Một là thanh khoản của ngân hàng vẫn rất khó khăn. Hiện tại các nguồn thu chính của
NHTM là từ tiền gửi ngắn hạn trong khi đó nguồn vốn lại đc sử dụng để cho vay trung và dài
hạn nên khi đến hạn trả lãi ngân hàng sẽ ko có đủ tiền để trả lãi cho người gửi, dẫn đến khả năng
thanh khoản kém đi.
- Hai là sức ép phải duy trì nguồn vốn cũ, đồng thời phải tăng vốn huy động lên. Vì thế,
các NHTM phải chạy đua lãi suất để giành khách hàng gửi tiền.
2.3.2.Cơ sở điều chỉnh giảm trần lãi suất:
12
Thứ nhất, phù hợp với xu hướng kỳ vọng lạm phát, thanh khoản của các TCTD dồi dào, thị
trường tiền tệ diễn biến theo xu hướng tích cực và ổn định.
Thứ hai, NHNN đồng thời quy định trần lãi suất huy động và trần lãi suất cho vay ngắn hạn
nhưng đều có sự linh hoạt, đáp ứng yêu cầu điều hành theo chủ trương của Chính phủ
- Với trần lãi suất huy động, chỉ quy định trần lãi suất tiền gửi VND không kỳ hạn và dưới 12
tháng, còn kỳ hạn từ 12 tháng trở lên do các TCTD ấn định trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường.
- Việc quy định trần lãi suất cho vay chỉ áp dụng đối với 4 lĩnh vực ưu tiên gồm nông nghiệp nông
thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa là phù hợp với chủ trương của
Chính phủ.
Thứ ba, việc điều chỉnh giảm trần lãi suất huy động và cho vay ngắn hạn như trên đảm bảo
hài hòa lợi ích của người gửi tiền, người vay và các TCTD. Theo đó, người gửi tiền vẫn có lãi
suất thực dương; doanh nghiệp được tiếp cận vốn với lãi suất thấp hơn, đặc biệt là đối với 4 lĩnh
vực ưu tiên; ngân hàng đảm bảo được chi phí hoạt động, dự phòng chi trả và có lợi nhuận ở mức
hợp lý.
như hiện nay đối với kỳ hạn tiết kiệm dưới 1 năm là hợp lý vì đã đảm bảo cân bằng giữa lợi ích
của người gửi tiền cũng như người đi vay, trong bối cảnh lạm phát có xu hướng xuống thấp. Về
phía ngân hàng cũng cho rằng việc hạ lãi suất huy động thực tế xuống dưới 9%/năm là khó thực
hiện vì nếu lãi suất tiền đồng giảm thêm, sẽ khó tránh được dòng vốn dịch chuyển từ tiết kiệm
sang các kênh đầu tư khác.
• Bỏ trần lãi suất
Theo TS Nguyễn Trọng Tài, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học ngân hàng (Học
viện Ngân hàng) bỏ trần lãi suất huy động là tất yếu. Bởi vì trần lãi suất chỉ có tác dụng khi
các ngân hàng thương mại cạnh tranh với nhau, đẩy lãi suất huy động lên. Khi tình hình này đã
được kiểm soát, những cú sốc trên thị trường được dẹp yên thì buộc phải bỏ trần lãi suất, không
có cách nào khác. Việc này nên thực hiện khi lãi suất huy động giảm xuống 9-10%. Nếu tiếp tục
duy trì có thể sẽ gây ra tình trạng điều hành máy móc, bắt mọi chủ thể đi theo quỹ đạo của cơ
quan quản lí. Nhà nước chỉ dùng công cụ áp đặt khi chủ thể vận động theo hướng không mong
muốn. Lúc này cũng không thể áp dụng trần cho vay được vì một số lí do: Hệ thống ngân hàng
thương mại Việt Nam huy động một lượng vốn vào quá lớn với lãi suất quá cao. Có ngân hàng
huy động vốn với lãi suất lên đến trên 20%. Nếu áp dụng trần lãi suất cho vay thì ngân hàng lỗ
nặng. Điều đó khiến người ta không thể áp dụng trần lãi suất cho vay được.
