TIỂU LUẬN:
Quan điểm của Đảng ta về phát
triển kinh tế tư bản nhà nước và
kinh tế tập thể Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và phân tích quan điểm của Đảng ta về vị trí và vai
trò của kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tập thể mà nòng cốt là kinh tế hợp tác xã trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, khẳng định tính đúng đắn,
sáng tạo trong chủ trương tiếp tục đổi mới và phát triển các thành phần kinh tế này mà
Đảng ta đã đưa ra tại Đại hội X vừa qua.
1. Kinh tế tư bản nhà nước với tư cách một thành phần kinh tế “bao gồm các hình
thức hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân trong nước và hợp
tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản nước ngoài”, “có vai trò quan trọng
trong việc động viên tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý…
của các nhà tư bản vì lợi ích của bản thân họ, cũng như của công cuộc xây dựng và
phát triển đất nước”(1). Để kinh tế tư bản nhà nước thực hiện được vai trò quan trọng
đó, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương áp dụng nhiều phương thức góp vốn kinh
doanh giữa Nhà nước với các nhà kinh doanh tư nhân trong và ngoài nước nhằm “tạo
thế, tạo lực” cho các doanh nghiệp Việt Nam phát triển, tăng sức hợp tác và cạnh
thực hiện công cuộc xây dựng nền kinh tế quốc dân mà ở đó, kinh tế nhà nước giữ vai
trò chủ đạo và cùng kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng, vẫn chỉ là những
bước quá độ, những nấc thang trung gian để phát triển lực lượng sản xuất, đưa nước ta
quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Điều đó được quy định bởi lẽ, cho đến nay, có thể nói, Việt Nam mới chỉ hoàn thành
về cơ bản chặng đầu của thời kỳ quá độ và nhìn chung, vẫn đang trong tình trạng kém
phát triển; thêm vào đó, do hậu quả của chiến tranh, do thực hiện cơ chế quản lý tập
trung, bao cấp kéo dài, chúng ta chưa có được “phòng chờ” để đi vào chủ nghĩa xã hội
và do vậy, tất yếu phải tự mình tạo ra “phòng chờ” đó, tự mình bắc “những chiếc cầu
nhỏ” đi xuyên qua kinh tế tư bản nhà nước. Phát triển kinh tế tư bản nhà nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước vẫn trong tình trạng kém phát triển,
kinh tế còn lạc hậu so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới như ở Việt Nam
hiện nay không chỉ là con đường, là phương tiện để phát triển nhanh lực lượng sản
xuất, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mà còn nhằm đưa Việt Nam
nhanh chóng thoát khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 cơ
bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Nhằm mục tiêu đó và trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, chúng ta cần “phát triển đa dạng kinh tế tư bản nhà nước dưới các hình
thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong và
ngoài nước”, “tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý” để nó được
“phát triển trên những định hướng ưu tiên của nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài”;
đồng thời “chú trọng phát triển các hình thức tổ chức kinh doanh đan xen, hỗn hợp
nhiều hình thức sở hữu”(3), giữa sở hữu nhà nước với sở hữu tập thể và tư nhân, dưới
hình thức vốn và đóng góp cổ phần. Theo đó, các chủ thể kinh tế tham gia vào kinh tế
tư bản nhà nước là các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài
nước, các doanh nghiệp tập thể và người lao động. Bởi vậy, có thể nói, kinh tế tư bản
nhà nước là cái đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn, hiện đại hoá công nghệ
và nâng cao năng lực quản lý cho các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư tư nhân. Với
vai trò này, kinh tế tư bản nhà nước ở nước ta hiện nay có thể được coi là yếu tố đóng
tổng công ty lớn, đa sở hữu, tạo sức mạnh cho đất nước trong hội nhập kinh tế quốc
tế”; đồng thời “thu hút ngày càng nhiều tập đoàn kinh tế lớn của các nước đến đầu tư,
kinh doanh” và “khuyến khích phát triển mạnh hình thức kinh tế đa sở hữu mà chủ
yếu là các doanh nghiệp cổ phần thông qua việc đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp
nhà nước và phát triển các doanh nghiệp cổ phần mới, để hình thức kinh tế này trở
thành phổ biến, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong nền kinh tế nước ta”(4).
