Tiểu luận
Quan điểm của sinh viên về
cuộc sống độc thân
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
I.Lí do chọn đề tài
Người ta thường nói một xã hội càng phát triển, cuộc sống càng hiện đại thì
kéo theo đó con người cũng có những xu hướng những cái nhìn và suy nghĩ ngày càng
khác biệt về nhiều vấn đề khác nhau và đặc biệt là vấn đề giới tính, tình yêu, hôn
nhân, gia đình. Có thể là những cái nhìn rộng mở, khách quan, những quan điểm, nhận
thức mới mẻ hay là chạy theo những “mốt mới” những trào lưu, xu hướng đang diễn
ra trong xã hội. Một trong những khía cạnh đó là trào lưu sống độc thân của giới trẻ
hiện nay. Trào lưu này đang diễn ra rất mạnh mẽ trên thế giới và cũng đang dần du
nhập vào Việt Nam.
Trước đây chúng ta thấy rằng cuộc sống độc thân hầu như chỉ dành cho những người
tu hành, vì họ là những người có lý tưởng cao đẹp, sống với niềm vui và đức tin vào
Đạo mà họ đang theo. Ngày nay khi kinh tế phát triển nhiều người trong độ tuổi thanh
niên và trung niên đã chọn lối sống độc thân và xu hướng chọn lựa lối sống này ngày
càng cao trong giới trẻ đặc biệt là giới nữ. Nhất là ở các nước phát triển và ở các nước
đang phát triển, chủ nghĩa độc thân đang thực sự lên ngôi, nhận thức của họ về lập
trình của tạo hóa “sinh ra – lập gia đình – có con” đã có nhiều thay đổi. Rất nhiều
người đã chọn độc thân là cuộc sống cho mình, có rất nhiều lý do để họ không lập gia
đình mà chọn cuộc sống độc thân và có thể họ thấy bằng lòng với cuộc sống đó hay là
họ chỉ đang chạy theo những trào lưu của thời đại.
Thống kê mới nhất tại Mỹ cho thấy trên dưới 50% phụ nữ và đàn ông nước này không
lập gia đình, Cục điều tra dân số Mỹ thực hiện tháng 6/2006, tỉ lệ nam giới lập gia
đình là 55% - giảm 13,3% so với năm 1960 là 69,3%, tỉ lệ này ở phụ nữ là 51,1% -
giảm 14,8% so với năm 1960 là 65,9%.
Trong khoảng 40 năm, số người độc thân ở Pháp đã tăng gấp hơn hai lần, từ 6,1% dân
số trong năm 1962 tăng lên đến 14% dân số trong năm 2004, hiện ở Pháp có 8,3 triệu
người độc thân. Những kết quả trên cho thấy cuộc sống độc thân đang từng ngày phát
tượng, trào lưu mới.
- Đối với bản thân: trau dồi những kiến thức và sự hiểu biết cho mình
- Đối với bộ môn: giúp thầy cô và các bạn có những hiểu biết về đời sống độc
thân. Hiểu rõ về thái độ, nhận thức về sống độc thân của giới trẻ, cụ thể là sinh
viên.
III. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để tiến hành đề tài này em sẽ thực hiện các bước sau:
- Tìm hiểu những quan tâm, hiểu biết của sinh viên ĐH Văn Hiến về đời sống
độc thân
- Tìm hiểu, thái độ, nhận thức, cách lựa chọn đời sống độc thân của sinh viên
ĐH Văn Hiến.
- Rút ra những kết luận sau khi đã nghiên cứu, đưa ra những kiến nghị.
IV. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu trong đề tài này là 150 sinh viên trường ĐH DL Văn
Hiến ở thành phố Hồ Chí Minh
- Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là thái độ, nhận thức của sinh viên ĐH
DL Văn Hiến về đời sống độc thân.
V. Giả thuyết nghiên cứu
- Cuộc sống hiện đại, sinh viên sẽ tiếp cận những thông tin một cách nhanh
chóng, do vậy sẽ nhận thức và hiểu biết nhiều về đời sống độc thân.
- Kinh tế phát triển kèm theo nhiều trào lưu, xu hướng mới, dễ tác động vào giới
sinh viên, do vậy khi trào lưu sống độc thân xuất hiện, sinh viên sẽ là thành
phần hưởng ứng đông đảo.