2.4.Tăng trưởng tín dụng
2.4.1.Khái niệm
- Tín dụng được hiểu là cho vay , là việc một bên cung cấp nguồn tài chính cho bên khác
trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và
thường kèm theo lãi suất.
- Tăng trưởng tín dụng là tỷ lệ % gia tăng lượng tiền cho cá nhân hoặc tổ chức vay, của
năm này so với năm trước đó.
2.4.2.Thực trạng
• Tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2001-2010
14
Giai đoạn 2001-2005, tín dụng cho nền kinh tế tăng bình quân 26,1%/năm. Giai đoạn
2006-2010, tín dụng cho nền kinh tế tăng bình quân cao hơn - 33,2%/năm.
Nguyên nhân: Các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận với dòng vốn rẻ, lãi suất thấp. Nhiều
sản xuất hoặc hoạt động cầm chừng => Tín dụng phát sinh mới khá hạn chế.
Cũng theo thông tin từ VPCP thì từ đầu năm đến 20.7.2012, cả nước có gần 40.000 DN đăng ký
thành lập mới với tổng số vốn đăng ký trên 247.200 tỉ đồng, giảm gần 13% về số DN và giảm
11,6% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2011. Đồng thời, có trên 30.300 DN gặp khó khăn
phải giải thể, tạm ngừng hoạt động trong 7 tháng đầu năm, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm 2011.
- Do bản thân các ngân hàng: Tăng trưởng tín dụng thấp của Việt Nam kéo dài từ đầu năm đến
nay là phản ứng tự nhiên của nền kinh tế. Ngân hàng sau một thời gian tăng trưởng nóng, nay
buộc phải hãm đà để giải quyết nợ xấu, tái cơ cấu các khoản nợ; đồng thời tập trung đầu tư vào
các khoản tài chính an toàn hơn. Hay được cho là sức hấp thụ vốn của nền kinh tế vẫn rất yếu và
ngân hàng thì quá thận trọng trong việc giải ngân.
16
- Cầu tín dụng SX bị thu hẹp: Ông Nguyễn Đức Hưởng, Phó chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân
hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) nhìn nhận: “Sau thời gian khó khăn, trơn trượt,
các bước đi tiếp sẽ cẩn thận hơn, hoạt động sản xuất kinh doanh cũng sẽ chặt chẽ hơn nên cầu
vay vốn cũng thận trọng hơn. Đó là một đặc điểm của sức cầu tín dụng hiện nay. Cho nên tăng
trưởng tín dụng cả năm nếu đạt được 10% đã là cố gắng lắm rồi, và cần có được sự phối hợp
hài hòa giữa các chính sách”
2.4.4.Tác động của TTTD thấp tới nền kinh tế?
- Tích cực:
+ Doanh nghiệp thực sự hoạt động hiệu quả hơn. Trung bình nửa đầu năm 2012, GDP tăng
khoảng 4,3%. Rõ ràng mặc dù tín dụng âm trong suốt 5 tháng qua nhưng GDP vẫn tăng trưởng
dương. Sự khó khăn từ tín dụng buộc các doanh nghiệp phải tăng trưởng theo “chiều dọc”, đầu
tư nhiều hơn vào yếu tố công nghệ, tăng hiệu quả sản xuất. TTTD thấp đang giúp nền kt thu về
những “giá trị” dài hạn
+ Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) cải thiện trong những tháng đầu năm 2012
- Tiêu cực
+ Với nền kinh tế: Trước tình hình tăng trưởng tín dụng ảm đạm, nền kinh tế tiếp tục thiếu
vốn, tốc độ phá sản doanh nghiệp gia tăng, việc làm mới ít được tạo thêm và tác động xấu đến
các mặt của đời sống xã hội.