Từ bối cảnh trong nước và quốc tế hiện thời, với xu hướng đa phương hoá, đa dạng
hoá quan hệ kinh tế, Việt Nam chúng ta hoàn toàn có đủ điều kiện và khả năng để phát
triển kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức phong phú và đa dạng. Sử dụng
kinh tế tư bản nhà nước với tư cách một thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa được cấu thành bởi các quan hệ kinh tế và hợp
đồng kinh tế giữa một bên là Nhà nước ta - đại biểu cho sở hữu toàn dân, cho lợi ích
toàn xã hội, với một bên là các nhà tư bản hoàn toàn có thể đem lại cho chúng ta khả
năng vừa sử dụng có hiệu quả sự đầu tư của tư bản nước ngoài, vừa giữ được độc lập,
tự chủ, thực hiện hợp tác bình đẳng, cùng có lợi trên cơ sở tôn trọng độc lập và chủ
quyền của nhau.
Nói tóm lại, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta cần phải “phát triển
đa dạng kinh tế tư bản nhà nước” với tư cách “những chiếc cầu nhỏ vững chắc” để
xuyên qua nó, đi lên chủ nghĩa xã hội. Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, nếu không hướng tư bản tư nhân đi theo con đường phát
triển kinh tế tư bản nhà nước, chẳng những chúng ta không hướng nó đi theo quỹ đạo
của chủ nghĩa xã hội, mà có khi còn làm cho nó tự phát đi chệch sang quỹ đạo của chủ
nghĩa tư bản. Tuy nhiên, cũng không vì thế mà tuyệt đối hoá vai trò của kinh tế tư bản
nhà nước, coi nó như là cứu cánh duy nhất của nền kinh tế quá độ. Tại Đại hội X, khi
một lần nữa khẳng định vai trò to lớn, ý nghĩa quan trọng của kinh tế tư bản nhà nước
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta cũng đồng thời
khẳng định: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để
Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy
các thành phần kinh tế cùng phát triển. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày
triển mạnh các loại hình kinh tế tập thể với những hình thức hợp tác đa dạng, tự
nguyện, đáp ứng nhu cầu của các thành viên, phù hợp với trình độ phát triển của các
ngành, nghề trên các địa bàn. Tiếp tục nghiên cứu xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu
mới trên cơ sở tổng kết các đơn vị làm tốt để tăng sức hấp dẫn, tạo động lực cho kinh
tế tập thể, nhất là đối với nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Đa dạng hoá hình thức sở
hữu trong kinh tế tập thể (có sở hữu pháp nhân, thể nhân). Phát triển các loại hình
doanh nghiệp trong hợp tác xã và các hình thức liên hiệp hợp tác xã. Có cơ chế hợp
tác xã phát huy quyền sử dụng tư liệu sản xuất chung tại cơ sở; tách bạch giữa quyền
này với quyền sở hữu của các xã viên. Khuyến khích huy động cổ phần và nguồn vốn
góp của xã viên để không ngừng tăng thêm vốn đầu tư phát triển hợp tác xã. Khuyến
khích tăng tài sản và quỹ không chia của hợp tác xã. Giải thể hoặc chuyển các hợp tác
xã chỉ còn là hình thức sang các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh phù hợp với
quy định của pháp luật”(8).