VI. Giới hạn đề tài
Về nội dung:
- Chỉ nghiên cứu nhận thức, thái độ của sinh viên đối với đời sống độc thân như
thực trạng, nguyên nhân, hậu quả.
- Chỉ nghiên cứu sinh viên trong trường ĐH DL Văn Hiến ở Tp HCM
- Trên cơ sở rút ra những kết luận và đưa ra kiến nghị.
Về thời gian: 1 tháng, cụ thể như sau
cần phải loại bỏ cái sai, không khớp với hiện thực và liên tục đi từ bước này sang
bước khác để hoàn thiện hơn.
2. Thái độ
Theo từ điển tiếng Việt: Thái độ là tổng thể nói chung những biểu hiện bên ngoài
(bằng nét mặt cử chỉ, lời nói, hành động) của ý nghĩ, tình cảm với ai hoặc đối với sự
việc nào đó: có thái độ hống hách, hoặc niềm nở, hoặc không bằng lòng, hoặc giữ im
lặng. Là cách nghĩ cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn
đê một tình hình như xây dựng thái độ lao động mới, thái độ học tập đúng đắn, thái độ
hoài nghi thiếu tin tưởng.
Theo tâm lý học xã hội: Thái độ là sự sẵn sang ổn định của cá nhân để phản ứng với
một tình huống hay một phức thể tình huống, thái độ vốn có xu hướng rõ rệt hình
thành quy luật nhất quán phương thức xử thế của mỗi cá nhân.
Lênin định nghĩa: Thái độ là một bộ phận của lĩnh vực tình cảm phản ánh quan hệ của
cá nhân với hiện thực. Nó được quyết định bởi thế giới quan của cá nhân cho nên
cũng phản ánh tồn tại xã hội, chịu ảnh hưởng bởi ý thức giai cấp, của tâm lý xã hội,
của dư luận xã hội và tập thể xã hội. Nó thường không phải là những đáp ứng được
biểu lộ một cách rõ rang hay trực tiếp mà là những ý nghĩ đang chuển hóa thành hành
động.
3. Mối tương quan giữa nhận thức và thái độ
Nhận thức và thái độ đều phản ánh hiện thực khách quan cơ bản nhất của hiện thực xã
hội và mang tính chủ thể sâu sắc. Mặc dù vậy hai quá trình cũng có những nét riêng
biệt: nhận thức thì phản ánh những thuộc tính và các mối quan hệ của bản thân thế
giới, còn thái độ thì thể hiện mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng với nhu cầu động
cơ của con người. Nhận thức và thái độ có quan hệ gắn bó với nhau, hai quá trình tâm
lý cơ bản này tạo nên cấu trúc của hiện tượng ý thức.
Thái độ chính là một phần trong biểu hiện tình cảm, mà nhận thức và tình cảm có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhận thức là cơ sở của tình cảm, tình cảm là nguồn động
lực mạnh mẽ kích thích con người tìm tòi chân lý. Tình cảm là thái độ thể hiện sự
rung cảm cảu con người đối với sự vật hiện tượng có lien quan đến nhu cầu cảu họ. Vì
vậy nhận thức có mối liên hệ với thái độ.
bị lập gia đình và có cuộc sống riêng.
+ Sinh viên là lớp thanh niên có trí tuệ, tiềm lực, sức khỏe, năng lực và thể lực, luôn
hướng về những ước mơ hoài bão, những giá trị tốt đẹp của cuộc sống, họ là những
người nhạy cảm với cái mới, cái chân thiện mỹ hướng về lý tưởng.
+ Tình yêu và khát vọng là một đặc điểm đặc trưng của sinh viên. Nhiều thanh niên,
sinh viên coi trọng tình yêu đôi lứa như tín ngưỡng cuộc đời họ, vì tình yêu đôi lứa là
nhu cầu khát vọng về sự chinh phục và hy sinh, vừa có tính hiến dâng vừa là sự chiếm
hữu. Ở thanh niên, sinh viên có sự lôi cuốn nghiêm túc, một tình yêu chân thành với
những rung cảm sâu sắc. Sự dậy thì giới tính tạo ra sắc thái ái tình mạnh mẽ, nhu cầu
giao tiếp nhân cách sâu sắc và sự hài hòa với người mình yêu thường gần với hình
mẫu về “cái tôi’ hơn là gần với hình mẫu người thật.