+ Với Ngân hàng: Gây ra điểm nghẽn tín dụng.
những cục máu đông làm tắc nghẽn dòng lưu thông đó.
Nợ xấu có thể đẩy doanh nghiệp đến chỗ phá sản, ngân hàng mất tài sản và quan trọng hơn là
gây ra xáo trộn trong nền kinh tế.Giải quyết nợ xấu càng sớm càng tốt sẽ nhanh chóng khơi
thông dòng vốn và khôi phục sản xuất trong doanh nghiệp.Nợ xấu ở mức dưới 3% có thể coi là
ngưỡng khá tốt trong hoạt động ngân hàng. Tỷ lệ an toàn cho phép theo thông lệ quốc tế
2.5.3.Thực trạng
Tỷ lệ nợ xấu của NHTM từ năm 2002 đến 6 tháng đầu năm 2012
- Nguyên nhân nợ xấu của năm 2002 cao hơn các năm trước: Suốt ba năm 2002-2004, dư nợ cho
vay của một số ngân hàng tăng cao. Ngân hàng bị cuốn vào “dòng xoáy” cơ sở hạ tầng ồ ạt, làm
đường giao thông, thủy lợi, trạm y tế, trường học, điện, nước. Nhưng các công trình này lại
không được thẩm định đến nơi đến chốn, đầu tư ngoài kế hoạch, không nguồn thanh toán khiến
nợ xây dựng cơ bản của địa phương tăng nhanh.
Từ năm 2007 đến năm 2008, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu,kinh tế khó
khăn,nhà đầu tư không thu hồi được vốn dấn đến tỷ lệ nợ xấu tăng cao(từ 2% năm 2007 lên 3.5%
năm 2008). Những năm sau đó,tỷ lệ nợ xấu có giảm so với năm 2008 nhưng có chiều hướng gia
tăng(Từ 2.2% năm 2009 đến 3.3% năm 2011). Đến 6 tháng đầu năm 2012,theo số liệu của các
18
ngân hàng thương mại tự báo cáo tỷ lệ nợ xấu là 4,17 % nhưng theo điều tra của thanh tra ngân
hàng nhà nước thì tỷ lệ nợ xấu đã lên tới 8.6%.
2.5.4.Nguyên nhân của nợ xấu trong hệ thống NHTM Việt Nam
- Không kiểm soát chặt chẽ danh mục đầu tư của doanh nghiệp vay vốn
Việc ngân hàng thương mại thành lập DN "sân sau" để qua đó rút vốn từ ngân hàng (NH) về
nhằm thực hiện các mục đích kinh doanh riêng là hiện tượng đáng cảnh báo. Điều này cần phải
quản lý chặt để ngăn chặn rủi ro cả về tài chính và đạo đức trong các tổ chức tài chính (TCTC).
- Mất cân đối kỳ hạn và thanh khoản
Theo đánh giá chung, sự mất cân đối giữa kỳ hạn tiền gửi và cho vay đã và đang trở nên
nghiêm trọng trong hệ thống ngân hàng Việt nam. Cụ thể, các khoản cho vay dài hạn chiếm tỷ
trọng lớn hơn và có quy mô lớn hơn nhiều so với các khoản tiền gửi có cùng kỳ hạn. Điều này
được giải thích là do nhiều ngân hàng trong một thời gian dài đã được sử dụng như là sân sau của
những ông chủ ngân hàng, thực hiện việc cho vay vào những dự án đầu tư dài hạn mà trong đó
nam đã có một bước chuyển biến mạnh mẽ trong quá trình cổ phần hóa hơn 10 năm qua, nhưng
gần như cơ chế quản trị không có sự thay đổi đáng kể nào.