Để phát triển các hình thức hợp tác, liên kết giữa các thành phần kinh tế diễn ra một
cách thuận lợi, có hiệu quả, Đảng ta chủ trương thực hiện Luật hợp tác xã trong các
lĩnh vực, các khu vực sản xuất; vận động và giúp đỡ các tiểu thương, tiểu chủ tự
nguyện xây dựng các cơ sở kinh tế hợp tác đa dạng, từ thấp đến cao; thành lập, tổ
chức các hội nghề nghiệp, nghiệp đoàn trong những ngành nghề thích hợp; đồng thời
phát triển nhiều hình thức hợp tác, liên kết giữa kinh tế nhà nước với các thành phần
kinh tế khác trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và bảo đảm lợi ích hợp pháp của
mỗi chủ thể kinh tế.
Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, để nâng cao hiệu quả của sản xuất nông nghiệp, cũng như toàn bộ
nền kinh tế đất nước, bên cạnh việc khuyến khích phát triển các hợp tác xã kiểu mới,
chúng ta không thể không quan tâm đến những hình thức nhỏ của sản xuất nông
nghiệp, đến kinh tế trang trại nhỏ và vừa, kinh tế hộ gia đình mà chính sách khoán 10
trước đây không lâu là một ví dụ. Với chính sách đó, chúng ta đã cho phép kinh tế hộ
gia đình, kinh tế trang trại nhỏ phát triển và nhờ đó, sản xuất nông nghiệp trong những
năm qua đã có bước phát triển đáng kể. Nhờ nó mà quyền chủ động sản xuất, kinh
xuất, phát triển kinh tế; đồng thời cho thấy rõ việc sử dụng chúng là đặc trưng không
thể thiếu của cơ chế quản lý kinh tế mới mà chúng ta đang ra sức xây dựng. Bởi vậy,
hiện nay, vấn đề đặt ra với chúng ta là cần phải nhận thức đúng và vận dụng có hiệu
quả hơn nữa quy luật giá trị và quan hệ hàng – tiền trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước cần điều tiết những mối quan hệ đó để sao cho
không phải là thủ tiêu chúng, mà là phát triển chúng theo hướng mang lại hiệu quả
kinh tế cao. Thêm vào đó, khi sử dụng quy luật giá trị và quan hệ hàng – tiền, chúng ta
không chỉ phải tính đến những đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, mà còn phải tính đến trình độ phát triển của nền kinh tế này, đến vai trò
chủ đạo của kinh tế nhà nước, vị trí nền tảng của nó cùng với kinh tế tập thể và ý
nghĩa chiến lược của kinh tế tư bản nhà nước.r
(*) Phó giáo sư, tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII.Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.95.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X . Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.83.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX.Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.98, 99.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X.Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.230, 231.
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.83.
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.85 - 86, 236.
(7) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.86.
(8) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.235 - 236. VẤN ĐỀ VĂN HÓA VÀ CON NGƯỜI
TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA
hoá truyền thống của dân tộc ta được kết tinh và khẳng định trong cuộc đấu tranh
và lao động sản xuất để tồn tại, phát triển của nhân dân trong lịch sử dựng nước
và giữ nước. Có thể nói, văn hoá và con nguời Việt Nam là những nhân tố quan
trọng, góp phần hình thành nên truyền thống lịch sử trải dài hàng ngàn năm của
dân tộc. Trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân tố văn hoá và con người Việt Nam được phát
huy, tạo nên sức mạnh nhấn chìm bọn đế quốc xâm lược, giành và bảo vệ nền
độc lập dân tộc, thực hiện thống nhất Tổ quốc. Ngày nay, những nhân tố đó tiếp
tục đóng vai trò là động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
đưa đất nước ta phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu "dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
Như chúng ta đã biết, từ những thập niên 80, 90 của thế kỷ trước, thế giới đã xảy
ra biết bao biến động nhanh chóng cùng với sự bùng nổ của cách mạng khoa học
- công nghệ hiện đại và xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế. Hơn nữa,
văn hoá và con người cũng không phải là "nhất thành bất biến"; trái lại, các yếu
tố đó cũng vận động, biến đổi cùng sự phát triển của lịch sử. Do vậy, để khai
thác, phát huy sức mạnh của văn hoá và con người Việt Nam với tính cách những
nguồn lực nội sinh quan trọng của sự phát triển xã hội, trước hết cần có sự phân
tích, đánh giá đúng thực trạng của văn hoá và con người. Có thể nói, trong suốt
tiến trình xây dựng xã hội mới của chúng ta, nhất là từ khi đất nước bước vào
thời kỳ đổi mới, việc nghiên cứu các vấn đề văn hoá và con người Việt Nam luôn
được coi trọng. Trên thực tế, nhiều chương trình nghiên cứu cấp bộ và cấp nhà
nước, nhiều hội thảo khoa học xoay quanh các vấn đề văn hoá và con người Việt
Nam đã được tổ chức, triển khai nghiên cứu từ các góc độ khác nhau. Đặc biệt,
xây dựng văn hoá và con người luôn là một trong những nội dung quan trọng
trong văn kiện của các kỳ Đại hội và một số Hội nghị Trung ương của Đảng.
Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ năm (khoá VIII), Đảng ta đã có
sự đánh giá đúng đắn, khách quan về những thành tựu, những yếu kém của văn
hoá và con người Việt Nam trên nhiều phương diện, nhiều lĩnh vực hoạt động.
đạo và sự hình thành, phát triển các giá trị mới của văn hoá và con người đã
chứng minh sự kết hợp giữa truyền thống với hiện đại trong thời kỳ đổi mới và
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Thứ năm, trong công cuộc đổi mới, mô hình gia đình truyền thống đang có
những biến đổi lớn, phức tạp do sự tác động của kinh tế hàng hoá, cơ chế thị
trường, do những biến đổi của xã hội đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội… Tuy
vậy, những giá trị tinh thần, đạo lý của gia đình truyền thống vẫn được giữ vững,
có ảnh hưởng tích cực trong đời sống gia đình Việt Nam, vẫn là nhân tố quan
trọng đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm mạnh trên đây, chúng ta cũng cần phải nhận
diện một số yếu kém trong văn hoá và con người Việt Nam hiện nay. Điều này
được thể hiện ở chỗ:
- Phong cách sản xuất nhỏ biểu hiện trong thói quen, tập quán, lối sống và cách
ứng xử, nếp suy nghĩ, lề thói làm ăn của người Việt Nam vẫn đang là những
cản trở không nhỏ đối với sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
- Những mặt trái của kinh tế thị trường đang tác động tiêu cực tới sự phát triển
văn hoá và con người Việt Nam. Một trong những biểu hiện rõ nét của xu hướng
này là sự suy giảm về mặt đạo đức của không ít người, nhất là lớp trẻ, thậm chí
của cả một số cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất. Cùng với đó là sự xuất
hiện các yếu tố tiêu cực khác, như chủ nghĩa cục bộ, địa phương, lối sống thực
dụng chạy theo đồng tiền, đề cao quá mức tiện nghi vật chất, xa hoa, lãng phí; sự
phát triển chủ nghĩa cá nhân vị kỷ biểu hiện trong lối sống, trong cách ứng xử
giữa người với người. Những tiêu cực này đang ảnh hưởng đến ý thức tư tưởng,
đạo đức, lối sống của nhân dân ta. Vấn đề đặt ra ở đây chính là vấn đề quan hệ
con người trong nền kinh tế thị trường, là ý thức về trách nhiệm, bổn phận, nghĩa
vụ của cá nhân đối với những người thân trong gia đình, đối với cộng đồng và
toàn xã hội. Nếu không đặt vấn đề giáo dục truyền thống, nếu không chú trọng
giáo dục đạo đức, lối sống… một cách đúng mức cả trong gia đình, nhà trường
lẫn xã hội thì tình trạng suy thoái đạo đức chẳng những không sớm được ngăn
văn hoá cơ sở, những sản phẩm văn hoá đỉnh cao và những công trình văn hoá
lớn tiêu biểu cho giai đoạn phát triển công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
Về đời sống văn hoá cơ sở, trước hết cần tập trung phát huy tinh thần tự nguyện,
tính tự quản và năng lực làm chủ, sáng tạo của nhân dân trong đời sống văn hoá.