+ Xu hướng về các kết luận hấp tấp, vội vàng là điểm hạn chế trong bước trưởng
thành của thanh niên, sinh viên, do sớm mong muốn khẳng định mình song lại thiếu
kinh nghiệm trong cuộc sống.
+ Tự trọng và chức năng của tự trọng: biểu hiện tính cách của tuổi trẻ, đó là một đặc
tính đẹp của thanh niên, sinh viên.Thanh niên, sinh viên nghiêng về phía đòi hỏi
không thực tế và thổi phồng bản thân, họ đáng giá năng lực và vị trí bản thân họ trong
tập thể. Sự tự tin không có cơ sở làm cho người khác bất an gây ra xung đột và va
chạm các nhân cách.
+ Độ nhạy cảm và lòng nhiệt tình trong cuộc sống và tinh thần tập thể cao, thanh niên
sinh viên nỗ lực để được người khác chấp nhận.
+ Tính lãng mạn làm thanh niên, sinh viên sôi nổi và luôn vui vẻ hoạt bát, nhưng rất
khó thoát ra khỏi tính phiến diện, không nhẫn lại, dễ dàng bỏ cuộc.
+ Thanh niên sinh viên khát khao tự khám phá và thường đối chiếu cảm xúc lý tưởng,
ước mơ của mình với người khác. Thanh niên chiếm vị trí trung gian giữa trẻ con và
người lớn. Vị trí của trẻ em đặc trưng là sự phụ thuộc vào người lớn và cũng xuất hiện
nhiều hơn vai trò của người lớn nhờ sự lớn dần của tính độc lập và tinh thần trách
nhiệm. Tính không nhất quán của vị trí và các yêu cầu đối với tuổi thanh niên đã tạo
ra nét tâm lý đặc trưng của lứa tuổi này.
5. Cuôc sống độc thân
trong khi nam giới độc thân lại sống nhiều hơn ở thành thị. Đa số người độc thân
không sống một mình mà sống cùng các thành viên trong gia đình (91,5%) và họ cũng
có vai trò quan trọng trong các hộ gia đình bằng việc là người đóng góp chính thứ
nhất hoặc thứ hai vào thu nhập của hộ gia đình.So với nhóm người không độc thân, tỷ
lệ mù chữ của những người độc thân cao hơn (tỷ lệ này là 16,4% so với 10,2% của
nhóm không độc thân).
+ Gien của người thích sống độc thân
Theo thông tin của các nhà khoa học Mỹ, trong các tế bào đề kháng của người sống cô
đơn có vai trò tích cực của tập hợp gien hơi khác người thích sống có đôi. Trong công
trình nghiên cứu mới nhất của mình, các nhà khoa học thuộc Đại học California ở Los
Angeles và Đại hoc Chicago khẳng định rằng, người thích cuộc sống độc thân có tới
209 gien thuộc các tế bào đề kháng khác hẳn số đông về phương diện chức năng hoạt
động. Cụ thể, có tới 78 gien có đặc điểm tích cực thái quá, chúng chủ yếu tham gia
hoạt hóa hệ đề kháng và điều chỉnh các quá trình viêm nhiễm, tức tuyến phòng thủ
đầu tiên trước các bệnh lây nhiễm của cơ thể. Có 131 gien điều chỉnh hoạt động của
hệ miễn dịch không đủ tiêu chuẩn tích cực. Trong đó có những gien tham gia vào
phản ứng của hệ đề kháng chống lây nhiễm virus và sản xuất kháng nguyên. Những
khác biệt giữa những cá nhân được nghiên cứu không phụ thuộc vào những nhân tố
khác có tác động đến tính tích cực của gien chúng ta như trạng thái sức khỏe chung,
tuổi tác, cân nặng cơ thể hay việc sử dụng thuốc. Không phụ thuộc thậm chí vào mối
quan hệ bạn bè khách quan được đánh giá cao của đối tượng cụ thể.