Ở giác độ thứ hai, việc quản trị hoạt động kém đã dẫn tới mức độ rủi ro nợ xấu cao. Theo
báo cáo của Ngân hàng nhà nước, nợ xấu và nợ dưới chuẩn (Non Performing Loan “NPL”) của
các ngân hàng Việt Nam ở mức 3.1% tổng dư nợ tại ngày 30/6/2011, tương đương gần 4 tỷ
USD. Tuy nhiên, những thông tin về các vụ vỡ nợ tín dụng tại nhiều địa phương diễn ra sau đó
có thể sẽ là một lý do để tín rằng nợ xấu của hệ thống ngân hàng có thể sẽ cao hơn thế. Đồng
thời, hệ thống ngân hàng có khoảng 12% dư nợ tương đương 12 tỷ đô la trong lĩnh vực bất động
sản và chứng khoán. Với thực tế ảm đạm của cả hai thị trường này và sự sụt giảm giá, có thể tin
rằng một tỷ lệ lớn trong số dư nợ này đã rơi vào tình trạng nợ xấu và nợ dưới chuẩn. Nhóm cũng
20
đánh giá rằng nếu cân nhắc thêm về khoản nợ của của Vinashin thì con số nợ xấu thực tế của hệ
thống ngân hàng chắc chắn sẽ còn tồi hơn rất nhiều.
Hệ quả tất yếu của vấn đề nợ xấu là khả năng mất vốn trong hệ thống ngân hàng. Mặc dù nhiều
ngân hàng của Việt Nam đã đạt mức tỷ lệ đảm bảo vốn tự có tối thiểu (Capital Adequacy Ratio
“CAR”) trên 8% nhưng tỷ lệ này sẽ bị sụt giảm rất nhanh nếu như hạch toán đúng dự phòng cho
các khoản nợ NPL. Lý do là chất lượng tài sản suy giảm làm cho chi phí dự phòng gia tăng, làm
ăn mòn lợi nhuận lũy kế và từ đó giảm vốn tự có. Theo số liệu của StoxPlus, vốn chủ sở hữu của
43 ngân hành thương mại (không tính ngân hàng phát triển và 5 ngân hàng 100% vốn nước
ngoài) là 276 ngàn tỷ đồng (khoảng 14 tỷ USD) vào thời điểm 30/12/2010. Giả sử nếu như NPL
của hệ thống tăng thêm 10% (từ mức 3.1% theo số liệu của NHNN tại 30/6/2011 lên 13.1%) và
giả sử phải lập dự phòng đầy đủ (100% cho tất cả nợ nhóm 2 đến nhóm 5) thì mức chi phí sẽ
tăng thêm khoảng 10 tỷ USD. Khi đó, vốn chủ sở hữu của hệ thống ngân hàng Việt nam sẽ chỉ
còn 4 tỷ USD và khi đó tỷ lệ CAR sẽ thấp hơn nhiếu so với con sô 8% yêu cầu hiện tại.
Như vậy, có thể thấy rằng các số liệu báo cáo có thể làm hài lòng một số người về mặt giấy tờ,
còn con số khả năng thực tế sẽ làm chúng ta giật mình về thực trạng. Những nguyên nhân dẫn tới
hệ quả này bao gồm (i) thiết chế quản trị kém dẫn tới những khoản cho vay vào những doanh
nghiệp (sân sau) không được định giá một cách đầy đủ; (ii) có quá nhiều ngân hàng, đặc biệt là
các ngân hàng nhỏ trong một nền kinh tế khiêm tốn khoảng 100 tỷ đô la Mỹ. Với trên dưới 100
ngân hàng và các tổ chức tín dụng và hơn 100 công ty chứng khoán có những hoạt động tương
0,5%/năm thì có nhiều giao dịch phổ biến hơn ở mức 1%/năm, cũng là mức lãi suất thấp nhất
tính từ năm 2006 trở lại đây.,) một phần vì NHNN điều chỉnh linh hoạt lượng tiền ra/vào qua thị
trường mở, một phần vì các ngân hàng có nhiều vốn huy động đang trong tình trạng “ứ vốn” do
khả năng hấp thụ vốn thấp của rất nhiều doanh nghiệp. Nhiều ngân hàng thương mại quy mô vừa
trở lên đều có dự trữ vốn khả dụng tốt. Tăng trưởng huy động vốn từ dân cư khá cao, kể cả nội tệ
và ngoại tệ. Kết quả này tạo tiền đề cho việc thực hiện giai đoạn tiếp theo của chương trình.