Đây là động lực lớn nhất, đồng thời là nguyên nhân có tính quyết định tạo nên
tính bền vững, chất lượng và hiệu quả của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hoá” hướng đến mục tiêu tạo nên môi trường văn hoá tốt đẹp,
lành mạnh, phong phú cho mỗi người và cả cộng đồng. Thứ hai, đa dạng hoá các
phương thức tổ chức phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hoá”. Thứ ba, khuyến khích việc sáng tạo những sản phẩm văn hoá có giá trị cao về tư
tưởng, nghệ thuật, có ảnh hưởng và tác động tích cực, sâu sắc đến đời sống tinh thần
của xã hội.
Văn hoá là của con người, chỉ có ở con người. Văn hoá, đối với một con người,
đó là tài và đức; đối với một quốc gia, đó là nền tảng dân trí, là trí tuệ, cốt cách
và bản lĩnh của dân tộc. Vai trò động lực của văn hoá được thực hiện thông qua
con người. Nhận thức sâu sắc vai trò của văn hoá cũng như mối quan hệ hữu cơ
giữa văn hoá và con người, các văn kiện của Đảng, như Nghị quyết Trung ương
lần thứ năm (khoá VIII), kết luận của Hội nghị Trung ương lần thứ chín (khoá
IX) và văn kiện Đại hội X, đều khẳng định sứ mệnh cao quý nhất của văn hoá
là góp phần trực tiếp xây dựng con người và nguồn nhân lực có chất lượng cao
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Hội nghị Trung ương lần thứ năm (khoá VIII) đã nhấn mạnh đến những phẩm
chất cơ bản của con người mới mà chúng ta cần xây dựng để tạo nên nguồn nhân
lực có chất lượng cao, phù hợp với những đòi hỏi khách quan của sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đó là những con người được phát triển toàn
diện, cả đức lẫn tài, cả thể lực lẫn trí tuệ, cả đạo đức, thẩm mỹ lẫn kỹ năng lao
động, ý chí và bản lĩnh trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tại Đại hội X, Đảng
ta coi nhiệm vụ của văn hoá là “xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con
người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ công
lành mạnh hoá xã hội. Đây là đòi hỏi bức xúc của toàn xã hội trong sự nghiệp
xây dựng con người theo hệ giá trị chân - thiện - mỹ.
- Ba là, bồi dưỡng các giá trị văn hoá trong thanh niên, học sinh, sinh viên là một
yêu cầu, nội dung được đặc biệt nhấn mạnh. Yêu cầu văn hoá trong việc xây
dựng thế hệ trẻ Việt Nam về nhân cách là một việc cực kỳ cần thiết, vừa có tính
cơ bản, chiến lược, vừa rất cấp bách. Chúng ta đều biết rõ rằng, sinh thời, Chủ
tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt quan tâm đến vấn đề bồi dưỡng thế hệ trẻ.
Bởi, với Người, thế hệ trẻ chính là tương lai của đất nước. Tại Đại hội X, Đảng ta
đã nhấn mạnh các giá trị lớn mà văn hoá phải chăm lo nuôi dưỡng cho thanh
niên, sinh viên, học sinh là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, vẻ đẹp đạo
đức và bản lĩnh văn hoá. Các giá trị đó mang ý nghĩa rất quan trọng đối với thế
hệ trẻ Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập, giao
lưu quốc tế.
Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ chín (khoá IX) đã
khẳng định quyết tâm triển khai trong thực tiễn giải pháp phát triển giáo dục -
đào tạo, khoa học và công nghệ, coi đó là quốc sách hàng đầu; đòi hỏi các cấp,
các ngành và toàn xã hội phải quán triệt sâu sắc hơn nữa ý nghĩa, vai trò động lực
của các yếu tố văn hoá, xã hội và con người đối với sự phát triển nhanh, bền
vững của đất nước. Một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay là nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện và chú trọng hiệu quả kinh tế - xã hội của giáo dục -
đào tạo. Nhiệm vụ của giáo dục và đào tạo trong những năm tới là nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạy và
học; thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”, chấn hưng nền giáo dục
Việt Nam. Muốn vậy, phải chuyển đổi mô hình giáo dục, đổi mới mạnh mẽ giáo
dục mầm non và giáo dục phổ thông; phải phát triển hệ thống giáo dục hướng
nghiệp và dạy nghề, đổi mới hệ thống giáo dục đại học và sau đại học; phải đảm
bảo đủ số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở tất cả các cấp học, bậc
học. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, phát huy tính tích cực,
sáng tạo của người học; thực hiện xã hội hóa giáo dục, đổi mới cơ chế quản lý
giáo dục; tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo. Sức sống của triết học Mác trong xã hội hiện đại
Nguyễn Thế Nghĩa (*)
Bản chất khoa học và cách mạng của triết học Mác được thể hiện ở: thứ nhất, thế giới
quan và phương pháp luận của triết học Mác là kim chỉ nam cho hoạt động nhận thức
và cải tạo xã hội; thứ hai, sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và thực tiễn là nguyên
tắc nền tảng của triết học Mác; thứ ba, triết học Mác là sự thống nhất giữa tính mở,
tính phát triển của hệ thống lý luận và tính ổn định của lập trường duy vật biện chứng
và những phương pháp luận cơ bản của nó. Đó là những giá trị vĩnh hằng của triết
học Mác. Những giá trị đó đã làm nên sức sống của triết học Mác trong xã hội hiện
đại, nhưng để giữ được sức sống ấy, bản thân triết học Mác cũng phải được đổi mới
trước những biến đổi của đời sống xã hội hiện đại.
Với sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, chủ nghĩa xã hội
đã lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
đang đứng trước những khó khăn và thử thách to lớn. Trước hiện thực đó, các nhà tư
tưởng và chính trị tư sản đã lớn tiếng tuyên bố về “sự cáo chung” của chủ nghĩa Mác -
Lênin, ngay cả những người hôm qua còn được coi là người mácxít thì nay, cũng công
kích và phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin. ở Việt Nam, trong mấy năm gần đây, cũng
đã xuất hiện một số bài viết bày tỏ quan điểm và thái độ tương tự.
Những người phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa ra những quan điểm khác nhau,
song khái quát lại, có 3 quan điểm chủ yếu:
- Thứ nhất, chủ nghĩa Mác là sản phẩm của nền văn minh cơ khí, nó chỉ thích hợp với
thế kỷ XIX chứ không phù hợp với thời đại ngày nay là thời đại khoa học – công
nghệ, thời đại toàn cầu hoá và văn minh tin học.
- Thứ hai, những sai lầm và thiếu sót trong các nước xã hội chủ nghĩa trước đây (nhất
là ở Liên Xô) là sản phẩm của chủ nghĩa Mác - Lênin. Sự sụp đổ của chế độ xã hội
công nghệ vật liệu mới, công nghệ Nanô,…) không chỉ đóng vai trò trọng yếu trong
nền sản xuất xã hội, mà còn tác động trực tiếp đến con người, làm biến đổi mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội. Có thể nói, trong thời đại ngày nay, khoa học, về thực chất,
đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp như dự báo của C.Mác cách đây một
thế kỷ rưỡi.