+ Hậu quả của sống độc thân: Một khi ta chọn hai chữ “độc thân” để gắn kết cuộc
đời còn lại thì ta còn nhiều điều để lưu tâm, suy nghĩ về chữ hiếu với đấng sinh thành,
suy nghĩ về nghĩ vụ của một người công dân của xã hội, suy nghĩ về trách nhiệm của
người chồng người cha, người mẹ người vợ, suy nghĩ về đoạn kết của tình đời là lẻ
loi, là cô đơn, là bất hạnh, là điều tiếng.
-Sức khỏe: Theo báo cáo mới đây của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), phụ nữ độc
thân, đặc biệt là người trên 40 tuổi, có nhiều nguy cơ mắc bệnh tâm thần, chủ yếu là
các thể hoang tưởng, trầm cảm, mất ngủ. Họ rất dễ cáu gắt, nóng giận với những
người xung quanh, sống khép kín, khó hòa đồng và thường nghĩ rằng mình giỏi hơn
I. Nhận thức của sinh viên về đời sống độc thân
1.Khái niệm về cuộc sống độc thân theo nhận thức của sinh viên ĐH Văn Hiến
Bảng 1:
ST
T
Cuộc sống độc thân là cuộc sống? Tần Số Tỷ Lệ(%)
1 Sống một mình 68 45,3%
2 Không hôn nhân, gia đình, không có con 63 42%
3 Không tình yêu 19 12,7%
Tổng 150 100%
Qua kết quả bảng 1 ta thấy:
Sinh viên có khái niệm về cuộc sống độc thân rất khác nhau, khái niệm sống độc thân
là “Sống một mình” chiếm tỷ lệ cao nhất (45,3%) so với các sự lựa chọn khác. Điều
này cho thấy họ lựa chọn khái niệm về cuộc sống độc thân như là đặc trưng của 2 từ
“độc thân” tức là “một mình”, chứng tỏ họ suy nghĩ một cách thụ động đơn giản, họ
không quan tâm đến câu hỏi về “cuộc sống độc thân” mà cứ nghĩ là mình đang được
hỏi “độc thân là gì”.
Một ý kiến cũng khá đông thì lại cho rằng cuộc sống độc thân tức là “Không hôn
nhân, gia đình, không có con” chiếm tỷ lệ thứ 2 (42%) trong các sự chọn lựa, tỷ lệ này
cũng tương đương nhiều với sự chọn lựa đầu tiên, chỉ ít hơn 2,7%. Chứng tỏ số sinh
viên quan tâm đến vấn đề này tương đối nhiều, họ đã có suy nghĩ sâu hơn về cuộc
sống độc thân, họ nghĩ về những người theo chủ nghĩa này là những người rời xa quy
luật của cuộc sống là “ sinh ra – lập gia đình – có con” mà theo một cuộc sống khác
đối lập với quy luật bình thường của mỗi con người.
Chiếm tỷ lệ ít nhất (19,7%) là ý kiến, cuộc sống độc thân là cuộc sống “không tình
yêu” họ thực sự là những người quan tâm đến vấn đề này, mặc dù rất ít nhưng họ đã
thật sự có suy nghĩ và nói lên suy nghĩ của mình, họ nghĩ rằng những người chon cuộc
sống độc thân là những người không có cuộc sống tình yêu, tức là tránh xa hoàn toàn
những người khác giới, sống cuộc sống cô đơn một mình.
2. Nhận thức của Sinh viên về đối tượng chọn cuộc sống độc thân
STT Nội Dung Tần Số Tỷ Lệ(%)
1 Không tìm được người bạn đời phù hợp với
mình
35 23,3%
2 Đã từng gặp thất bại, sự cố trong tình yêu, hôn
nhân
52 34,7%
3 Sợ mất tự do, sợ bị cản trở sự nghiệp, sợ khổ 47 31,3%
4 Do hoàn cảnh cá nhân, hoàn cảnh gia đình 16 10,7%
Tổng 150 100
Qua kết quả thống kê ở bảng 3 cho thấy:
Có đến 34,7% sinh viên cho rằng nguyên nhân dẫn tới một số người chọn cuốc sống
độc thân là do “Đã từng gặp thất bại, sự cố trong tình yêu, hôn nhân” đây là ý kiến
chiếm tỷ lệ cao nhất. Nó cho thấy sinh viên có suy nghĩ những người chọn cuộc sống
độc thân đã từng có giai đoạn họ có cuộc sống gia đình, được yêu thương nhưng lại bị
đổ vỡ khiến họ có những thành kiến, mất niềm tin vào tình yêu vào cuộc sống hôn
nhân gia đình mà chọn cuộc sống độc thân là cuộc sống của mình.