Có thể nói Ngân hàng Nhà nước đã kịp thời can thiệp xử lý những ngân hàng có nguy cơ sụp
đổ lớn nhất, đã thành công và đã loại bỏ được tác động xấu lan truyền của nó đến toàn hệ thống.
Một số ngân hàng khó khăn khác cũng được Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ thanh khoản, và tạo
điều kiện cho việc mua lại hoặc sáp nhập theo nguyên tắc thị trường. Bằng cách này, việc xử lý
các ngân hàng yếu đỡ tốn kém hơn, đồng thời cùng tận dụng được lực lượng thị trường để giải
quyết.
22
- Giai đoạn 2: lành mạnh tài chính thông qua xử lý nợ xấu
Lành mạnh hóa tài chính tập trung xử lý nợ xấu đã được khởi động bằng một loạt các quy
định của Ngân hàng Nhà nước tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại tái cơ cấu lại nợ, như
giãn nợ, giảm lãi suất, đẩy mạnh thủ tục pháp lý để xử lý nợ Ngân hàng Nhà nước cũng trình
Chính phủ để Chính phủ trình Quốc hội cho phép miễn giảm một số loại thuế, phí đối với các
ngân hàng được xử lý mua, bán, sát nhập. Đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước đã trình Chính phủ Đề
án thành lập công ty mua bán nợ tập trung
Giải pháp cho vấn đề nợ xấu:
- Thứ nhất, Các ngân hàng chủ động tăng mức trích lập dự phòng các khoản nợ xấu, chấp
nhận giảm lợi nhuận hoặc thua lỗ. Việc làm này, theo VAFI, sẽ giúp ngân hàng thương mại
nhanh chóng bù đắp tổn thất, giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp. Đồng thời, có thể giảm quỹ
lương nhưng làm tăng khả năng tài chính nội tại của ngân hàng
- Thứ 2, Nhà nước cần chứng khoán hóa các khoản nợ khó đòi theo 3 phương pháp. Nếu
doanh nghiệp có lịch sử quản trị kinh doanh tốt, đang gặp khó khăn về nghĩa vụ trả nợ gốc hoặc
do các dự án đầu tư đang triển khai chưa đi vào hoạt động… có thể chuyển một phần nợ gốc
thành trái phiếu trung hạn. Điều này nhằm hỗ trợ thanh khoản và giúp doanh nghiệp tồn tại, phát
triển.
Việt Nam, hiện tượng trên phát triển là do sự giám sát của các cơ quan tài chính quá yếu. Vấn đề
chính là đã không có 1 tổ chức giám sát tài chính hợp nhất để giám sát các hoạt động tài chính
ngân hàng.
Giám sát các hoạt động ngân hàng phải thuộc về 1 cơ quan độc lập. Dịch vụ ngân hàng ngày
càng phức tạp, việc giám sát kiểm ra đòi hỏi cần các cán bộ có năng lực rất cao. Những chuyên
gia đó có giá rất đắt. Nếu cơ quan giám sát là cơ quan hành chính, được trả theo bảng lương công
chức sẽ không thu hút được người tài và kết cục là nhân viên đó dễ bị các ngân hàng "mua
chuộc".
Việt Nam cần phải xem xét lại hệ thống giám sát tiền tệ và tìm ra những lỗ hổng, bịt kín nó lại có
như vậy mới đảm bảo cho hoạt động ngân hàng lành mạnh.