Theo dự báo của nhiều nhà khoa học hàng đầu thế giới, trong những thập niên tới,
khoa học tiếp tục phát triển mạnh mẽ và sẽ có những phát minh kỳ diệu, những ứng
dụng rộng rãi nhờ những biến đổi mang tính cách mạng trong 5 lĩnh vực lớn: thế giới
ảo (Cyber), công nghệ gen (Genomique), công nghệ phỏng sinh học (Bionique), công
nghệ Nanô (Nanotechnologie) và thế giới lượng tử (Quantique). Đặc biệt là, với sự
phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin (hiện nay, công nghệ mới cho phép một
con “chíp” gắn 200 triệu tế bào bán dẫn với công suất 1 tỷ phép tính/giây, đến năm
2010, có thể gắn 750 triệu tế bào bán dẫn /1 con “chíp” với công suất 10 tỷ phép
tính/giây), những phương tiện mới, như ngân hàng điện tử, tiền điện tử, thương mại
điện tử, dịch vụ điện tử… sẽ xuất hiện và ngày một trở nên phổ biến. Điều đó sẽ thúc
đẩy năng suất lao động tăng lên vượt bậc(1). Như vậy, có thể nói, sự phát triển như vũ
bão của khoa học và công nghệ càng chứng minh tính đúng đắn của phép biện chứng
duy vật, càng làm sâu sắc hơn và thể hiện một cách sinh động hơn tính vật chất và tính
biện chứng của thế giới; đồng thời, nó cũng đặt ra những cơ sở và điều kiện mới đòi
hỏi triết học Mác phải khái quát, phải được bổ sung và phát triển hơn nữa, như
Ph.Ăngghen đã nhận xét, mỗi khi có những phát minh lớn trong khoa học tự nhiên thì
chủ nghĩa duy vật sẽ không tránh khỏi phải thay đổi hình thức của mình.
Từ nửa sau thế kỷ XX trở lại đây, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã có bước phát triển mới
– từ chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước trong phạm vi quốc gia và khu vực sang
chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước trên phạm vi toàn cầu (chủ nghĩa tư bản toàn
cầu hoá). Chủ nghĩa tư bản hiện đại, do có sự điều chỉnh, cải cách nội bộ để thích nghi
với hoàn cảnh mới, do tận dụng được tối đa những thành tựu của cuộc cách mạng
khoa học - công nghệ hiện đại và do biết sử dụng chủ nghĩa tư bản toàn cầu hoá như
một công cụ điều tiết vĩ mô, vận hành nền kinh tế theo quy luật khách quan nên đã đạt
“xung đột” với những nguyên lý và quy luật của chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách
cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của nhận thức và cải tạo xã hội.
Trong xã hội hiện đại, sản xuất vật chất vẫn là nền tảng của đời sống xã hội. Nhân tố
quyết định trong lịch sử, xét đến cùng, vẫn là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống xã
hội. Nguồn gốc và động lực phát triển của toàn bộ đời sống xã hội, xét đến cùng, vẫn
là sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng
và kiến trúc thượng tầng, tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Ngoài ra, trong xã hội có giai
cấp thì đấu tranh giai cấp vẫn là một trong những động lực phát triển của xã hội. Sự
phát triển của xã hội từ hình thái kinh tế – xã hội này sang hình thái kinh tế – xã hội
khác được thực hiện thông qua các cuộc cách mạng xã hội (với những hình thức và
phương pháp cách mạng phong phú và thích hợp). Nói một cách ngắn gọn, quan điểm
của triết học Mác về hình thái kinh tế – xã hội, về giai cấp và đấu tranh giai cấp, về
cách mạng xã hội, về nhà nước, về con người,… vẫn là cơ sở khoa học cho việc xem
xét và giải quyết những vấn đề căn bản của xã hội hiện đại(3).
2. Sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và thực tiễn trong triết học Mác
Triết học Mác không chỉ là sự kế thừa những giá trị của các hệ thống triết học trước
đó, mà điều quan trọng là sự khái quát kinh nghiệm thực tiễn của loài người,nhất là
thực tiễn cách mạng. Chính C.Mác đã đưa phạm trù thực tiễn vào triết học và coi đó là
cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn khách quan của chân lý. Chính
vì vậy, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trở thành nguyên tắc nền tảng của triết
học Mác. Sự thống nhất này được thể hiện cả trong thời gian lẫn không gian.