Nguyên nhân tiếp theo là “Sợ mất tự do, sợ bị cản trở sự nghiệp, sợ khổ” chiếm 31,3%
tỷ lệ này tương đối cao, sinh viên cho rằng những người chọn cuộc sống độc thân là
do họ không muốn bị ràng buộc, thích tự do, là những người đặt sự nghiệp lên hàng
đầu. Đối vơi phụ nữ kết hôn đồng nghĩa với trách nhiệm và nghĩa vụ nên một số người
sợ khổ mà không chọn cuộc sống gia đình.
Một nguyên nhân khác là “Không tìm được người bạn đời phù hợp với mình” chiếm
23,3%. Có thể một số người đặt ra yêu cầu quá cao cho người bạn đời của mình và họ
cố gắng tìm kiếm mà không có người phù hợp do đó họ chọn cuốc sống độc thân.
Cũng có thể một số người mặc cảm tự ti, họ cũng muốn tìm những người bạn đời
tương thích với mình nhưng không có nên đành chọn cuộc sống độc thân.
Số còn lại (10,7%) chọn nguyên nhân dẫn đến một số người chọn cuộc sống độc thân
là do “hoàn cảnh cá nhân, gia đình”. Theo nhận thức của sinh viên về đối tượng sống
độc thân ta thấy sinh viên nghĩ theo hướng những người do hoàn cảnh cá nhân mà
Qua kết quả thống kê ở bảng 5 cho thấy :
Khi được hỏi về cuộc sống độc thân, và sinh viên có thái độ như thế nào về vấn đề này
thì theo kết quả ở bảng trên ta thấy hơn một nửa sinh viên (55,3%) đều trả lời “Không
quan tâm” cho thấy sinh viên có biết tới cuộc sống độc thân nhưng bản thân họ không
mấy quan tâm đến vấn đề này. Có thể hiện giờ họ đang theo đuổi ước mơ hoài bão sự
nghiệp cho nên họ chưa tính tới việc lựa chọn cuộc sống gia đình cho chính mình.
Số sinh viên “phản đối” cuộc sống độc thân chiếm 28% chứng tỏ họ có sự quan tâm
đến vấn đề này, thấy được những mặt tiêu cực của cuộc sống độc thân do vậy mà họ
có thái độ phản đối không đồng tình với trào lưu sống độc thân.
Ngoài ra số sinh viên “ủng hộ” cuộc sống độc thân là 16,7% chiếm tỷ lệ rất ít. Những
sinh viên này có thể bản thân họ thích cuộc sống độc thân hoặc đơn giản là họ luôn là
người ủng hộ trào lưu mới một cách thụ động.
III. Xu hướng chọn cuộc sống độc thân của sinh viên.
Bảng 6 :
STT Bạn có muốn sống độc thân? Tần Số Tỷ Lệ (%)
1 Có 44 29,3%
2 Không 50 33,3%
3 Phân vân 56 37,3%
Tổng 150 100
Qua kết quả thống kê ở bảng 6 cho thấy :
Số lượng sinh viên “phân vân” khi chọn cuộc sống độc thân chiếm tỷ lệ nhiều nhất
(37,3%) chứng tỏ sinh viên vẫn còn đang do dự, bản thân họ không có sự hiểu biết
đầy đủ về xu hướng chọn lựa cuộc sống độc thân, họ chưa nghĩ tới cuộc sống gia đình
mà còn đang hoạt động học tập, vì đây là giai đoạn quan trọng của sinh viên quyết
định đến tương lai của họ sau này, do vậy mà điều họ quan tâm là những vấn đề về
nghề nghiệp, học tập.