- Giai đoạn 3: tái cơ cấu tổ chức, hoạt động và quản trị hệ thống ngân hàng.
Các chương trình tái cơ cấu cũng đã được Ngân hàng Nhà nước chuẩn bị, bằng việc chuẩn bị
ban hành một số quy định sửa đổi quyết định 493 về phân loại tài sản, trích lập và sử dụng dự
phòng rủi ro, các quyết định về chỉ tiêu an toàn hệ thống, về công khai minh bạch tài chính, về
chuẩn mực kế toán và báo cáo tài chính Nếu các thao tác pháp lý thuận lợi thì năm 2013 sẽ là
năm trọng tâm của chương trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và có thể kết thúc vào năm 2015.
Kinh nghiệm quốc tế: Một số hình thức tái cấu trúc đối với các tổ chức tài chính yếu kém
Đóng cửa Nhà nước mua Sát nhập
Indonesia 64 ngân hàng
(18%)
12 NHTM
(20%)
4 trong số 7
ngân hàng nhà
nước sáp nhập
thành 1 ngân hàng
(54%)
korea 5 NHTM, 17
ngân hàng bán
buôn (merchant
15%), 12
Công ty tài
chính (2.2%)
5 NHTM và 13
công ty tài chính
được sáp nhập
thành 3 ngân hàng
(20%)
Kết luận
• Phương diện vĩ mô:
- Vấn đề mục tiêu tăng trưởng kinh tế cũng cần phải được “cơ cấu lại” theo hướng mới là không
nên đặt ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao bằng mọi giá mà thay vào đó là một mức tăng trưởng
hợp lý, bền vững. Khi đó áp lực tăng trưởng kinh tế không đè nặng lên hệ thống ngân hàng, làm
cho khu vực này dễ tổn thương và kém hiệu quả. Một số cơ cấu vĩ mô khác cũng cần được cơ
cấu lại để đảm bảo phát triển và tăng trưởng bền vững như cơ cấu xuất nhập khẩu, cơ cấu ngành
sản xuất, cơ cấu đầu tư, cơ cấu ngân sách…
- Cần phải cơ cấu lại hệ thống luật pháp tài chính, ngân hàng. Hiện Luật các tổ chức tín dụng,
Luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các quy định khác đang được xem xét sửa đổi một cách
cơ bản. Việc cơ cấu lại NHNN cũng nên được đặt ra theo lộ trình sửa đổi Luật NHNN, để đảm
bảo cơ quan này hoạt động theo đúng chức năng của một ngân hàng trung ương hiện đại. Việc
sửa đổi Luật các tổ chức tín dụng cần đưa vấn đề cải cách quản trị vào một cách tương ứng nhằm
cải cách, chuyển đổi mô hình quản trị tại các NHTM cổ phần theo mô hình quản trị hiên đại, phù
hợp với tiến trình hội nhập quốc tế.
- Cần tăng cường quản trị, quản lý đối với cả hệ thống ngân hàng trên phương diện vĩ mô và vi
mô. Đến nay, vốn tự có của các NHTM đã được cải thiện đáng kể (hầu hết các NHTM có tỷ lệ an
toàn vốn đạt và vượt 8%). Tuy nhiên vấn đề quản trị và quản lý đã và đang đặt ra yêu cầu cơ cấu
lại. Vấn đề quản trị cần được cải thiện để đảm bảo các NHTM cổ phần hoạt động theo đúng
nguyên tắc của một công ty cổ phần và công ty đại chúng: chế độ công bố thông tin, báo cáo tài
chính; quyền của các cổ đông nhỏ lẻ; vấn đề chuyển đổi NHTMNN sau cổ phần hóa sang công
ty cổ phần thực sự… Về mặt quản lý, cải thiện quản lý rủi ro thanh khoản (như hệ thống ALCO)