Trong thời gian, tức là theo chiều dọc của lịch sử, triết học Mác luôn thể hiện mình
trong những giai đoạn lịch sử khác nhau của sự phát triển khoa học – công nghệ, thực
tiễn sản xuất, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế qua các cuộc cách mạng xã
hội… Trong các quá trình này, triết học Mác luôn giữ vai trò định hướng thế giới quan
và phương pháp luận cho hoạt động của con người; đồng thời được thực tiễn lịch sử
“phản biện”, kiểm nghiệm, chứng minh và làm phong phú thêm bằng chính “hơi thở” của
thời đại. Chính vì vậy, Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh rằng, lý luận của các ông (của C.Mác
và ông) không phải là giáo điều, mà là kim chỉ nam cho hành động.
vật biện chứng để xem xét, tiếp thu một cách có phê phán những giá trị của chúng để
mở rộng tầm nhìn, phát triển và hoàn thiện triết học Mác. Thứ ba, với tư cách phép
biện chứng duy vật, triết học Mác có khả năng tự đổi mới và phát triển. Sinh thời, cả
C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đều cho rằng, không có học thuyết nào đạt tới chân
lý tuyệt đích, cuối cùng và triết học Mác cũng không phải là ngoại lệ. Lập trường, thế
giới quan và phương pháp luận cơ bản của triết học Mác là kim chỉ nam cho hành
động, mở đường và chỉ dẫn cho con người tiếp tục nhận thức chân lý chứ không đi tới
chân lý tuyệt đích, cuối cùng.
Tính mở, tính phát triển của triết học Mác không mâu thuẫn mà thống nhất biện chứng
với tính ổn định của lập trường duy vật biện chứng và những phương pháp luận cơ
bản của nó. Đây cũng là một nguyên tắc của triết học Mác. Nó đấu tranh không khoan
nhượng với chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa học phiệt, chủ nghĩa cơ hội và mọi mưu
toan hòng lợi dụng sự biến đổi của hoàn cảnh để phủ nhận triết học Mác.
Từ những phân tích ở trên, có thể rút ra những kết luận sau: thứ nhất, thế giới đã, đang
và tiếp tục có những biến đổi to lớn và phức tạp. Nhưng, triết học Mác với tư cách thế
giới quan và phương pháp luận khoa học vẫn là triết học của thời đại ngày nay, vẫn là
kim chỉ nam cho hoạt động nhận thức và cải tạo xã hội (của công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của các lực lượng tiến bộ
đang đấu tranh vì một thế giới hoà bình, dân chủ, tiến bộ và phát triển bền vững). Thứ
hai, những quan điểm phủ nhận chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng (đã
nêu ở trên) là sai lầm đáng tiếc. Bởi lẽ, chủ nghĩa Mác không phải là sản phẩm của
riêng một nền văn minh nào, càng không phải là sản phẩm của nền văn minh cơ khí,
mà là tinh hoa trí tuệ của toàn nhân loại, là “hơi thở” của thời đại (cho đến nay nhân
loại vẫn chưa có học thuyết nào cao hơn và tốt hơn thay thế nó). Những sai lầm và
thiếu sót ở các nước xã hội chủ nghĩa và sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên
Xô và Đông Âu không phải là sản phẩm của triết học Mác, mà chính là sản phẩm của
sự kết hợp “hổ lốn” giữa các loại chủ nghĩa khác nhau (siêu hình, giáo điều, kinh
nghiệm, cơ hội, chủ quan, duy ý chí, quan liêu…) và có phần đóng góp không nhỏ của
chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản toàn cầu hoá. Cũng là sai lầm khi cho rằng, chủ