Sinh viên không chọn cuộc sống độc thân chiếm 33,3%, đây cũng là tỷ lệ tương đối
lớn chỉ ít hơn số lượng sinh viên phân vân khi chọn cuộc sống độc thân 4%. Có thể họ
đã có những định hướng cho cuộc đời của mình, họ yêu cuộc sống gia đình không
chịu được cuộc sống cô đơn, do vậy mà họ không thích sống độc thân.
hút được sự chú ý và ham hiểu biết của sinh viên do vậy mà đa số sinh viên không có
những hiểu biết và nhận thức chính xác về cuộc sống độc thân.
2.Về mặt thái độ và xu hướng
Từ nhận thức của sinh viên về đời sống độc thân chưa có hiểu biết hoàn thiện, đầy đủ
do đó sinh viên đa số có thái độ thờ ơ không quan tâm đến trào lưu, xu hướng sống
độc thân. Giai đoạn này sinh viên chủ yếu tập chung vào việc học tập và định hướng
sự nghiệp do vậy mà sinh viên ít quan tâm đến những trào lưu xu hướng trong xã hội.
Do vậy mà giả thuyết đề tài chưa đúng vì tùy vào từng vấn đề có thu hút sự quan tâm
của sinh viên hay không thì họ mới có thái độ quan tâm trực về vấn đề đó. Vì không
có nhận thức chính xác về cuộc sống độc thân do vậy mà sinh viên không đưa ra thái
độ ủng hộ hay phản đối.
Từ nhận thức và thái độ trên của sinh viên về cuộc sống độc thân do vậy mà sinh viên
đều phân vân trước sự chọn lựa cuộc sống độc thân cho mình.Từ giả thuyết đề tài và
kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù kinh tế phát triển kèm theo nhiều trào lưu, xu
hướng mới, dễ tác động vào giới sinh viên, nhưng khi trào lưu sống độc thân xuất
hiện, sinh viên lại không phải là thành phần hưởng ứng đông đảo.
II.Kiến nghị
Xã hội nên có những biện pháp kìm hãm, giải quyết, quản lý những trào lưu xu hướng
xấu đang dần dần xâm nhập vào Việt Nam. Cần tuyên truyền cho mọi người biết về
tác hại và tác động xấu của những trào lưu đang diễn ra trong xã hội để mọi người có
sự hiểu biết để phòng tránh, tránh xa những xu hướng không tốt đó.
Nhà trường cần thường xuyên tổ chức những buổi thảo luận về các chuyên đề về các
vấn đề, xu hướng trong xã hội cho thanh niên, sinh viên nhằm giúp sinh viên có cơ hội
giao lưu, tiếp xúc, học hỏi để tăng sự nhận thức và kiến thức của mình về các vấn đề
đang xảy ra trong xã hội để có thái độ xử lý đúng đắn khi gặp phải những vấn đề đó.
Đối với các bạn sinh viên không nên chạy theo những trào lưu xu hướng mới của thời
đại, cần có sự chọn lựa những điều bổ ích, tiến bộ để học tập, loại bỏ những điều
không tốt, ảnh hưởng đến bản thân, gia đình, xã hội. Ngoài ra sinh viên còn là lực
lượng là thành phần vô cùng quan trọng của xã hội, là nguồn nhân lực, người chủ
tương lai của đất nước. sự phát triển của sinh viên có tầm ảnh hưởng quan trọng đối
D. Gặp những khó khăn khi về già.
7. Theo bạn những người chọn cuộc sống độc thân đa phần là?
A. Giới nghệ sĩ, người nổi tiếng.
B. Những người tri thức có học vấn cao.
C. Những người không có nhan sắc, địa vị, tiền tài.
D. Những người gặp vấn đề về giới tính.
8. Nguyên nhân nào là chủ yếu dẫn tới người ta chọn cuộc sống độc thân?
A. Không tìm được người bạn đời hoàn hảo như mong ước.
B. Đã từng gặp thất bại, sự cố trong tình yêu, hôn nhân.
C. Sợ mất tự do, sợ bị cản trở sự nghiệp, sợ khổ.
D. Do hoàn cảnh gia đình.
9. Bạn có muốn sống độc thân không?
A. Có C. Phân vân
B. Không
Cảm ơn bạn!
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.Tâm lý học phát triển